Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đói nghèo tại các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân trực tiếp tạo ra áp lực khai thác lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Khác với các vùng nông thôn thuần nông thông thường, người dân sinh sống tại vùng đệm các Vườn Quốc gia (VQG) chịu sự tác động chuyển đổi sinh kế rất lớn khi khu bảo tồn được thành lập. Trước khi VQG Ba Bể được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ, các hộ đồng bào địa phương vốn duy trì tập quán mưu sinh truyền thống dựa vào khai thác lâm sản, phát nương làm rẫy và chăn thả tự nhiên. Khi công tác quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng được siết chặt, nguồn thu từ rừng và quỹ đất canh tác nương rẫy bị thu hẹp đáng kể, khiến đời sống của phần lớn hộ nông dân gặp nhiều khó khăn.

Xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là địa bàn nằm trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Ba Bể với tổng diện tích tự nhiên 6.478,94 ha và dân số 2.090 người (chủ yếu là dân tộc Tày). Nền kinh tế của xã dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi còn lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao (11,79%). Áp lực mưu sinh buộc người dân tiếp tục có các hoạt động tác động tiêu cực đến rừng, trong khi sự suy giảm chất lượng rừng lại gia tăng rủi ro kinh tế cho chính cộng đồng bản địa. Trước thực trạng đó, đề tài "Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể" được tác giả Nông Văn Huynh thực hiện nhằm tìm kiếm giải pháp phát triển sinh kế bền vững, hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao đời sống dân cư.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích các tiềm năng, những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Đề tài xác định 5 mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Đánh giá những điều kiện của địa phương có ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm VQG Ba Bể.
  2. Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu.
  3. Đánh giá những vấn đề tồn tại trong các hoạt động tạo sinh kế và phân tích làm rõ nguyên nhân.
  4. Phân tích cụ thể các tiềm năng cho việc cải thiện các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu.
  5. Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm VQG Ba Bể.

Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nông dân vùng đệm VQG Ba Bể và các hoạt động tạo sinh kế, môi trường sinh kế cùng các nguồn lực sinh kế của hộ. Về phạm vi không gian, đề tài thực hiện tại xã Nam Mẫu (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), trong đó điều tra chọn mẫu trực tiếp tại 3 thôn: Pác Ngòi, Cốc Tộc và Bó Lù. Về phạm vi thời gian, các dữ liệu sơ cấp và khảo sát thực địa được thu thập từ ngày 20/02/2015 đến ngày 25/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về vùng đệm, sinh kế và kinh tế nông hộ:

  • Khái niệm vùng đệm: Tiếp cận theo các nghiên cứu của Võ Quý (1993, 1997), phân định chức năng vùng đệm xã hội (cung cấp sản phẩm thiết yếu cho cư dân bản địa mà không mâu thuẫn với mục tiêu bảo tồn) và chức năng vùng đệm mở rộng (nới rộng không gian sống cho các loài hoang dã).
  • Khung sinh kế bền vững: Vận dụng định nghĩa của Brundtland (1987), Chambers và Conway (1992) cùng khung phân tích của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) với 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất.
  • Kinh tế nông hộ: Xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất dựa trên lao động gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tự cấp tự túc kết hợp trao đổi hàng hóa từng phần.
  • Khung chính sách pháp lý: Trích dẫn các chủ trương của Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chương trình 135, Chương trình 134, Nghị quyết 30a; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/06/2012 về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng (khoản hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn bản/năm để đồng quản lý rừng); Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng; và Nghị định số 79/2003/NĐ-CP về quy chế dân chủ cơ sở.

