CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.1 Về các điều kiện tự nhiên (1)Vị trí địa lý Côn Đảo là huyện đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nằm ở vùng biển Đông Nam Việt Nam, có toạ độ 8o34’ đến 8o49’ vĩ độ Bắc và 106o31’ đến 106o45’ kinh độ Đông, cách Vũng Tàu 185 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km, cách cửa sông Hậu 83 km về phía Nam. Côn Đảo có cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′ Đông) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′ Bắc) [3]. Các đảo được cấu tạo chủ yếu từ đá trầm tích phun trào và đá Granit, nên Côn Đảo có tới 2/3 diện tích là rừng núi. Tuy nhiên kiểu dạng địa hình Côn Đảo không đơn điệu hình thành từ nhiều dạng nguồn gốc phát sinh như: nguồn gốc bóc mòn, nguồn gốc dòng chảy tạm và nguồn gốc biển, tạo nên bề mặt địa hình Côn Đảo theo hai kiểu địa mạo chủ yếu là địa hình bóc mòn và tích tụ: Địa hình bóc mòn: Thuộc kiểu địa hình này là các sườn dốc, núi đồi thấp ở phía Tây Bắc và Bắc đảo chính Côn Sơn và phần lớn các đảo nhỏ được cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào.
Địa hình tích tụ: Các quá trình ngoại sinh đã hình thành dạng địa hình thung lũng có bề mặt tương đối phẳng hơi nghiêng thoải dần theo hướng Bắc - Nam ở đảo chính Côn Sơn và ven bờ lõm một số đảo còn lại. Giữa hai hướng sơn văn chủ đạo (Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam) là các dải trũng và đồng bằng góp phần đa dạng địa hình ở Côn Đảo. Các đảo nhỏ nằm 4 rải rác xung quanh đảo lớn (Côn Đảo) tạo nên một cảnh quan đẹp và các vùng kín gió rất có giá trị cho giao thông hàng hải. Các máng trũng xâm thực dòng triều khá phổ biến ở vùng ven biển Côn Đảo tạo ra các vũng vịnh (vịnh Đông Nam (Côn Sơn), Họng Đầm, Cỏ Ống, cửa Đầm Tre.
ở đảo chính) rất quan trọng cho việc xây cảng, bến đậu - công trình cần thiết hàng đầu với mỗi hải đảo. Phần lớn diện tích đất huyện Côn Đảo phân bố trên các dạng địa hình núi thấp nhưng sườn dốc, có nhiều chỗ tạo thành vách đá dựng đứng và có tầng đất hữu hiệu mỏng. Đảo Côn Sơn (Đảo trung tâm): là đảo lớn nhất quần đảo, có diện tích tự nhiên 6647.23 ha, Bao gồm hai khối núi lớn được chia cắt bởi Cỏ Ống. Phía bắc, có 2 đỉnh núi khá cao là núi ông Cường (238 mét) và núi Đường Chơi (131 mét).
Phía nam, bao gồm các dãy núi kéo dài hình thành hình cánh cung dài 16 km bao quanh đồng bằng ở khu vực trung tâm. Về địa hình chính có hai dạng để nhận dạng là: Dạng khu vực vùng núi thấp, đỉnh hơi thoải, sườn núi dốc mạnh (20 - 350); Đỉnh núi cao nhất là: núi Thánh Giá (577 m), kế tiếp là núi Chúa (515 m), tiếp đến núi Sở Rẫy (478 m), cuối cùng là núi Nhà Bàn (396 m) và núi Tàu Bể (259 m). Phía Tây Nam và Tây Bắc địa hình bị chia cắt bởi các suối nhỏ chảy thẳng ra biển về mùa mưa và cạn về mùa khô. Dạng thung lũng đồng bằng xen đồi gò phân bố ở khu vực Cỏ Ống và khu Trung tâm bao gồm các dải cồn cát cao xen các trảng bằng thấp, được cấu trúc từ những sản phẩm dốc tụ và các trầm tích gió gắn liền với những đợt biển lùi trong kỷ thứ Tư.
