Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng và kinh tế - xã hội của Việt Nam, chiếm 16,8% tổng diện tích tự nhiên cả nước với hơn 5,44 triệu ha đất. Đây là nơi bắt nguồn của 4 hệ thống sông liên tỉnh lớn gồm sông Sê San, sông Ba - Ayun, sông Sêrêpôk và sông Đồng Nai, cung cấp hơn 22% tổng trữ lượng thủy năng toàn quốc cho 11 nhà máy thủy điện lớn có tổng công suất vượt 4.500 MW. Tuy nhiên, giai đoạn 2005 - 2012 ghi nhận sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng khi toàn vùng mất đi 234.803 ha rừng tự nhiên, kéo tổng diện tích rừng tự nhiên từ 2.828.657 ha xuống còn 2.593.854 ha. Riêng giai đoạn 2007 - 2011, báo cáo của ngành nông nghiệp cho thấy diện tích rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên đã sụt giảm 129.686 ha do áp lực di dân tự do, chuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su và tình trạng khai thác trái phép.

Đứng trước thực trạng trên, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá toàn diện thực trạng, cấu trúc, các nhân tố tác động và xác định những khoảng trống thể chế nhằm đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại Tây Nguyên. Nghiên cứu giới hạn không gian khảo sát chuyên sâu tại 2 địa bàn trọng điểm là tỉnh Kon Tum (đại diện Bắc Tây Nguyên) và tỉnh Lâm Đồng (đại diện Nam Tây Nguyên) trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ hơn 432.335 ha rừng phòng hộ hiện có, nâng cao khả năng điều tiết nguồn nước lưu vực, giảm thiểu thiệt hại từ hơn 40 trận lũ quét từng xảy ra trong khu vực và tạo cơ sở sinh kế bền vững cho hơn 47 dân tộc anh em đang sinh sống tại địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Lý thuyết Hệ thống Sinh thái - Kinh tế - Xã hội, xem rừng phòng hộ đầu nguồn là một phân hệ mở có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa các quy luật sinh học tự nhiên và các hoạt động kinh tế nhân sinh. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp Khung Quy hoạch Quản lý Rừng Đa tác dụng (Multiple-Use Forest Management Planning Framework) được phát triển trên thế giới nhằm dung hòa đồng thời 3 chức năng chính: bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp giá trị kinh tế trực tiếp và duy trì ổn định văn hóa - xã hội.

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản trị Tài nguyên Rừng Dựa vào Cộng đồng (CBFM) và Lý thuyết Phân cấp Quản lý Lâm nghiệp cấp cơ sở để giải quyết xung đột lợi ích giữa cơ quan quản lý nhà nước và cư dân bản địa. Các khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTg; Cơ chế tự chủ của Ban quản lý rừng phòng hộ là đơn vị sự nghiệp có thu theo Quyết định 08/2001/QĐ-TTg; Chính sách giao đất, giao khoán rừng theo Nghị định 02/CP và Quyết định 01/1995/QĐ-TTg; và Cơ chế Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) gắn với quyền hưởng lợi của cộng đồng theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa nguồn dữ liệu thứ cấp từ Cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp & PTNT giai đoạn 2005 - 2013 và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa qua công tác ngoại nghiệp:

  • Cỡ mẫu điều tra xã hội học: Tổng số 300 đối tượng khảo sát chuyên sâu được thiết lập, bao gồm 160 hộ dân bản địa tại 16 thôn thuộc 8 xã của 4 huyện (Đăk Hà, Kon Rẫy thuộc Kon Tum; Lạc Dương, Đam Rông thuộc Lâm Đồng), 80 cán bộ quản lý lâm nghiệp cấp huyện và 60 cán bộ chuyên trách cấp tỉnh.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với hộ gia đình, phân chia thành 2 nhóm rõ rệt: nhóm các hộ có tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng và nhóm đối chứng gồm các hộ không tham gia nhận khoán nhằm so sánh chính xác mức độ chênh lệch thu nhập và ý thức bảo vệ rừng.
  • Phương pháp điều tra sinh thái và cấu trúc rừng: Tiến hành lập các ô tiêu chuẩn định lượng có diện tích 1.000 m2 trên các tuyến điều tra đại diện xuyên qua các trạng thái rừng đặc trưng tại Kon Tum và Lâm Đồng; thực hiện đo đếm các chỉ tiêu sinh trắc học cơ bản gồm đường kính thân ngang ngực (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn).
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Ứng dụng các công cụ đánh giá nông thôn nhanh (RRA), đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) và học hỏi cùng hành động (PLA) kết hợp ma trận phân tích mâu thuẫn bên liên quan. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo thu thập đầy đủ cả số liệu định lượng lẫn các yếu tố định tính về tập quán canh tác, tri thức bản địa và các rào cản thể chế mà số liệu thống kê đơn thuần không phản ánh được. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp và phân tích định lượng bằng phần mềm xử lý số liệu chuyên ngành trong giai đoạn thực hiện 2012 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực địa và chuỗi thống kê 7 năm cho thấy 4 phát hiện cốt lõi về tài nguyên và công tác quản lý rừng phòng hộ tại Tây Nguyên:

