Tổng quan luận án

Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa môi trường nước ngọt và nước mặn, phân bố chủ yếu ở đới nhiệt đới và cận nhiệt đới trong khoảng vĩ độ từ 25° Bắc đến 25° Nam. Hệ sinh thái này giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, hạn chế tác động của sóng gió, chống xói mòn, bảo vệ hệ thống đê điều ven biển, xử lý chất thải từ lục địa và cung cấp sinh cảnh cho nhiều loài thủy sản, chim nước. Theo công bố của Tổ chức Liên minh Rừng ngập mặn thế giới (2021), diện tích RNM toàn cầu đã giảm từ 136.925 km² (năm 2010) xuống còn 135.883 km² (năm 2016). Tại Việt Nam, diện tích RNM năm 1943 đạt trên 408.000 ha nhưng đến năm 2000 chỉ còn 155.290 ha do ảnh hưởng của chiến tranh, sức ép dân số và phát triển kinh tế. Dù có các chương trình phục hồi, đến năm 2016 diện tích RNM cả nước đạt khoảng 179.000 ha.

Tỉnh Nghệ An có 82 km đường bờ biển và 6 cửa sông lớn (sông Hoàng Mai, sông Hầu, sông Thơi tại huyện Quỳnh Lưu; sông Bùng tại huyện Diễn Châu; sông Cấm tại huyện Nghi Lộc; sông Lam tại Thành phố Vinh). Rừng ngập mặn Nghệ An có diện tích 344,8 ha thuộc tiểu khu 6 khu vực III. Diện tích RNM trồng mới từ năm 1984 đạt 1.106 ha, nhưng đến năm 2015 chỉ còn lại 412,6 ha. Tỷ lệ suy giảm cao xuất phát từ các nguyên nhân: thiếu quy hoạch chi tiết dẫn đến chồng chéo trong quản lý đất đai giữa các ngành; chuyển đổi đất ngập mặn sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, đất ở và xây dựng hạ tầng; khai thác tự do; hoạt động trồng rừng mang tính tự phát, thiếu cơ sở khoa học về chọn giống, kỹ thuật gieo ươm, trồng và chăm sóc khiến cây bị sâu bệnh, chết hoặc bị sóng cuốn trôi.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu hụt hệ thống tiêu chí điều kiện tự nhiên và cơ sở khoa học đồng bộ để phân vùng, lựa chọn loài cây và bố trí không gian phục vụ quy hoạch, phục hồi và phát triển bền vững RNM vùng ven biển tỉnh Nghệ An.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác lập cơ sở khoa học nhằm phát triển rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Nghệ An trên cơ sở đánh giá các nhân tố sinh thái tự nhiên.
  • Nội dung nghiên cứu cụ thể:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cho việc xác lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phát triển RNM ở tỉnh Nghệ An.
    2. Điều tra, đánh giá hiện trạng RNM tỉnh Nghệ An.
    3. Đánh giá các nhân tố sinh thái phục vụ quy hoạch phát triển RNM tỉnh Nghệ An.
    4. Định hướng không gian phát triển RNM tỉnh Nghệ An.
    5. Đề xuất giải pháp phát triển RNM tỉnh Nghệ An.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 4 nhân tố sinh thái tự nhiên (độ mặn của nước, thành phần cấp hạt của đất, độ sâu ngập triều, hiện trạng sử dụng đất) và mức độ thích hợp đất đai đối với 6 loài thực vật ngập mặn (TVNM): Mắm quắn (Avicennia lanata), Đước vòi (Rhizophora stylosa), Trang (Kandelia candel), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Bần chua (Sonneratia caseolaris), Sú (Aegiceras corniculatum).
  • Phạm vi không gian: Vùng ven biển tỉnh Nghệ An được xác định từ đường đẳng sâu 2 m về phía biển vào đất liền hết ranh giới hành chính của 38 xã, phường, thị trấn giáp biển thuộc 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, huyện Diễn Châu, huyện Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về RNM trên thế giới và ở Việt Nam theo các nhóm nội dung chính:

Nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới

  • Thành phần loài: Các công bố giai đoạn 1974–1984 xác định số lượng loài TVNM dao động tùy tiêu chí phân loại: Lugo & Snedaker (1974) ghi nhận 75 loài (32 chi, 23 họ); Seanger et al. (1983) ghi nhận 60 loài (22 chi, 16 họ); Cintron & Schaeffer-Novelli (1983) ghi nhận 56 loài; Chapman (1970)/Walsh (1974) ghi nhận 55 loài; Chapman (1974) và Blasco (1984) cùng ghi nhận 53 loài. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm đa dạng sinh học RNM với 42 loài (Tomlinson, 1986), sau đó tăng lên 45 loài (Chan et al., 2009; Spalding, 2010).
  • Diện tích và phân bố: Thống kê diện tích toàn cầu qua các thời kỳ gồm FAO & UNEP (1981) với 15,67 triệu ha trên 51 quốc gia; Saenger et al. (1983) với 16,80 triệu ha trên 65 quốc gia; Spalding et al. (1997) với 18,07 triệu ha trên 112 quốc gia; Aizpuru et al. (2000) với 17,00 triệu ha. Spalding et al. (2010) công bố diện tích RNM thế giới là 152.752 km² phân bố ở 10 khu vực (Đông Nam Á chiếm 33,4%). Tổ chức Liên minh Rừng ngập mặn thế giới (2021) xác định diện tích còn 135.883 km² vào năm 2016, suy giảm bình quân 121,5 km²/năm giai đoạn 1966–2016.
  • Nhân tố sinh thái: Nhiệt độ không khí trung bình năm 26–27°C là tối ưu cho sinh trưởng RNM (Saenger, 1983; Hutchings et al., 1987). Khi nhiệt độ nước biển dưới 16°C không xuất hiện RNM; từ 16–18°C có rừng Mắm; 18–20°C có rừng Trang; trên 20°C xuất hiện rừng Đước. Về độ mặn, Aksomkoae (1993) chỉ ra TVNM sinh trưởng tốt ở 10–30‰; Ball (1995) xác định Avicennia marina quang hợp và tăng trưởng tốt ở 25‰. Thủy triều và thể nền (Chan, 1993; Hou) quyết định sự phân tầng loài: vùng ngập triều thấp dạng bùn loãng thích hợp cho Mắm trắng, Bần trắng; vùng ngập trung bình dạng bùn chặt thích hợp cho Vẹt dù, Đước đôi; vùng ngập cao dạng sét cứng thích hợp cho Giá, Xu ổi, Bần chua.
  • Kỹ thuật gây trồng: Watson (1928), Siddiqi et al. (1993), Saenger (1996), Field (1996), Ravishankar et al. đã nghiên cứu mật độ, thời vụ và khẳng định cây giống trên 12 tháng tuổi thường có tỷ lệ sống thấp.

