Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Giới thiệu về vật liệu nền 1. Thép C45 Thép C45 (TCVN 1766–75, tiêu chuẩn JIS G 4051 là S45C, ASTM A36 Grades C) là loại thép cacbon trung bình có thành phần hóa học như ở bảng 1. Thuộc nhóm thép hóa tốt do có chế độ tôi, ram cao thường được sử dụng phổ biến trong chế tạo các chi tiết máy như trục, bánh răng, bạc. Để đồng nhất tên gọi vật liệu nền theo tiêu chuẩn JIS (tiêu chuẩn của Nhật), thép C45 được thay thế bằng tên thép S45C.1: Thành phần hóa học của thép S45C [1] Thành Si P S Cr Mo Ni Cr+Mo+Ni C Mn phần max max max max max max max 0,42 0,5 Tỉ lệ – 0,4 – 0,045 0,045 0,4 0,1 0,4 0,63 (%) 0,5 0,8 Bảng 1.2: Cơ tính của thép S45C [1] Cơ tính Vật liệu Độ bền kéo (MPa) Giới hạn chảy (MPa) S45C (JIS G 4051) 686 490 1.
Thép SKD61 Thép SKD61 (JIS G 4404:2006 theo tiêu chuẩn Nhật, ASTM A681 Grades H13 theo tiêu chuẩn Mỹ) là thép hợp kim trung bình. Thành phần hóa học của thép SKD61 được trình bày trong bảng 1.3: Thành phần hóa học SKD61 [2] Thành phần C Si Mn P S Cr Mo V 0,32 0,8 0,2 4,75 1,1 0,8 Tỉ lệ – – – 0,03 0,03 – – – (%) 0,45 1,25 0,6 5,5 1,75 1,2 5 Bảng 1.4: Cơ tính của thép SKD61 [2] Vật liệu Cơ tính Độ bền kéo (MPa) Giới hạn chảy (MPa) SKD61 (JIS G4404:1983) 1158 1034 - Sau khi xử lý nhiệt, thép SKD61 có thể đạt được: + Độ cứng sau ủ ở nhiệt độ 750 – 800oC: 230 HB; + Độ cứng sau tôi ở nhiệt độ 1020 – 1050oC và làm nguội trong không khí hoặc dầu ở 500 – 550oC có thể đạt độ cứng đến 54 HRC, ứng suất: 1910 N/mm2; + Độ cứng sau ram ở nhiệt độ 150oC – 200oC đạt 53 HRC, ứng suất: 1850 N/mm2; + Độ cứng sau ram ở nhiệt độ 500oC – 550oC đạt 56 HRC, ứng suất: 2050N/mm2. - Thép SKD61 thường được ứng dụng để làm khuôn dập nóng, ngoài ra cũng có thể được sử dụng để chế tạo các khuôn đúc áp lực, đầu đùn kim loại cho các kim loại nhẹ, khuôn rèn dập, xylanh ngành nhựa, lõi đẩy, đầu lò, dao cắt nóng,… [3]. - Về tính hàn thì thép SKD61 có tính hàn không tốt như các loại thép cacbon thấp và trung bình.
Do vậy, khi hàn cần chú ý: + Gia nhiệt cao trước khi hàn cũng như làm nguội rất chậm sau hàn; + Kim loại mối hàn rất khó đạt được các đặc tính như kim loại nền. Vùng kim loại hàn sẽ có độ cứng thấp hơn [4]. Phân tích sự tương đồng của hai vật liệu nền S45C và SKD61 được phân tích ở phụ lục IV. Thực trạng hàn nối hai vật khác nhau ở Việt Nam Mối hàn của các kim loại khác nhau hình thành nên bởi sự tương hợp luyện kim, được xác định bởi sự hòa tan lẫn nhau của các kim loại hàn ở trạng thái lỏng và rắn, và bởi sự hình thành các hợp kim hóa học giòn.