  • Thứ nhất, diễn biến suy thoái diện tích rừng tự nhiên diễn ra ở mức báo động: Giai đoạn 2005 - 2012, toàn bộ diện tích rừng bị suy giảm 69.273 ha của Tây Nguyên đều tập trung vào rừng tự nhiên (giảm 234.803 ha, tương đương giảm 8,3%). Mặc dù diện tích rừng trồng tăng trưởng vượt bậc 165.540 ha (tăng gấp 2 lần từ 165.540 ha năm 2005 lên 331.080 ha năm 2012), nhưng tốc độ phát triển rừng trồng mới chỉ bù đắp được khoảng 70% diện tích rừng tự nhiên bị triệt hạ. Rừng trồng thuần loài chưa thể thay thế ngay chức năng phòng hộ đầu nguồn xung yếu của rừng tự nhiên đa tầng tán.
  • Thứ hai, diện tích rừng phòng hộ tại 2 tỉnh khảo sát sụt giảm liên tục: Trong giai đoạn 2007 - 2013, diện tích rừng phòng hộ tỉnh Kon Tum giảm 21.892,5 ha (từ 186.660 ha xuống còn 164.767,5 ha), trong đó suy giảm đột ngột 21.924,3 ha chỉ trong giai đoạn 2007 - 2011 do làn sóng di dân cơ học. Tỉnh Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 3.824,3 ha (từ 173.553 ha xuống 169.728,7 ha). Riêng tại huyện Đam Rông, việc chuyển đổi công năng đã khiến 476 ha rừng rất xung yếu và 3.397 ha rừng xung yếu bị chuyển sang rừng sản xuất.
  • Thứ ba, cấu trúc rừng phòng hộ phân hóa rõ nét theo đai cao và tiểu vùng: Tại Kon Tum, rừng phòng hộ có tỷ lệ rừng gỗ lá rộng chiếm ưu thế tuyệt đối với 73,1%, rừng tre nứa chiếm 11,1%, rừng lá kim chiếm 8,6% và rừng hỗn giao chiếm 7,3%, mật độ bình quân đạt 1.170 cây/ha (loài ưu thế gồm Trâm trắng, Dẻ móc, Vối thuốc). Tại Lâm Đồng, rừng phòng hộ gồm 60,5% rừng gỗ lá rộng kết hợp lá kim, 26,0% rừng hỗn giao và 13,5% rừng tre nứa; mật độ rừng hỗn loài đạt 1.200 cây/ha và rừng Thông ba lá thuần loài đạt 1.500 cây/ha. Rừng trồng phòng hộ Thông ba lá được duy trì với mật độ 1.100 cây/ha tại Kon Tum và 2.200 cây/ha tại Lâm Đồng.
  • Thứ tư, xung đột gay gắt giữa sinh kế và áp lực bảo vệ rừng: Thu nhập từ khoán bảo vệ rừng còn thấp, chưa đảm bảo nhu cầu sống cơ bản, dẫn đến việc người dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ để trồng cà phê (tại Lâm Đồng) và trồng sắn (tại Kon Tum). Đồng thời, tình trạng mất rừng đầu nguồn đã làm trầm trọng thêm thiên tai với hơn 40 trận lũ bùn đá và lũ quét ghi nhận từ năm 2008 đến 2013, trong đó trên 70% số vụ tập trung vào mùa mưa bão tháng 9 và tháng 10.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét các phát hiện trên biểu đồ diễn tiến diện tích giai đoạn 2005 - 2012 và bảng ma trận cơ cấu kiểu rừng, nguyên nhân gốc rễ của tình trạng mất rừng phòng hộ không chỉ nằm ở khía cạnh kỹ thuật lâm sinh mà bắt nguồn sâu xa từ những bất cập về kinh tế và thể chế. Đơn giá khoán bảo vệ rừng thấp khiến người dân bản địa (Xê Đăng, K'Ho) không mặn mà với công tác tuần tra. Khi giá trị các nông sản như cà phê, cao su và sắn tăng vọt, người dân có xu hướng chuyển đổi đất lâm nghiệp trái phép.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả quốc tế khi chỉ ra rằng việc chuyển giao rừng nếu thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và thiếu sự lồng ghép với chính sách nông nghiệp vùng đệm sẽ dẫn đến lỗi hệ thống: cả người được giao rừng lẫn người không được giao rừng đều tiếp tục khai thác quá mức tài nguyên. Sự phân bố dữ liệu trên bảng cấu trúc tầng tán cũng phản ánh rằng sự suy giảm chất lượng thảm thực vật tầng vượt tán và tầng cây gỗ lớn chính là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm khả năng giữ nước của đất (vốn đạt tới 250 mm/giờ ở trạng thái rừng nguyên vẹn), thúc đẩy nguy cơ lũ quét và xói mòn lòng hồ thủy điện.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế và bảo toàn diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn tại Tây Nguyên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Hoàn thiện thể chế và cơ chế hưởng lợi tài chính: Kiến nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT và UBND các tỉnh Tây Nguyên điều chỉnh khung đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng; mở rộng diện tích áp dụng chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) từ các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Sê San, Sêrêpôk, Đồng Nai. Mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ nghề rừng lên chiếm 30 - 40% cơ cấu thu nhập hộ gia đình nhận khoán; lộ trình hoàn thiện văn bản hướng dẫn trong giai đoạn 2015 - 2018.