Nghiên cứu về rừng ngập mặn tại Việt Nam

  • Thành phần loài và phân bố: Lê Công Khanh (1986) phân loại 57 loài TVNM thành 3 nhóm theo độ mặn; Phan Nguyên Hồng (1999) xác định 78 loài (37 loài thực thụ và 42 loài gia nhập); Đỗ Đình Sâm và cs. (2005) công bố 37 loài thực thụ; Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) phân chia số loài theo 5 vùng (vùng Đông Bắc: 52 loài; Đồng bằng sông Hồng: 49 loài; Trung Bộ: 63 loài; Bà Rịa - Vũng Tàu và Cần Giờ: 97 loài; Đồng bằng sông Cửu Long: 98 loài). Hoàng Văn Thơi (2013) ghi nhận 33 loài tại Côn Đảo; Đặng Văn Sơn (2014) ghi nhận 112 loài tại Cần Giờ; Trần Thị Tú và Nguyễn Hữu Đồng (2014) ghi nhận 22 loài tại Hà Tĩnh; Phạm Ngọc Dũng (2015) xác định 42 loài tại Thừa Thiên Huế; Nguyễn Văn Thảo (2015) ghi nhận 30 loài tại Quảng Ninh.
  • Phân vùng: Phan Nguyên Hồng (1999) phân chia bờ biển Việt Nam thành 4 khu vực và 12 tiểu khu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018), diện tích RNM toàn quốc năm 2017 là 145.429 ha (Bắc Trung Bộ chiếm 2.069 ha, trong đó Nghệ An có 341 ha, chiếm 0,23%).
  • Nhân tố sinh thái và lập địa: Nguyễn Ngọc Bình (1996, 1999) phân loại 5 dạng đất ngập mặn và xác định biên độ triều thích hợp 2–4 m, thời gian ngập triều 3–4 giờ/ngày giúp cây sinh trưởng tốt. Đỗ Đình Sâm và cs. (2005) phân loại 3 cấp ngập triều và 4 cấp độ thành thục của đất (bùn loãng, bùn chặt, sét mềm, sét cứng). Ngô Đình Quế và Ngô An (2001) xây dựng tiêu chuẩn phân chia lập địa tỷ lệ 1/10.000.
  • Kỹ thuật trồng RNM: Nguyễn Ngọc Bình (1999), Đặng Công Bửu và Võ Ngươn Thảo (2011), Sở KH&CN Hải Phòng (2006), Trịnh Văn Hạnh (2011), Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2011), Hoàng Văn Thơi và Phạm Trọng Thịnh (2012) đề xuất kỹ thuật vườn ươm, cải tạo hố trồng trên bãi cát di động và giải pháp công trình giảm sóng.
  • Nghiên cứu tại Nghệ An: Các nghiên cứu trước đây gồm dự án của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản (1998); Phạm Hồng Ban (2000) tại Hưng Hòa - Vinh; Suma (2001); Sở Khoa học - Công nghệ Nghệ An (2002–2004); đề tài SEMLA do Võ Văn Hồng chủ nhiệm (2008–2009); dự án CRSD của Nguyễn Hồng Quảng (2014); Võ Trọng Hoàng và cs. về rủi ro môi trường.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các nghiên cứu tại Nghệ An trước đây còn phân tán, chủ yếu là điều tra mô tả hoặc mang tính phong trào. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện đặc điểm điều kiện sinh thái tự nhiên vùng ngập mặn theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO kết hợp phân tích thứ bậc AHP và công nghệ GIS để phân hạng thích hợp cho từng loài cây ngập mặn, làm luận cứ khoa học phân bổ không gian phát triển RNM chi tiết theo từng đơn vị hành chính cấp xã, huyện tại tỉnh Nghệ An.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm cơ sở: Vùng ven biển (theo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định 40/2016/NĐ-CP; World Bank; Nguyễn Chu Hồi & Bùi Thị Thu Hiền, 2013); Thủy triều; Rừng ngập mặn và Thực vật ngập mặn (FAO, 1994; Adger et al., 1997); Đất đai và Đơn vị đất đai - LMU (FAO, 1976, 1993b); Đánh giá thích hợp đất đai - Land Evaluation (FAO, 1976); Quy hoạch (Peter Hall; Luật Quy hoạch 2017; Nguyễn Bá Ân).
  • Quan điểm nghiên cứu: Luận án vận dụng 4 quan điểm gồm quan điểm tổng hợp, quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử viễn cảnh và quan điểm phát triển bền vững.
  • Cách tiếp cận: Tiếp cận theo phương pháp đánh giá thích hợp đất đai của FAO (1976), kết hợp công cụ GIS để đánh giá mức độ thích hợp của các nhân tố sinh thái đối với TVNM theo các đơn vị đất đai (LMU), sau đó tổng hợp số liệu diện tích theo đơn vị hành chính nhằm phục vụ thực hiện Nghị định 119/2016/NĐ-CP và Quyết định 608/QĐ-BNN-TCLN.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu: Kế thừa các báo cáo quy hoạch, số liệu khí tượng thủy văn, bản đồ, ảnh viễn thám và dữ liệu hiện trạng RNM tỉnh Nghệ An.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực địa: Tác giả thực hiện 4 đợt khảo sát thực địa chính trên toàn tuyến ven biển Nghệ An:
    • Đợt 1 (10/12/2018 – 16/12/2018): Điều tra thành phần loài, phân bố, mật độ và độ che phủ TVNM từ TX Hoàng Mai đến TP Vinh.
    • Đợt 2 (13/01/2018 – 17/01/2018 và 10/07/2018 – 15/07/2018): Thu thập 29 mẫu trầm tích và 16 mẫu nước đại diện cho 2 mùa (mưa và khô).
    • Đợt 3 (26/04/2019 – 31/04/2019): Khảo sát và đo độ sâu ngập triều.
    • Đợt 4 (17/07/2019 – 19/07/2019): Kiểm tra kết quả khoanh vẽ hiện trạng RNM và đất trống ngập mặn.
    • Kỹ thuật đo đạc dã ngoại: Đo độ mặn nước bằng khúc xạ kế ATAGO S-28 (Nhật Bản); đo độ sâu ngập triều bằng cột đo 3 m quét thuốc nhuộm đỏ kết hợp theo dõi lịch thủy triều.
  3. Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn: Thiết lập 17 ô tiêu chuẩn (OTC) kích thước 20 m x 10 m (200 m²/ô) ngẫu nhiên theo phương pháp của Roeland Kindt & Richard Coe (2005) và Hoàng Chung (2009) dọc theo 6 tuyến sông (sông Cờn/Hoàng Mai, sông Quèn, sông Thơi, sông Lạch Vạn, sông Cấm, sông Lam). Định loại mẫu thực vật theo tài liệu của Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Tiến Bân, Nguyễn Nghĩa Thìn và Klein R.
  4. Phương pháp thực nghiệm phân tích môi trường:
    • Phân tích mẫu nước: 32 mẫu (16 vị trí x 2 mùa) phân tích các chỉ tiêu N-NO2 (SMEWW 4500-NO2-B), N-NO3 (SMEWW 4500-NO3-E), N-NH4 (phương pháp OPP), T-N (SMEWW-4500-N C), P-PO4 (SMEWW 4500-P E).
    • Phân tích mẫu đất: 58 mẫu (29 điểm lấy bằng khoan bậc thang của Mỹ ở độ sâu 60 cm x 2 mùa, khối lượng 1,5 kg/mẫu) phân tích pH, Photpho hữu hiệu (Oniani - TCVN 8559:2012), Nitơ hữu hiệu (TCVN 5455:2009), Photpho tổng số (TCVN 8940:2011), Nitơ tổng số (TCVN 6498:1999), Kali hữu hiệu (TCVN 8662:2011), hàm lượng mùn mất khi nung LOI và thành phần cơ giới (TCVN 8567:2010) tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
  5. Phương pháp Bản đồ và Hệ thống thông tin địa lý (GIS): Sử dụng phần mềm ArcGIS 10.2 thực hiện 4 bước: xây dựng 4 lớp bản đồ chuyên đề (độ mặn nước, thành phần cơ giới, độ sâu ngập triều, hiện trạng sử dụng đất); chuẩn hóa dữ liệu; chồng xếp thành lập bản đồ 18 đơn vị đất đai; biên tập bản đồ đánh giá thích hợp đất đai và bản đồ định hướng không gian phát triển RNM.
  6. Phương pháp đánh giá thích hợp đất đai (FAO) và Phân tích thứ bậc (AHP):
    • Tính điểm tổng hợp từng đơn vị đất đai theo công thức: $$M_0 = \frac{1}{n} \sum_{i=1}^{n} k_i d_i$$ (Trong đó: $M_0$ là điểm đánh giá tổng hợp; $d_i$ là điểm đánh giá yếu tố thứ $i$; $n$ là số tiêu chí; $k_i$ là trọng số tầm quan trọng của yếu tố thứ $i$).
    • Phân hạng theo 4 mức thích hợp: Rất thích hợp ($S_1$), Thích hợp trung bình ($S_2$), Ít thích hợp ($S_3$), Không thích hợp ($N$).
    • Trọng số $k_i$ được xác định thông qua phương pháp AHP (Saaty, 1980) dựa trên tham vấn ý kiến của 6 chuyên gia, tính toán ma trận so sánh cặp qua công cụ trực tuyến EAHP và kiểm tra tỷ số nhất quán $CR < 10%$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần loài, diện tích, đặc điểm phân bố và các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến RNM (nhiệt độ, độ mặn, thủy triều, thể nền) cũng như kỹ thuật gieo ươm, gây trồng RNM. Chương này phân tích các công trình nghiên cứu đã thực hiện tại vùng ven biển Nghệ An, chỉ ra những tồn tại trong công tác phục hồi RNM giai đoạn 1984–2015, từ đó khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phát triển RNM tỉnh Nghệ An.