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) với bảng hỏi cấu trúc kết hợp bán cấu trúc. Tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình (chọn ngẫu nhiên 20 hộ/thôn tại 3 thôn Pác Ngòi, Cốc Tộc và Bó Lù) và phỏng vấn chuyên sâu 7 cán bộ địa phương (4 cán bộ UBND xã Nam Mẫu và 3 trưởng thôn).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo thống kê đất đai, kinh tế - xã hội giai đoạn 2012–2014 từ UBND xã Nam Mẫu, Hợp tác xã (HTX) Xuồng Du lịch Ba Bể và Ban quản lý VQG Ba Bể.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp lịch sử, phân tích tương quan và ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích trên phần mềm bảng tính Microsoft Excel.
  • Hệ thống chỉ tiêu sử dụng: Các chỉ tiêu kinh tế (giá trị sản xuất - GO, chi phí trung gian - IC, giá trị gia tăng - VA, lợi nhuận - Pr, các tỷ suất GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/Lao động, Pr/Diện tích); chỉ tiêu lao động (cơ cấu lao động, tỷ suất sử dụng lao động, năng suất lao động); chỉ tiêu đất đai (cơ cấu quỹ đất, hệ số sử dụng đất, năng suất cây trồng).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu tại vùng đệm VQG Ba Bể, xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 5 mục tiêu cụ thể), làm rõ ý nghĩa học thuật - thực tiễn và những đóng góp mới của đề tài trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn sinh thái và cải thiện thu nhập của hộ nông dân.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Hệ thống hóa lý luận về vùng đệm, sinh kế bền vững và kinh tế nông hộ; rà soát các văn bản pháp quy liên quan đến đầu tư vùng đệm rừng đặc dụng. Tổng quan kinh nghiệm quốc tế (Trung Quốc, Indonesia, Zambia, Nepal) và các mô hình trong nước (VQG Cúc Phương, Ba Vì, Yok Don, Bạch Mã). Đặc biệt, chương phân tích bài học kinh nghiệm từ Dự án Hỗ trợ giảm nghèo 3PAD tại Bắc Kạn về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện giữa các bên khai thác dịch vụ du lịch (thành viên Hội Nhà sàn xã Nam Mẫu, HTX Xuồng) và cộng đồng bảo vệ rừng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng khảo sát là hộ nông dân xã Nam Mẫu và các hoạt động tạo sinh kế; xác lập quy trình chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên 60 hộ tại 3 thôn (Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù); quy định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, kỹ thuật điều tra và khung phân tích SWOT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích

1. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sử dụng đất đai

Xã Nam Mẫu có diện tích tự nhiên là 6.478,94 ha, địa hình đồi núi dốc, khí hậu nhiệt đới gió mùa (nhiệt độ trung bình 20°C, lượng mưa trung bình 800 mm/năm, độ ẩm 75%). Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối nhưng phần lớn là đất lâm nghiệp đặc dụng thuộc VQG.

Loại đất Diện tích năm 2012 (ha) Cơ cấu 2012 (%) Diện tích năm 2014 (ha) Cơ cấu 2014 (%) Tốc độ phát triển BQ 2014/2012 (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 6.478,94 100,00 6.478,94 100,00 100,00
A. Đất nông nghiệp 5.941,78 91,70 5.946,07 91,78 99,91
- Đất lúa nước 114,26 1,76 114,24 1,76 100,00
- Đất trồng lúa nương 0,22 3,39 0,22 3,39 100,00
- Đất cây hàng năm 129,24 1,99 127,69 1,97 98,99
- Đất cây lâu năm 7,32 0,11 4,60 0,07 63,63
- Đất rừng đặc dụng 5.657,71 87,32 5.657,71 87,32 100,00
- Đất nuôi trồng thủy sản 37,32 0,58 37,32 0,57 98,27
B. Đất phi nông nghiệp 450,57 6,95 453,06 6,99 100,57
- Đất ở nông thôn 49,97 0,77 51,97 0,80 103,89
C. Đất chưa sử dụng 32,33 0,50 32,13 0,49 98,00

2. Dân số, lao động và kinh tế địa phương

Năm 2014, xã Nam Mẫu có 424 hộ với 2.090 nhân khẩu (bình quân 5 khẩu/hộ; 2 khẩu/lao động). Trong đó, nhân khẩu nông nghiệp chiếm 73,69% (1.540 người), nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm 26,31% (550 người); số hộ thuần nông là 345 hộ (81,37%), hộ phi nông nghiệp là 79 hộ (18,63%). Tổng lực lượng lao động là 1.050 người (chiếm 50% dân số), trong đó lao động phi nông nghiệp là 229 người (21,81%). Toàn xã có 50 hộ nghèo (tỷ lệ 11,79%).