Hệ đụn cát cao 4 - 9 m gồm 3 hệ thống phân bố ở khu vực sân bay Cỏ Ống chạy suốt từ bãi Canh (phía đông nam) sang bãi Đầm Trầu (phía Đông Bắc). Đây có lẽ là một doi cát nối đảo cổ, hiện nay được ổn định nhờ thảm thực vật. Các đụn cát ở phía đông nam Côn Sơn phân cắt phần thấp của đảo tạo ra vũng đầm lầy. Thềm biển 4 - 5 m bao gồm các trầm tích vụn sinh vật đã được ghi nhận ở phía bắc đảo lớn.
[3] Hòn Bảy Cạnh: Nằm ở phía đông đảo Côn Sơn với khoảng cách nơi gần nhất là 1,5 km, trung bình là 6 km. Đảo có địa hình lồi lõm, là những dải núi thấp nhấp nhô, sườn dốc, tạo thành khối đa diện không đều; chỗ hẹp và thấp nhất của đảo chỉ rộng 200 m và cao 15 m so với mặt nước biển; chiều dài đảo khoảng 5,7 km, chỗ rộng nhất 3km, đảo có diện tích là 856. Xung quanh đảo những chỗ lõm vào hình 5 thành các bãi cát nhỏ như bãi Đương, bãi Bà Độp, bãi Giông, bãi Sạn. Trên đảo có 2 đỉnh núi cao 352 m và 310 m.
Độ dốc trung bình của đảo (25 - 350), tầng đất dày từ 30 - 60c m, đá lộ đầu bình quân 20 %, thỉnh thoảng gặp các tảng đá lớn nổi lên bề mặt. Trên đảo không có sông suối, không có dân cư, chỉ có ngọn Hải Đăng nằm ở trên đỉnh núi phía Đông của đảo ở độ cao 180m và trạm kiểm lâm nằm giữa eo hẹp của đảo. [3] Hòn Bà: nằm kế phía nam Côn Sơn cách qua Họng Đầm khoảng 50 m, là một khối núi có diện tích khoảng 729.17 ha, dài 4 km và rộng 3,8 km, có độ cao đỉnh là 341 m, sườn núi dốc mạnh với độ dốc phổ biến là 25 - 350; xung quanh đảo có các chỗ lõm vào như Đầm Quốc, Đầm The. Trên đảo không có sông suối, không có dân cư, chỉ có một trạm kiểm lâm.
[3] Các đảo khác: các đảo còn lại, có tổng diện tích khoảng 356.17 ha, diện tích đảo nhỏ nhất là 1.72 ha (Hòn Trứng), đảo lớn nhất 126.22 ha (Hòn Cau) với độ cao từ 50 - 200 m, độ dốc phổ biến là 20 - 300. [3] Phần biển ven các đảo tính từ mức nước triều cao nhất cho đến độ sâu khoảng 30 m. Các bãi biển và bãi tắm rộng chỉ tập trung ở đảo Côn Sơn, bãi rộng nhất đạt tới 1,5 km nằm trong vịnh Côn Sơn. Bãi tắm và bãi biển thường được hình thành ở các vũng, vịnh nhỏ ven bờ biển, xung quanh các đảo lớn với các quy mô rộng hẹp khác nhau.
Các bãi tắm thường có hai phần, phần bãi cao hẹp và dốc, phần bãi thấp ít dốc hoặc mặt bằng rộng có thể đến gần 1km. Phần bãi cao có cấu tạo từ sỏi, sạn mảnh vụn sinh vật hoặc cát; phần bãi thấp cấu tạo từ vật chất là san hô chết hoặc san hô còn sống phát triển rải rác. Trên toàn quần đảo có 24 bãi tắm và bãi biển như vậy. [3] Ngoài bãi biển và bãi tắm, ở vùng ven bờ đảo còn có các vách dốc đứng và các thềm đá bị mài mòn xuất hiện ở các khu vực Mũi Cá Mập, Mũi Lò Vôi, Mũi Tà Bê, Mũi Đông Bắc trên đảo Côn Sơn, Mũi Ba Non trên đảo hòn Bà.
Đáy biển ven đảo có địa hình khác nhau tùy theo khu vực và độ sâu. Nhìn chung, đáy biển ở Côn Đảo thể hiện hai bậc địa hình: 6 Bậc 1 từ độ sâu 0 - 10 m, đáy biển thường dốc, có nơi rất dốc. Độ dốc đáy biển biến động từ 0,0125 đến 0,9 m, có nơi gần như dốc đứng. Những nơi đáy biển có phủ san hô thường ít dốc hơn.
[3] Bậc 2 từ độ sâu 10 - 20 m. Độ dốc bậc 2 có giảm đi, có nơi đáy biển khá bằng phẳng, thường được phủ một lớp cát hoặc bùn. Ở khu vực ven biển phía Tây Bắc đảo Côn Sơn và các Hòn Tre Lớn, Hòn Bà, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Trọc, Hòn Cau, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Trắc Lớn, Hòn Trắc Nhỏ, Hòn Tài, Vịnh Đầm Tre và Vịnh Côn Sơn. Đáy biển ở độ sâu trên 10m có san hô phát triển tốt.
Từ Mũi Tà Bê đến Mũi Cá Mập của Vịnh Côn Sơn trên đáy biển có san hô và cỏ biển. [3] Đất đai ở Côn Đảo được hình thành trên nền địa chất khá ổn định, cấu tạo từ các loại đá granit, granođiorit và phun trào axit riolit. Các đá này phân bố rộng khắp trên đảo chính và các đảo nhỏ, chúng tạo thành địa hình núi, sườn dốc, có độ cao từ mực nước biển trở lên với các đỉnh cao 200 - 400 m, trong đó đỉnh cao nhất 577 m là đỉnh núi Thánh Giá trên đảo lớn. Ngoài các đá macma nói trên, ở đảo Côn Sơn còn có một thành tạo địa chất rất đặc biệt, đó là trầm tích Đệ Tứ, cồn cát nguồn gốc biển tuổi Holocen.
Cồn cát biển phân bố ở 2 khu vực: khu Trung tâm và khu Cỏ Ống. [3] Tại khu Trung tâm dải cồn cát kéo dài theo phương Tây Nam - Đông Bắc trong khoảng 2 km, nằm ở khoảng giữa đường bờ biển và chân núi, tạo nên địa hình cồn đụn cao từ 3 - 4 m phía Tây Bắc nghĩa trang Hàng Dương, đến 20 - 25 m phía Bắc hồ chứa nước An Hải. Khoảng giữa cồn cát là một, hoặc 2 máng trũng tùy từng nơi, tích nước theo mùa, tạo thuận lợi cho việc khai phá, xây dựng hồ chứa nước. Trên bề mặt cồn được che phủ bởi thảm rừng cây tràm gió, cao 10 - 15 m và các cây lùm bụi chịu hạn tốt.
Một dải cồn cát khác phân bố ở khu vực Cỏ Ống, chủ yếu là phía đường bờ biển Đông Nam, chiều dài khoảng 1,5 km, chiều rộng 200 - 600 m, cao 3 - 10 m, trên mặt phủ bởi thảm cây tràm, phi lao và dứa dại. [3]Côn Đảo đặc trưng bằng địa hình núi thấp, gần 2/3 diện tích là đồi núi, sườn dốc, trên đó bao phủ bởi thảm rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa là khu rừng được bảo vệ của Vườn 7 Quốc gia Côn Đảo. Bề mặt địa hình của đảo lớn Côn Sơn bị phân cắt, chia thành hai vùng tương phản: Vùng đồng bằng và vùng núi. Vùng đồng bằng thấp ven biển, bao gồm cả cồn cát biển, thuộc kiểu địa hình tích tụ, phân bố ở khu Trung tâm và khu Cỏ Ống, có diện tích nhỏ, độ cao thường từ 4 - 10 m, đất có nguồn gốc biển gồm các trầm tích cát, mảnh vụn sinh vật.
Trên đảo lớn Côn Sơn diện tích đất có độ dốc lớn hơn 25o chiếm tới 63,6 %. Diện tích đất bằng ít, chỉ chiếm khoảng 13,4 %. Trên các đảo lớn nhỏ đều không có các biểu hiện khoáng sản. Các đá gốc macma ở đây thuộc loại cứng, chắc, có thể làm vật liệu xây dựng nhà, rải đường, kè bờ biển, … Cát trên cồn cũng có thể làm nguyên vật liệu xây dựng.
Tuy nhiên việc khai thác đá cứng cũng như cát trên đảo cần được xem xét, tính toán cẩn thận.