MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm tương đối cao, với điều kiện thiên nhiên thuận lợi như vậy nên hệ thực vật Việt Nam phát triển rất phong phú và đa dạng. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 12000 loài thực vật bậc cao, khoảng 600 loài Nấm, 800 loài Rêu và hơn 2000 loài Tảo – đây là nguồn dược liệu quý đầy tiềm năng và dồi dào [9], [14]. Nưa có tên khoa học là Amorphophallus thuộc họ Ráy (Araceae).
Bộ phận có giá trị sử dụng của loài Nưa là củ Nưa, củ Nưa được sử dụng làm thức ăn truyền thống từ lâu đời và làm thuốc chữa bệnh ở Việt Nam. Tuy nhiên, thức ăn từ củ Nưa chỉ được sử dụng làm thức ăn trong phạm vi hẹp ở từng địa phương, chủ yếu ở các dân tộc miền núi. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện trong củ Nưa có chứa nhiều glucomannan và glucomannan ngày càng được ứng dụng rộng rãi như: chất hoạt động bề mặt, tạo màng, làm môi trường nuôi cấy tế bào, đặc biệt trong công nghiệp thực phẩm như mì, đậu hũ, thạch v.Về dược lý, glucomannan còn có tác dụng làm giảm đường huyết, điều trị bệnh tiểu đường, giảm tỷ lệ mỡ trong máu, chống béo phì [7]. Do nguồn lợi kinh tế và nhu cầu sử dụng glucomannan ở trong nước và ngoài nước rất cao, để tổ chức triển khai sản xuất bất kỳ một sản phẩm nông nghiệp hay công nghiệp nào, vấn đề đầu tiên là nguồn nguyên liệu.
Để sản xuất, chế biến chế phẩm glucomannan cần nguyên liệu chính là củ Nưa có hàm lượng glucomannan cao. Loài Nưa được phân bố rộng ở Việt Nam, tuy nhiên Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về việc trồng Nưa và chế biến sản phẩm từ Nưa. Nưa là cây ưa mát, nhiệt độ trung bình thích hợp cho Nưa từ 19 - 25ºC, lượng mưa vào khoảng 800 - 1000 mm/năm, Nưa có thể sống dưới bóng rừng thưa có độ cao 900 m trở lên, điều đó cho phép chúng ta có thể di thực các loài Nưa giàu glucomannan từ một số tỉnh phía Bắc có cùng độ cao so với mặt biển và khí hậu khá tương đồng. 1 Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để tìm kiếm được nguồn nguyên liệu củ Nưa với hàm lượng glucomannan cao, phát triển nguồn nguyên liệu phong phú và bảo tồn các nguồn giống Nưa tự nhiên tại Tây Nguyên, mở rộng quy mô phân bố, phát triển vùng nguyên liệu trồng Nưa, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo dự án TN3 của Chính phủ, đồng thời nghiên cứu phương pháp xác định hàm lượng glucomannan trong củ Nưa, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu xây dựng qui trình xác định hàm lượng glucomannan trong bột Nưa của một số loài thuộc chi Amorphophallus tại Tây Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài - Khảo sát được sự phân bố của loài Nưa di thực tại một số vùng nguyên liệu ở Tây Nguyên; thu mẫu, định danh loài và đánh giá được hàm lượng glucomannan trong các loài Nưa thu được. - Nghiên cứu xây dựng được qui trình xác định hàm lượng glucomannan trong nguyên liệu củ Nưa và trong sản phẩm bột Nưa giàu glucomannan bằng phương pháp so màu sử dụng thuốc thử 3,5-DNS (3,5-dinitro salicylic axit). - Đánh giá được hàm lượng glucomannan trong một số chế phẩm bột Nưa (bột Nưa kỹ thuật, bột Nưa tinh chế). Nội dung nghiên cứu - Lập hồ sơ thu mẫu thực vật của một số loài Nưa tại một số vùng nguyên liệu phổ biến ở Tây Nguyên.
- Xây dựng qui trình xác định hàm lượng glucomannan bằng phương pháp so màu sử dụng thuốc thử 3,5-DNS (3,5-dinitro salicylic axit). - Xác định hàm lượng glucomannan trong một số loài Nưa thu được và một số chế phẩm bột Nưa. Phƣơng pháp nghiên cứu Điều tra và thu mẫu ngoài thực địa - Xử lý và giám định tên thực vật, xác định giá trị làm thuốc. 2 - Sử dụng một số tài liệu như: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2000), Thực vật chí Đông Dương (Flore générale de I’ Indo-chine, H, Lecomle), Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (1997), Cây thuốc và động vật làm thuốc của Viện dược liệu (2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2009),.