Khi hàn bằng phương pháp nóng chảy các kim loại khác nhau luôn gặp phải khó khăn bởi chúng không hoàn tan lẫn nhau ở trạng thái rắn, chẳng hạn như: sắt và mangan, chì sạch và đồng, sắt và chì,… Trong quá trình nung chảy các cặp kim loại như vậy, các lớp kim loại không hòa trộn 6 với nhau có thể dễ dàng tách ra khi kết tinh. Các mối hàn của các kim loại và hợp kim mà các thành phần (các nguyên tố) của chúng có thể hợp thành hòa tan lẫn nhau dễ dàng không hạn chế ở các trạng thái lỏng và rắn, nghĩa là tạo một loạt các dung dịch rắn liên tục, thì mối hàn dễ hình thành hơn [5]. Nhu cầu hàn nhôm hoặc hợp kim nhôm với thép có nhu cầu rất lớn trong việc chế tạo các chi tiết trong các quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp, gia dụng như: phương tiện bay, bể chứa trong công nghiệp hóa học, trong công nghiệp đóng tàu, lò phản ứng, kỹ thuật kiến trúc, trong điện phân nhôm,… Để hàn nóng chảy nhôm với thép, hai phương pháp công nghệ sau đây được áp dụng [5]: - Hàn hồ quang argon sử dụng điện cực không nóng chảy (hàn tay hoặc tự động), cần phủ lớp Niken – Crôm lên thép. Hàn hồ quang argon cặp vật liệu này thích hợp với chiều dày tới 8 mm, tốc độ hàn 18 – 25 m/h.
Hồ quang được di chuyển chính xác dọc theo cạnh bản nhôm với khoảng cách 1 – 2 mm từ trục mối hàn. Góc vát bắt buộc của bản thép là 70o (với chiều dày lớn hơn 3 – 4 mm, góc vát nhỏ hơn) [5]. - Hàn tự động trực tiếp với điện cực nóng chảy trên lớp thuốc AN – A1 chứa trong thành phần các muối của các kim loại khác (bitmut và clorua với khối lượng 4 – 7%). Trong trường hợp sau, độ bền của mối ghép hàn đạt tới 130 – 150 MPa đối với sự kết hợp của thép 12Cr18Ni10Ti và hợp kim AlMn5V [5].
Hàn đồng và các hợp kim đồng với thép được ứng dụng nhiều trong sản xuất các thiết bị chân không, vòi phun, ống gió, lò cao, lò chuyển, khuôn đúc, thiết bị hóa học, các kết cấu tàu thủy,… Để hàn đồng và hợp kim đồng với thép có thể sử dụng phương pháp hàn ma sát, hàn điện trở, hàn nổ, hàn khuếch tán, hàn nóng chảy [5]. Việc hàn thép cacbon S45C với thép SKD61 gần đây có nhu cầu khá lớn, được ứng dụng nhiều trong việc thay thế các thành phần không quan trọng trong khuôn đúc áp lực, khuôn rèn dập; phần cán của đầu đùn kim loại, đầu lò, dao cắt nóng; dụng cụ cắt, trục vít ép củi trấu [6]. Do thép SKD61 mới xuất hiện trên thị trường Việt Nam trong thời gian gần đây nên việc ứng dụng thép SKD61 trong gia công cơ khí, chế tạo bằng phương pháp hàn còn là vấn đề khá mới mẻ. Do là mác thép mới nên trong các sổ tay chế độ cắt, chế độ hàn còn chưa có thông tin liên quan nên việc áp dụng 7 trong thực tế mang tính kinh nghiệm, chưa được nghiên cứu khảo sát.