  • Tái cấu trúc tổ chức và chuẩn hóa nhân sự quản lý: Kiện toàn 53 Ban Quản lý rừng phòng hộ trên toàn địa bàn Tây Nguyên theo đúng tinh thần Quyết định 08/2001/QĐ-TTg. Bố trí đủ định suất biên chế tối thiểu 1 người/1.000 ha rừng, thành lập Hạt Kiểm lâm trực thuộc đối với các ban quản lý có diện tích tập trung trên 20.000 ha; xây dựng quy chế phối hợp tuần tra liên ngành giữa chủ rừng, lực lượng kiểm lâm và chính quyền xã.
  • Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật lâm sinh và phòng chống thiên tai: Triển khai các biện pháp làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng các loài cây bản địa có khả năng phòng hộ cao như Sao đen (mật độ 1.600 cây/ha) và Thông ba lá (mật độ 1.100 - 2.200 cây/ha); duy trì nghiêm ngặt các dải rừng đệm phòng hộ ven sông suối rộng 30 - 60 m theo tiêu chuẩn quốc tế để cản lũ cát và sạt lở. Thiết lập hệ thống đường băng cản lửa kết hợp trạm dự báo cháy rừng thông minh nhằm giảm thiểu 50% nguy cơ cháy rừng trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
  • Thúc đẩy lâm nghiệp cộng đồng và bảo tồn tri thức bản địa: Giao quyền quản lý rừng phòng hộ có tư cách pháp nhân cho các cộng đồng thôn bản gắn với việc phát triển sinh kế dưới tán rừng (như trồng cây dược liệu, Sâm Ngọc Linh, Song mây); phát huy vai trò già làng, trưởng thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc giải quyết xung đột đất đai; đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông qua 100% hệ thống pa-nô và các buổi họp thôn bằng ngôn ngữ bản địa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu khoa học chuyên sâu, cung cấp nhiều giá trị ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và tài nguyên môi trường: Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Tây Nguyên sử dụng làm cơ sở dữ liệu khoa học để rà soát quy hoạch 3 loại rừng, điều chỉnh quy chế quản lý lưu vực sông và xây dựng chính sách lâm nghiệp đặc thù vùng Tây Nguyên.
  • Các Ban Quản lý rừng phòng hộ và Công ty lâm nghiệp: 53 Ban quản lý rừng phòng hộ đang quản lý 951.192 ha đất lâm nghiệp vùng Tây Nguyên (như BQL RPH Đa Nhim, Sêrêpôk, Đăk Hà, Kon Rẫy) tham khảo mô hình tổ chức bộ máy, phương án giao khoán bảo vệ rừng và quy trình kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đạt tiêu chuẩn sinh trưởng.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các trường đại học khối nông lâm nghiệp (Đại học Lâm nghiệp, Đại học Tây Nguyên, Đại học Nông Lâm) khai thác luận văn như tài liệu học thuật giá trị về phương pháp điều tra cấu trúc rừng, đánh giá kinh tế - xã hội có sự tham gia (PRA/RRA) và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển quốc tế: Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế bền vững (như các ban quản lý dự án 661, FLITCH) ứng dụng các bài học kinh nghiệm để xây dựng đề xuất dự án can thiệp tại các tiểu vùng xung yếu miền Trung - Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao rừng phòng hộ đầu nguồn Tây Nguyên lại giữ vai trò sinh thái sống còn đối với các khu vực hạ lưu? Rừng phòng hộ Tây Nguyên nằm ở thượng nguồn 4 hệ thống sông chính cung cấp hơn 22% thủy năng cả nước. Thảm thực vật rừng tự nhiên hấp thụ tới 250 mm nước mưa/giờ, giúp điều tiết nguồn nước cho hàng triệu ha đất nông nghiệp Duyên hải Miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời bảo vệ 11 nhà máy thủy điện lớn khỏi nguy cơ bồi lấp lòng hồ.