Về sản xuất trồng trọt năm 2014:

  • Cây lúa xuân: Diện tích 40 ha, năng suất bình quân 53,6 tạ/ha, sản lượng 214,4 tấn.
  • Cây lúa vụ mùa chính vụ: Diện tích 47 ha, năng suất 43,5 tạ/ha, sản lượng 204 tấn.
  • Lúa mùa muộn: Diện tích 40 ha nhưng bị bão số 3 gây hại mất 38,5 ha, năng suất chỉ đạt 26,5 tạ/ha, sản lượng 106 tấn (sử dụng giống Tạp giao 1, Bắc ưu, Bao thai).
  • Cây ngô: Ngô xuân 65 ha (năng suất 44,3 tạ/ha, sản lượng 287 tấn); ngô xuân hè 57 ha (năng suất 38 tạ/ha, sản lượng 216 tấn); ngô bãi vụ mùa thiệt hại 40,6 ha do bão.
  • Cây trồng khác: Đỗ tương 26 ha (năng suất 11 tạ/ha, sản lượng 28,6 tấn); sắn 6 ha (năng suất 90 tạ/ha, sản lượng 54 tấn); lạc 1,5 ha (năng suất 10 tạ/ha); rau màu các loại 6 ha.
  • Chăn nuôi: Toàn xã có 597 con trâu (đạt 82,45% kế hoạch), 149 con bò (đạt 73,03%), 1.078 con lợn (đạt 50,68%), 148 con dê và 3.000 con gia cầm.
  • Dịch vụ du lịch: Có 25 nhà nghỉ homestay đang hoạt động; HTX Xuồng du lịch Hồ Ba Bể quản lý 86 xuồng máy phục vụ du khách (doanh thu năm 2014 đạt 167 triệu đồng).

Về hạ tầng: Toàn xã có 19,97 km kênh mương nhưng chỉ mới kiên cố hóa được 5,20 km (đạt 26%); 01 trạm bơm tại thôn Pác Ngòi bị hư hỏng; tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn thường xuyên chỉ đạt 40,57% (còn 252 hộ chưa có điện).

3. Thực trạng sinh kế và tài sản của 60 hộ điều tra

Kết quả khảo sát tại 3 thôn (Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù) ghi nhận cơ cấu phân loại kinh tế và tài sản sinh kế của các hộ nông dân:

Nhóm hộ Thôn Pác Ngòi (hộ) Thôn Cốc Tộc (hộ) Thôn Bó Lù (hộ) Tính chung 3 thôn (hộ) Tỷ lệ chung (%)
Tự đánh giá:
- Khá giả 7 1 6 14 23,33
- Trung bình 12 18 12 42 70,00
- Nghèo 1 1 2 4 6,67
Tổng cộng mẫu điều tra 20 20 20 60 100,00
Danh sách hộ nghèo địa phương 4 (trên 86 hộ) 2 (trên 40 hộ) 2 (trên 46 hộ) 9 (trên 172 hộ) 5,23

Về tài sản phục vụ sinh hoạt và tư liệu sản xuất của 60 hộ điều tra:

  • Tài sản gia dụng và phương tiện: 60/60 hộ có ti vi màu, 60/60 hộ có quạt điện, 60/60 hộ có điện thoại liên lạc, 58/60 hộ có xe máy, 36/60 hộ có tủ lạnh, 28/60 hộ có bếp ga, 19/60 hộ có xe đạp.
  • Tư liệu sản xuất và chăn nuôi: 60/60 hộ có máy bơm nước, 57/60 hộ có máy tuốt lúa, 34/60 hộ có máy cày, 44/60 hộ có tàu/thuyền, 6/60 hộ có cửa hàng kinh doanh; 53/60 hộ nuôi trâu, 54/60 hộ nuôi gà, 40/60 hộ nuôi lợn thịt, 21/60 hộ nuôi lợn con, 5/60 hộ nuôi bò.
  • Hiện trạng nhà ở: Nhà gỗ 1 sàn nền đất chiếm 55,00% (33 hộ); nhà sàn gỗ truyền thống chiếm 33,34% (20 hộ); nhà kiên cố chiếm 8,33% (5 hộ); nhà xây cấp 4 lợp ngói chiếm 3,33% (2 hộ).