Chương 2: Đánh giá tổng hợp điều kiện sinh thái tự nhiên phục vụ phát triển rừng ngập mặn tỉnh Nghệ An

Chương 2 trình bày kết quả điều tra, đo đạc và phân tích thực nghiệm về điều kiện sinh thái vùng ven biển Nghệ An:

  • Đánh giá hiện trạng RNM: phân bố manh mún dọc 6 cửa sông lớn với diện tích 344,8 ha thuộc 38 xã.
  • Kết quả khảo sát thực địa từ 17 ô tiêu chuẩn, phân tích 32 mẫu nước và 58 mẫu đất tại 29 vị trí.
  • Xây dựng 4 bản đồ đơn vị chuyên đề (độ sâu ngập triều, độ mặn nước biển, thành phần cấp hạt/độ thành thục của đất, hiện trạng sử dụng đất).
  • Chồng xếp lớp dữ liệu bằng ArcGIS 10.2, xác lập 18 loại đơn vị đất đai (LMU) với tổng diện tích 715,88 ha.
  • Đánh giá mức độ thích hợp sinh thái (theo 4 cấp $S_1, S_2, S_3, N$) cho 6 loài TVNM: Mắm quắn, Đước vòi, Trang, Vẹt dù, Bần chua, Sú trên 18 đơn vị đất đai dựa trên trọng số AHP đã qua kiểm định tỷ số nhất quán $CR$.