  • Đâu là nguyên nhân chính khiến diện tích rừng tự nhiên Tây Nguyên giảm hơn 234.000 ha giai đoạn 2005 - 2012? Nguyên nhân chủ yếu do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, tình trạng di dân tự do kéo dài làm tăng mật độ dân số vùng đệm, hoạt động khai thác lâm sản trái phép và sự bất cập trong chính sách phân cấp quản lý cấp cơ sở.

  • Luận văn áp dụng quy trình chọn mẫu điều tra như thế nào để đảm bảo tính đại diện khoa học? Tác giả đã chọn 2 tỉnh đặc trưng đại diện cho Bắc và Nam Tây Nguyên, khảo sát 4 huyện, 8 xã, 16 thôn với tổng quy mô 300 mẫu (160 hộ dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số và 140 cán bộ chuyên trách 3 cấp). Phương pháp chọn mẫu phân tầng có nhóm đối chứng giúp phản ánh khách quan thực trạng kinh tế - xã hội.

  • Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) có tác động như thế nào đến công tác quản lý rừng tại địa phương? Chính sách này tạo nguồn tài chính bền vững ngoài ngân sách nhà nước, giúp nâng cao đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng cho người dân, chuyển đổi nhận thức của đồng bào từ khai thác tài nguyên sang bảo vệ rừng tự nguyện, qua đó giảm thiểu đáng kể số vụ vi phạm lâm luật tại các khu vực thí điểm như Lâm Đồng.

  • Những loài cây nào được luận văn khuyến nghị lựa chọn cho công tác trồng rừng phòng hộ đầu nguồn? Nghiên cứu khuyến nghị ưu tiên trồng các loài cây bản địa có sức chống chịu cao và bộ rễ phát triển tốt như Sao đen (mật độ 1.600 cây/ha, chiều cao cây con 20 - 25 cm) và Thông ba lá (mật độ 1.100 - 2.200 cây/ha), kết hợp nuôi dưỡng các loài cây gỗ bản địa tái sinh như Trâm trắng, Dẻ móc và Giổi xanh.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện diễn biến suy giảm 234.803 ha rừng tự nhiên tại 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2005 - 2012 và chỉ ra các điểm nóng mất rừng phòng hộ tại Kon Tum và Lâm Đồng.
  • Cung cấp bức tranh chi tiết về cấu trúc thảm thực vật với mật độ từ 1.170 - 1.500 cây/ha, chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa sự suy thoái tầng tán rừng đầu nguồn và tần suất xuất hiện hơn 40 trận lũ quét, lũ bùn đá nguy hiểm.
  • Đóng góp hệ thống cơ sở dữ liệu thực chứng từ 300 phiếu điều tra xã hội học, làm sáng tỏ các rào cản về cơ chế hưởng lợi, bất cập trong giao đất khoán rừng và năng lực bộ máy của 53 Ban Quản lý rừng phòng hộ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, tích hợp đồng bộ giữa chính sách kinh tế lâm nghiệp, kỹ thuật lâm sinh và mô hình quản trị tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng thôn bản.
  • Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng cần khẩn trương thể chế hóa các đề xuất vào quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh tầm nhìn 2020 - 2030, hoàn thiện việc giao đất gắn với sinh kế bền vững nhằm bảo vệ vững chắc lá phổi xanh và nguồn an ninh nguồn nước quốc gia.