Phần 5: Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm VQG Ba Bể

Xây dựng định hướng chiến lược kết hợp các giải pháp kỹ thuật và kinh tế cụ thể:

  • Trồng trọt: Chuyển đổi cơ cấu giống lúa và ngô lai có năng suất cao; áp dụng kỹ thuật thâm canh và cải tạo đất dốc; mở rộng phát triển cây mía trên các dải đất soi bãi; trồng xen các loại cây hàng hóa chu kỳ ngắn (đậu tương, lạc, rau rừng).
  • Chăn nuôi: Từng bước chuyển đổi từ chăn nuôi thả rông sang phương thức thâm canh và bán thâm canh hàng hóa; tập trung phát triển đàn gia súc lớn (trâu, bò) tận dụng địa hình đồi núi; kiểm soát dịch bệnh và quy hoạch khu vực chăn thả tập trung.
  • Lâm nghiệp và du lịch sinh thái: Triển khai các mô hình nông - lâm kết hợp trên đất dốc ("lấy ngắn nuôi dài"); mở rộng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện; xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích hợp pháp từ việc khai thác lâm sản ngoài gỗ; phát triển du lịch cộng đồng gắn với homestay nhà sàn và đội xuồng máy du lịch.
  • Chính sách hỗ trợ: Tăng cường cán bộ khuyến nông - khuyến lâm cắm bản; đơn giản hóa thủ tục tín dụng ưu đãi phục vụ phát triển sản xuất; nâng cấp hạ tầng thủy lợi và điện sinh hoạt.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính

  • Phản ánh trung thực thực trạng tài nguyên đất đai tại xã Nam Mẫu: trong tổng số 6.478,94 ha đất tự nhiên, đất rừng đặc dụng chiếm tới 87,32% (5.657,71 ha), trong khi đất trồng lúa nước chỉ có 114,24 ha (1,76%) và đất cây hàng năm là 127,69 ha (1,97%), tạo ra sức ép nghiêm trọng về tư liệu sản xuất nông nghiệp.
  • Làm rõ cấu trúc kinh tế nông hộ tại vùng đệm: tỷ lệ hộ nghèo toàn xã là 11,79%; trong 60 hộ mẫu điều tra, nhóm hộ trung bình chiếm đa số (70%), hộ khá giả chiếm 23,33% và hộ nghèo chiếm 6,67%. Nhà gỗ 1 sàn nền đất và nhà sàn truyền thống chiếm 88,34% tổng số nhà ở.
  • Xác định điểm nghẽn hạ tầng: hệ thống thủy lợi chỉ cứng hóa được 26% (5,20/19,97 km), trạm bơm chính bị hỏng; lưới điện mới chỉ phục vụ thường xuyên cho 40,57% số hộ dân.
  • Chỉ ra tiềm năng chuyển dịch sinh kế sang dịch vụ du lịch sinh thái (25 nhà nghỉ homestay, 86 xuồng máy du lịch) và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện từ dự án 3PAD.

2. Giải pháp và kiến nghị

  • Kiến nghị UBND huyện Ba Bể và tỉnh Bắc Kạn đầu tư kiên cố hóa 14,77 km kênh mương còn lại, sửa chữa trạm bơm Pác Ngòi và nâng cấp lưới điện hạ thế 0,4KV để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu.
  • Đề xuất Ban quản lý VQG Ba Bể phối hợp với chính quyền xã Nam Mẫu thực hiện cơ chế đồng quản lý rừng đặc dụng theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, giải ngân hiệu quả nguồn kinh phí hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn/năm gắn với cam kết bảo vệ rừng.
  • Đề xuất giải pháp kỹ thuật nông nghiệp: áp dụng giống lúa thuần chất lượng cao, ngô lai (NK4300, NK54, AG49, NK67), trồng xen lạc và đậu tương trên đất dốc để cải tạo đất, nâng cao năng suất cây trồng nội vùng.