Chương 3: Định hướng quy hoạch và giải pháp phát triển rừng ngập mặn tỉnh Nghệ An

Chương 3 xây dựng định hướng không gian và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý phát triển RNM:

  • Đề xuất không gian phát triển RNM trên 18 đơn vị đất đai với tổng diện tích trồng mới là 340,71 ha, phân bổ cụ thể theo địa bàn hành chính:
    • Thị xã Hoàng Mai: 40,09 ha.
    • Huyện Quỳnh Lưu: 123,21 ha.
    • Huyện Diễn Châu: 30,21 ha.
    • Huyện Nghi Lộc: 110,06 ha.
    • Thành phố Vinh: 34,14 ha.
  • Bố trí cơ cấu 6 loài cây ngập mặn phù hợp với từng đơn vị đất đai theo kết quả đánh giá thích hợp tự nhiên.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp căn bản bao gồm: giải pháp quy hoạch không gian gắn với Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2030 (Quyết định 197/2021/QĐ-TTg); giải pháp kỹ thuật gieo ươm, chọn giống, trồng và chăm sóc phù hợp với chế độ ngập triều và thể nền; giải pháp quản lý đất đai liên ngành; giải pháp sinh kế kết hợp nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Đơn vị hành chính Diện tích đề xuất trồng mới (ha)
Huyện Quỳnh Lưu 123,21
Huyện Nghi Lộc 110,06
Thị xã Hoàng Mai 40,09
Thành phố Vinh 34,14
Huyện Diễn Châu 30,21
Tổng cộng 340,71

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Đóng góp về mặt phương pháp và đánh giá thích hợp sinh thái: Lần đầu tiên áp dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO (1976) kết hợp phân tích thứ bậc AHP và công nghệ GIS vào đối tượng thực vật ngập mặn tại vùng ven biển tỉnh Nghệ An; đánh giá cụ thể mức độ thích hợp về các nhân tố sinh thái tự nhiên đối với 6 loài TVNM (Mắm quắn, Đước vòi, Trang, Bần chua, Vẹt dù, Sú) trên 18 đơn vị đất đai với tổng diện tích 715,88 ha.
  2. Đóng góp về mặt quy hoạch thực tiễn: Đề xuất định hướng không gian phát triển rừng ngập mặn với bản đồ phân bố rõ ràng, xác định tổng diện tích trồng mới 340,71 ha phân bổ chi tiết cho 5 huyện, thị xã, thành phố ven biển của tỉnh Nghệ An.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tích hợp kết quả định hướng không gian phát triển RNM vào quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021–2030.
  • Áp dụng các tiêu chí sinh thái tự nhiên (độ mặn, thành phần cấp hạt, độ sâu ngập triều, hiện trạng đất) trong việc lựa chọn loài cây gây trồng tại từng vị trí cụ thể, khắc phục tình trạng trồng rừng tự phát.
  • Hoàn thiện công tác quản lý đất ngập mặn, thống nhất đầu mối quản lý giữa các ngành nông nghiệp, tài nguyên môi trường và chính quyền địa phương cấp huyện, xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 4 nhân tố sinh thái tự nhiên chính (độ mặn nước, thành phần cấp hạt, độ sâu ngập triều, hiện trạng sử dụng đất) cho 6 loài TVNM chủ yếu; phạm vi không gian giới hạn từ đường đẳng sâu 2 m vào đất liền thuộc 38 xã ven biển Nghệ An; chưa mở rộng đánh giá chi tiết biến động chất lượng lập địa trong điều kiện biến đổi khí hậu cực đoan dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực nghiệm tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của các mô hình trồng thử nghiệm 6 loài TVNM trên từng đơn vị đất đai đã đề xuất; nghiên cứu bổ sung cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và giải pháp sinh kế kết hợp cho cộng đồng dân cư ven biển.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống bản đồ số liệu cụ thể cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và các huyện, thị xã ven biển triển khai thực hiện Nghị định 119/2016/NĐ-CP, Quyết định 608/QĐ-BNN-TCLN và Quyết định 197/2021/QĐ-TTg.
  • Đối với nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo về quy trình kết hợp phương pháp đánh giá đất đai FAO, AHP và GIS trong phân vùng sinh thái lập địa cho thực vật ngập mặn vùng cửa sông ven biển miền Trung; dữ liệu phân tích hóa lý đất và nước tại 29 điểm ven biển Nghệ An qua 2 mùa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn đánh giá mức độ thích hợp sinh thái cho những loài thực vật ngập mặn nào?