Chủ yếu công việc hàn nối thép SKD61 và thép cacbon được thực hiện theo quy trình sau [6]: - Chuẩn bị chi tiết hàn; - Hàn ghép nối ở vị trí 1G với chế độ hàn được cho ở bảng 1.5: Chế độ hàn nối (SKD61) [6] Lớp Chân Đắp Phủ Tiêu chuẩn áp dụng AWS D1.1 Phương pháp hàn SMAW Vị trí hàn 1G Que hàn (Kobelco LB–7018–1 2,6 mm 3,2 mm (A5.1 E7018–1) Cực tính DC+ Cường độ dòng điện 70 – 90 A 90 – 110 A - Mài sửa mối hàn; Hình 1.1: Trục vít sau khi được mài hoàn chỉnh [6] - Kiểm tra mối hàn. Qua các phân tích trên, ở Việt Nam hiện nay việc hàn nối hai vật liệu thép S45C – SKD61 đã và đang diễn ra trong thực tế nhưng chủ yếu được thực hiện đơn chiếc với các sản phẩm không yêu cao về chất lượng mối ghép hàn (độ bền kéo). Chi tiết sau khi hàn không được kiểm tra đánh giá chất lượng mối hàn nên chưa thể đánh giá nhận xét về quy trình hàn. Quy trình hàn, chế độ hàn phù hợp cho mối ghép hàn S45C – SKD61 chưa được nghiên cứu và đề xuất.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Nghiên cứu trong nước 8 Trần Đình Toại với đề tài “Nghiên cứu công nghệ hàn liên kết nhôm – thép bằng quá trình hàn TIG” (2014) đã nghiên cứu hàn ghép nối hai vật liệu nhôm AA1100 với thép CCT38 [7]. Mối hàn ở dạng liên kết chữ T tấm dày, hàn cả hai phía, không mạ, không sử dụng thuốc hàn hay vật liệu trung gian bằng quá trình hàn TIG ở phạm vi phòng thí nghiệm. Các kết quả nghiên cứu mới mà luận án đã đạt được bao gồm: - Đã làm rõ được bản chất và cơ chế hình thành liên kết hàn hybrid nhôm – thép; - Tìm ra được góc nghiêng mỏ hàn Ay = 20o là phù hợp nhất đối với liên kết hàn hybrid nhôm – thép dạng chữ T; - Đã tìm ra được dạng chuẩn bị mép hàn thích hợp đối với liên kết hybrid nhôm – thép dạng chữ T để bảo đảm khả năng điền đầy kim loại lỏng vào rãnh hàn.
Nguyễn Trung Dũng với đề tài “Nghiên cứu đề xuất quy trình hàn thép Cacbon và thép không gỉ sử dụng phương pháp hàn TIG” (2016) đã đạt được các kết quả [8]: - Đã đưa ra được quy trình hàn thép cacbon và thép không gỉ sử dụng phương pháp hàn TIG; - Mối ghép hàn là mối ghép V đơn, với chiều dày mẫu là 10 mm (kích thước mẫu theo tiêu chuẩn AWS D1.6), sử dụng que hàn phụ AWS ER309L đường kính que là 2,4 mm (hãng sản xuất: Kobelco). Nguyễn Hoài Nam với luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu kim loại phụ và công nghệ hàn để hàn vảy nhôm với đồng” (2014) đã triển khai nghiên cứu và đi đến kết luận có thể thực hiện kết dính giữa thanh đồng và thanh nhôm với nhau bằng phương pháp hàn vẩy sử dụng công nghệ hàn MIG [9]. Các kết quả nghiên cứu ngoài nước B. Miranda, trong nghiên cứu “New Welding Procedures For Repairing H13 and P20 Tool Steels” [4] đã khảo sát mối hàn với thép công cụ H13 (SKD61) cho kết quả là vùng ảnh hưởng nhiệt có độ cứng thấp hơn độ cứng của kim loại cơ bản.
Và để có độ cứng đồng nhất trong mối hàn cần một quá trình xử lý nhiệt (ủ) sau quá trình làm nguội mối hàn. Để tránh sốc nhiệt và hạn chế 9 thay đổi cấu trúc vật liệu vật liệu cần phải được gia nhiệt trước khi hàn (khoảng 250oC, trong suốt 2 giờ). Sau khi hàn phải xử lý nhiệt ở nhiệt độ khoảng 600 – 650oC trong khoảng thời gian 2 giờ. Nhóm tác giả Vikas Chauhan và Dr.
Jadoun thuộc trường Đại học Nông nghiệp và Công nghệ Pant (Pantnagar, Ấn Độ) trong tài liệu [10] đã nghiên cứu về “Tối ưu hóa tham số của hàn MIG cho thép không gỉ SS–304 và thép cacbon thấp sử dụng phương pháp Taguchi”. Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã xác định thành công ảnh hưởng của các thông số hàn (dòng điện, điện áp và tốc độ hàn) đến độ bền kéo của mối hàn bằng phương pháp Taguchi. Trong đó, hai thông số ảnh hưởng nhiều nhất đến độ bền kéo là điện áp và tốc độ hàn. Ảnh hưởng đến độ bền kéo của các thông số đầu vào được xếp hạng theo thứ tự giảm dần như: điện áp, tốc độ hàn và cường độ dòng điện.
Argon được xem là khí bảo vệ hiệu quả, ít văng bắn trong quá trình hàn nhất. Một nghiên cứu khác của các tác giả Pawan Kumar, Dr.