Đặc biệt là đối chiếu, so mẫu với bộ tiêu bản chuẩn Việt Nam được lưu giữ ở Bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Xử lý mẫu sơ bộ ngoài thực địa Nghiên cứu phương pháp xử lý mẫu nguyên liệu để xác định loài thực vật và giá trị dược dụng của các loài thu thập. Xử lý mẫu nguyên liệu củ Nưa và bột sản phẩm giàu glucomannan trước khi đưa vào đánh giá hàm lượng Sử dụng các phương pháp thông thường trong hóa học, ngâm chiết, lựa chọn dung môi phù hợp, phương pháp nghiền, khuấy,… Nghiên cứu phương pháp xác định hàm lượng glucomannan trong bột củ Nưa Hàm lượng glucomannan được xác định bằng phương pháp so màu sử dụng thuốc thử 3,5-DNS theo tác giả Melinda Chua và cộng sự năm 2012. Dự kiến kết quả đạt đƣợc - Hồ sơ thu mẫu thực vật của một số loài Nưa tại một số vùng nguyên liệu phổ biến tại Tây Nguyên.
- Qui trình xác định hàm lượng glucomannan bằng phương pháp so màu dùng thuốc thử 3,5-DNS có độ chính xác cao, độ lặp lại tốt áp dụng để phân tích hàm lượng glucomannan trong nguyên liệu củ Nưa và các sản phẩm giàu glucomannan. - Xác định hàm lượng glucomannan trong một số loài Nưa thu được và một số sản phẩm bột Nưa chế biến. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung họ Araceae 1.
Đặc điểm thực vật Theo từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi, Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam và các tài liệu phân loại thực vật, vị trí, phân loại của họ Ráy trong giới thực vật như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Hành (Liliopsida) Phân lớp: Ráy (Aridae) Bộ: Trạch tả (Alismatalus) Họ: Ráy (Araceae) [2], [3], [34]. Tên gọi khác: họ Môn, họ Chân bê. Họ Araceae là họ thực vật một lá mầm. Cây cao 50 - 60 cm, sống lâu năm nhờ thân rễ.
Thân rễ to, cứng chắc, đường kính 3 - 4 cm, mặt ngoài màu nâu đen, tiết diện tròn, có mùi thơm, khi bẻ ngang bên trong màu trắng ngà sau chuyển màu vàng nâu rồi màu nâu sẫm, có nhiều xơ lởm chởm [2], [34]. Lá đơn, mọc từ thân rễ, xếp so le. Phiến lá hình đầu tên, ngọn lá có đuôi, dài 22 - 26 cm, rộng 20 - 24 cm, nhẵn ở cả hai mặt, mặt trên màu xanh lục sẫm hoặc đôi khi vàng xanh, mặt dưới màu nhạt hơn; bìa lá nguyên, hơi gợn sóng. Gân lá hình lông chim, có một đôi gân gốc và năm, sáu đôi gân bên nổi rõ ở mặt dưới; mỗi bên gân gốc gồm ba gân hợp vào nhau; gân gốc và gân bên đều cong hướng về ngọn lá.
Cuống lá dài 35 - 55 cm, xốp, màu xanh lục hơi nâu, hơi lõm ở mặt trên, phần phía gốc cuống lõm sâu ở mặt trên thành hình lòng máng tạo thành hai cánh mỏng ở hai bên mép; gốc cuống màu hồng nhạt và nở rộng ôm vào nhau [2], [34].1: Hình vẽ mô tả của Hình 1.2: Lá của họ Araceae họ Araceae Hình 1.3: Hoa của họ Araceae Hình 1.4: Củ của họ Araceae Hoa của họ Araceae được sinh ra theo một kiểu cụm hoa được gọi là bông mo. Các bông mo thông thường được kèm theo (đôi khi được che phủ một phần) một mo hay áo trùm tương tự như lá [17]. Cụm hoa ở nách lá gồm tám bông mo chia thành hai cụm nhỏ, lúc non có hình thoi, được mang bởi một cuống dài 7 - 10 cm; dưới gốc mỗi bông mo có một phiến mỏng hình bầu dục 5 thuôn dài, đầu nhọn, dài 6 cm, ngang 1 cm, mặt ngoài có hai nếp gấp dọc nổi rõ, màu hồng nhạt phía gốc và đậm về phía ngọn; cuống bông mo hơi xốp, mặt ngoài láng; phía gốc màu hồng nhạt, phía ngọn màu xanh lục. Mo lúc đầu bọc kín bông nhưng sau đó mở ra bằng một đường dọc nên có dạng thuyền, dài 4 - 5 cm, màu xanh lục, mặt ngoài láng, phần gốc phớt hồng.