Luận án tiến hành đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho 6 loài thực vật ngập mặn:

  • Mắm quắn (Avicennia lanata)
  • Đước vòi (Rhizophora stylosa)
  • Trang (Kandelia candel)
  • Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza)
  • Bần chua (Sonneratia caseolaris)
  • Sú (Aegiceras corniculatum)

2. Bốn nhân tố sinh thái tự nhiên chính được đưa vào đánh giá mức độ thích hợp đất đai là gì?

Bốn nhân tố sinh thái gồm:

  1. Độ mặn của nước (đo bằng khúc xạ kế ATAGO S-28).
  2. Thành phần cấp hạt của đất / độ thành thục của đất (phân tích theo TCVN 8567:2010).
  3. Độ sâu ngập triều (đo đạc dã ngoại bằng cột đo 3 m gắn thuốc nhuộm đỏ và lịch thủy triều).
  4. Hiện trạng sử dụng đất ngập mặn.

3. Tổng diện tích đất ngập mặn được đánh giá và quy mô diện tích đề xuất trồng mới RNM tại Nghệ An là bao nhiêu?

Luận án đã đánh giá mức độ thích hợp sinh thái trên 18 loại đơn vị đất đai với tổng diện tích 715,88 ha tại 38 xã, phường, thị trấn ven biển. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất tổng diện tích trồng mới RNM là 340,71 ha, bao gồm: huyện Quỳnh Lưu (123,21 ha), huyện Nghi Lộc (110,06 ha), thị xã Hoàng Mai (40,09 ha), thành phố Vinh (34,14 ha) và huyện Diễn Châu (30,21 ha).

4. Quy mô thu thập mẫu thực địa và phương pháp phân tích môi trường của đề tài được triển khai như thế nào?

Tác giả đã lập 17 ô tiêu chuẩn (200 m²/ô) dọc 6 tuyến sông; thu thập 32 mẫu nước (16 vị trí x 2 mùa) phân tích 5 thông số dinh dưỡng (N-NO2, N-NO3, N-NH4, T-N, P-PO4); thu thập 58 mẫu đất tại 29 vị trí ở độ sâu 60 cm qua 2 mùa phân tích các chỉ tiêu pH, P hữu hiệu, N hữu hiệu, P tổng số, N tổng số, K hữu hiệu, LOI và thành phần cơ giới tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.

5. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn trồng mới tại Nghệ An từ 1.106 ha xuống còn 412,6 ha giai đoạn 1984–2015 là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do tỉnh chưa có quy hoạch chi tiết dẫn đến chồng chéo quản lý; chuyển đổi đất sang nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất thổ cư; khai thác tự do; và việc trồng rừng tự phát thiếu cơ sở khoa học về chọn giống, kỹ thuật gieo ươm, trồng và chăm sóc khiến cây bị sâu bệnh, chết hoặc bị sóng cuốn trôi.

Kết luận

Luận án đã xác lập cơ sở khoa học đồng bộ cho việc quy hoạch và phát triển rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Nghệ An thông qua việc tích hợp phương pháp đánh giá đất đai của FAO (1976), phân tích thứ bậc AHP và công nghệ GIS. Công trình đã phân hạng mức độ thích hợp sinh thái của 4 nhân tố tự nhiên đối với 6 loài thực vật ngập mặn trên 18 đơn vị đất đai (quy mô 715,88 ha) tại 38 xã ven biển. Kết quả nghiên cứu đưa ra phương án định hướng không gian cụ thể với 340,71 ha diện tích đề xuất trồng mới phân bổ cho 5 đơn vị hành chính cấp huyện, cung cấp luận cứ trực tiếp phục vụ công tác quản lý, phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nghệ An.