3. Đóng góp của đề tài

  • Làm rõ tính đặc thù trong hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng đệm VQG so với các khu vực nông thôn miền núi thông thường.
  • Phân tích cụ thể mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng đặc dụng và nhu cầu sinh kế của người dân tộc tộc thiểu số tại chỗ.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa chi tiết về tài sản sinh kế của 60 hộ nông dân tại 3 thôn ven hồ Ba Bể làm tiền đề cho việc hoạch định chính sách phát triển sinh kế gắn với du lịch sinh thái.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn (từ tháng 2/2015 đến tháng 5/2015), dung lượng mẫu khảo sát dừng lại ở 60 hộ phân bố tại 3 thôn (Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù) trong tổng số các thôn bản của xã Nam Mẫu. Các nội dung liên quan đến phong tục tập quán, biến động chi tiết của thị trường nông sản và hiệu quả tài chính dài hạn của các mô hình sinh kế du lịch chưa được nghiên cứu sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên toàn bộ các thôn vùng cao của xã Nam Mẫu, tập trung lượng hóa hiệu quả kinh tế của mô hình chuỗi giá trị du lịch cộng đồng (homestay kết hợp dịch vụ xuồng du lịch) và đánh giá tác động của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đến thu nhập bền vững của hộ nghèo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế tài nguyên môi trường khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh kế vùng đệm khu bảo tồn.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là phương pháp tiếp cận khung sinh kế bền vững (DFID) để đánh giá tài sản sinh kế của hộ nông dân, hệ thống số liệu điều tra thực tế về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trang thiết bị sản xuất tại xã Nam Mẫu, và bài học kinh nghiệm về mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện tại khu vực Hồ Ba Bể.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình sử dụng đất đai tại xã Nam Mẫu có điểm gì đặc thù ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của nông dân?
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 6.478,94 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 87,32% (5.657,71 ha) và đều là rừng đặc dụng thuộc VQG Ba Bể được bảo vệ nghiêm ngặt. Quỹ đất sản xuất nông nghiệp rất hạn chế, đất trồng lúa nước chỉ có 114,24 ha (1,76%) và đất trồng cây hàng năm là 127,69 ha (1,97%), khiến người dân thiếu đất canh tác lương thực.

2. Tỷ lệ hộ nghèo và đặc điểm phân bố dân cư - lao động tại xã Nam Mẫu được ghi nhận như thế nào trong nghiên cứu?
Toàn xã có 2.090 nhân khẩu thuộc 424 hộ, trong đó đồng bào dân tộc Tày chiếm đa số. Số hộ thuần nông là 345 hộ (81,37%). Tổng lực lượng lao động là 1.050 người (chiếm 50% dân số). Toàn xã có 50 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,79% tổng số hộ.

3. Kết quả khảo sát 60 hộ dân tại 3 thôn (Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù) về tài sản và tư liệu sản xuất cho thấy điều gì?
Về nhà ở, 55% là nhà gỗ 1 sàn nền đất và 33,34% là nhà sàn gỗ truyền thống. Về tư liệu sản xuất và sinh hoạt, 100% hộ có máy bơm nước, ti vi, quạt điện và điện thoại; 58/60 hộ có xe máy; 57/60 hộ có máy tuốt lúa; 44/60 hộ có tàu/thuyền; 34/60 hộ có máy cày; 53/60 hộ chăn nuôi trâu.

4. Mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện của Dự án 3PAD tại khu vực Ba Bể hoạt động theo nguyên tắc nào?
Mô hình vận hành theo nguyên tắc bên sử dụng dịch vụ môi trường (thành viên Hội Nhà sàn xã Nam Mẫu, các xã viên HTX Xuồng du lịch Ba Bể) tự nguyện ký cam kết trả phí dịch vụ cho cộng đồng cư dân vùng đệm thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng và cảnh quan môi trường sinh thái.

5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp kỹ thuật nông nghiệp nào để cải thiện sinh kế tại chỗ?
Tác giả đề xuất đưa các giống ngô lai (NK4300, NK54, AG49, NK67) và giống lúa năng suất cao vào sản xuất; thâm canh tăng vụ; mở rộng diện tích trồng mía trên các bãi soi bồi; phát triển các loại cây ngắn ngày (đậu tương, lạc, rau rừng) trên đất dốc; đồng thời chuyển đổi ngành chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò) sang hướng sản xuất hàng hóa bán thâm canh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Văn Huynh đã phản ánh toàn diện thực trạng kinh tế - xã hội và đặc điểm sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu trong điều kiện chịu sự chi phối của quy chế bảo tồn Vườn Quốc gia Ba Bể. Thông qua việc phân tích dữ liệu khảo sát 60 hộ gia đình và hiện trạng hạ tầng địa phương, công trình đã chỉ rõ nguyên nhân của sự nghèo đói và áp lực xâm hại tài nguyên rừng xuất phát từ tình trạng thiếu đất canh tác, hạ tầng kỹ thuật yếu kém và tập quán sản xuất lạc hậu. Các nhóm giải pháp về chuyển đổi giống cây trồng, phát triển chăn nuôi gia súc lớn, nông - lâm kết hợp và du lịch cộng đồng được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quản lý tài nguyên gắn với an sinh xã hội tại địa bàn nghiên cứu.