Bông có nhiều chất dính, dài khoảng 35 - 42 mm, đoạn 2 mm ở gốc không mang hoa, đoạn mang hoa có đường kính 7 mm ở gốc và thuôn nhọn về phía ngọn. Hoa đực trần, xếp khít vào nhau; nhị hoa dính ở bao phấn thành một khối hình đa giác, màu trắng, khi già chuyển vàng rồi đen; chỉ nhị rất ngắn, gần như không có; bao phấn hai ô, xếp song song, hướng ra ngoài, nứt dọc, đính gốc; hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình gần tròn hay hình bầu dục, có rãnh ở giữa, đường kính 12,5 - 17,5 µm. Hoa cái trần, ở gốc mỗi hoa cái có nhị lép dài khoảng 2/3 hoa, màu trắng đục, dạng khối nhỏ, hẹp bên dưới, nở rộng bên trên. Bầu noãn hình trụ, màu trắng, dài 2 mm, rộng 1 mm, nhẵn, noãn thuôn dài, màu trắng; vòi nhụy rất ngắn, màu xanh lục nhạt; đầu nhụy hình dĩa, không loe rộng, màu nâu nhạt.
Trong số các loài thuộc họ Ráy có hoa đơn tính cùng gốc thì bông mo thường xuất hiện dưới dạng các hoa cái ở phần đáy còn các hoa đực ở phần đỉnh của bông mo [2], [18], [34]. Phân loại và phân bố 1. Phân bố họ Araceae trên thế giới Họ Araceae có 107 chi và 3700 loài [3], [5], [6], [8]. Từ năm 1995 đến năm 2009 họ Araceae đã có tới 38 loài mới được phát hiện ở Đông Dương trong đó: Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào có 12 loài: Aglaonema brevispathum (Engl.Br Alocasia nevicularis (K.Bouché Amorphophallus croatii Hett.Galloway Amorphophallus gallowayi Hett 6 Amorphophallus laoticus Hett Amorphophallus myosuroides Hett.Galloway Amorphophallus ongsakulii Hett.Galloway Amorphophallus ravenii V.Nguyen & Hett Amorphophallus chimidtiae Hett.Galloway Amorphophallus yunnanensis Engl.et Gehrm Typhonium croatii V.
Vương quốc Cam – pu – chia có 2 loài: Aglaonema costatum N.Br Alocasia jiewhoei V. Cộng hòa Nhân dân Trung hoa có 15 loài: Amorphophallus coaetaneus S.Wei Amorphophallus krausei Engl.et Gehrm Amorphophallus yunnanensis Engl.et Gehrm Amydrium hainanense (C.Li Amydrium sinense (Engl.Li Arisaema decipiens Schott Arisaema franchetianum Engl Arisaema pingbianense H.Li Arisaema rhizomatum C.Fisch Colocasia lihengiae C.Liu Colocasia menglaensis J.Xu Hapaline ellipticifolia C.Li Steudnera colocasiifolia C.Koch Typhonium horsfieldii (Miq.) Steen Typhonium rhizomatosum Hett [6]. Vương quốc Thái Lan có 6 loài: 7 Aglaonema brevispathum (Engl.) Engl Aglaonema costatum N.Br Amorphophallus corrugatus N.Brown Amorphophallus tenuistylis Hett Amorphophallus yunnanensis Engl. et Gehrm Arisaema omkoiense Gusman Typhonium rhizomatosum Hett.
Cộng hòa Liên bang Myanmar có 2 loài: Amorphophallus corrugates N.Brown Amorphophallus krausei Engl. In – đô – nê – xi – a có 1 loài: Arisaema ramulosum Alderw [6].