MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam đói nghèo đang là nguyên nhân chủ yếu tạo áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Phát triển nông nghiệp bền vững và sinh kế ổn định cho ngƣời dân vùng sâu, vùng xa vùng khó khăn đang là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nƣớc. Sự khác biệt với các vùng miền núi khác, ngƣời dân vùng đệm các Vƣờn Quốc gia (VQG) ở Việt Nam thƣờng bị tác động ảnh hƣởng lớn nhất khi VQG đƣợc thành lập.
Các hộ nông dân vùng đệm VQG trƣớc đây vốn quen với phƣơng thức kiếm sống truyền thống là khai thác các sản phẩm từ rừng, canh tác nƣơng rẫy, chăn thả tự nhiên,…nhƣng từ khi thành lập Vƣờn Quốc gia nguồn thu từ rừng không còn, không còn đất để canh tác nƣơng rẫy nên hầu hết các hộ nông dân vùng đệm đời sống còn nhiều khó khăn. Vùng đệm các VQG hầu hết là vùng sâu, vùng khó khăn có hạ tầng cơ sở kém phát triển đã hạn chế giao thƣơng kinh tế và đi lại khó khăn (đặc biệt là vùng đệm trong). Vùng đệm các VQG cũng là nơi sinh sống chủ yếu của cộng dân tộc ít ngƣời, vẫn còn nhiều hủ tục thói quen lạc hậu (cƣới hỏi, ma chay, bình đẳng giới, khai thác sử dụng tài nguyên,chƣa có quy hoạch cụ thể về khai thác và bảo tồn ) gây tốn kém, lãng phí nguồn lực của hộ, tài nguyên tự nhiên. Áp lực về sinh kế khiến ngƣời dân vùng đệm các VQG đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của các VQG.
Ngƣợc lại, sự suy giảm diện tích và chất lƣợng rừng dẫn đến sự thiếu hụt lƣơng thực, giảm các nguồn thu nhập, tác động xấu tới điều kiện kinh tế của ngƣời dân và gia tăng độ rủi ro cho ngƣời dân có sinh kế phụ thuộc vào rừng. Xã Nam Mẫu huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn là một xã thuộc vùng đệm của Vƣờn Quốc gia (VQG) Ba Bể có diện tích tự nhiên 6.478,94 ha, tổng dân số 2.090 ngƣời trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày. Kinh tế của xã Nam Mẫu chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo là vẫn còn cao. Vƣờn Quốc gia (VQG) Ba Bể đƣợc thành lập theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của 2 Chính phủ và đƣợc quản lý bảo tồn chặt chẽ.
Các hộ nông dân vùng đệm vốn sống dựa vào rừng bị tác động ảnh hƣởng lớn đến điều kiện sống, việc làm, thu nhập và thậm chí cả các giá trị văn hóa truyền thống. Tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm Nam Mẫu là vô cùng cấp thiết góp phần giảm áp lực lên công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể. Đánh giá thực trạng sinh kế, các nguồn lực sinh kế làm cơ sở cho việc đề xuất những biện giải pháp cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm VQG Ba Bể có ý nghĩa không chỉ thực tiễn mà còn có ý nghĩa cả về lý luận. Những giải pháp sinh kế phù hợp tại vùng đệm sẽ giúp cho các hộ nông dân phát triển những sinh kế mới, cải thiện những sinh kế hiện có và khai thác có hiệu quả các nguồn lực sinh kế hiện có một cách bền vững tạo thêm đƣợc nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho họ.
Phát triển sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG Ba Bể bền vững sẽ góp phần hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể ” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Phân tích đƣợc các tiềm năng, những tồn tại và nguyên nhân của nó trong những hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm của Vƣờn Quốc gia Ba Bể Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài nhằm tìm kiếm và đề xuất những giải pháp cho việc cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá đƣợc những điều kiện của địa phƣơng có ảnh hƣởng đến hoạt động sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đện VQG Ba Bể. - Đánh giá đƣợc thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu. 3 - Đánh giá đƣợc những vấn đề tồn tại trong các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu phân tích làm rõ nguyên nhân của nó. - Phân tích cụ thể đƣợc các tiềm năng cho việc cải thiện các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu - Đề xuất đƣợc các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm VQG Ba Bể.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này đã giúp tác giả nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ngoài ra, đề tài cũng giúp tác giả nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu và bƣớc đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cấp thiết ngoài thực tiễn. - Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những ngƣời làm công tác nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn tại các vùng miền núi, những ngƣời làm công tác phát triển và bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chính quyền địa phƣơng các cấp đƣa ra đƣợc các dự án, đề án cho phát triển kinh tế tại các xã vùng đệm VQG Ba Bể nói chung và cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm nói riêng. - Đối với Ban quản lý VQG Ba Bể, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ gợi mở ra hƣớng quản lý bảo vệ và phát triển rừng VQG theo hƣớng có sự tham gia của ngƣời dân, đảm bảo hài hòa đƣợc mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng VQG và sinh kế của ngƣời dân vùng đệm. - Những giải pháp mà đề tài đề xuất là những gợi mở, những định hƣớng giúp các hộ nông dân vùng đệm VQG có thể cải thiện và phát triển những sinh kế mới nhằm đảm bảo về mặt thu nhập và việc làm trong tƣơng lai. 4 - Đối với tác giả của đề tài, thông qua nghiên cứu này đã nâng cao đƣợc những hiểu biết về thực tế phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG nói riêng.
Những đóng góp mới của đề tài - Góp phần làm sáng tỏ thực tế những khác biệt trong hoạt động sinh kế của các hộ nông dân tại vùng đệm VQG Ba Bể so với các vùng nông thôn miền núi khác. - Đề tài cũng làm rõ đƣợc mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn tài nguyên rừng VQG Ba Bể với những hoạt động sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm. - Phát hiện và làm rõ những tiềm năng cho cải thiện sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQ Ba Bể làm cơ sở cho việc đƣa ra những giải pháp cải thiện sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu 1. Cấu trúc của khóa luận Cấu trúc của khóa luận gồm 5 phần Phần 1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Đối tƣợng,nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và phân tích Phần 5. Các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Nam Mẫu thuộc vùng đệm VQG Ba Bể 5 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.
Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG a. Khái niệm vùng đệm - Vùng đệm là một thuật ngữ tƣơng đối mới, mặc dù nguyên lý của nó đã đƣợc sử dụng trong 1 thời gian dài. Quản lý vùng đệm là 1 lĩnh vực đƣợc tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, gây khó khăn cho việc đƣa ra 1 định nghĩa chung. Trong phần này, chúng tôi đƣa ra một số khái niệm về vùng đệm trên thế giới và trong nƣớc [5].
- Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nƣớc nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tƣợng bảo vệ [5]. – Chia vùng đệm thành 2 loại chính: + Vùng đệm có dân sinh sống + Vùng đệm không có dân sinh sống – Vị trí vùng đệm: nằm liền kề ngoài KBT, bao quanh KBT và không thuộc KBT. – Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm: + Ranh giới phía bên trong vùng đệm: là ranh giới giữa KBT và vùng đất đai bao quanh KBT.
+ Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT; ranh giới đó thƣờng đƣợc xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con ngƣời tạo ra nhƣ: vách núi, đƣờng mòn, đƣờng ô tô, đƣờng sông, đƣờng sắt, các con suối, hồ chứa nƣớc… 6 b. Vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên VQG đã phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ở Việt Nam, lần đầu tiên vùng đệm đƣợc đƣa vào quy hoạch cho VQG Cúc Phƣơng và sau đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG khác. Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt đƣợc xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi.
Điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG.