MỞ ĐẦU Hệ sinh thái tùng, áng là một dạng sinh thái nằm trong hệ sinh thái đất ướt. Dạng sinh thái này là một đặc thù của Vịnh Hạ Long cũng như Vịnh Bái Tử Long và khu vực đảo Cát Bà. Theo định nghĩa của các nhà khoa học: “áng” là các hồ chứa nước karst - vùng núi đá vôi, nằm giữa các đảo, còn “tùng” là các vũng nước có một cửa tương đối lớn thông với vịnh, nước được lưu thông, nhưng tương đối kín, độ trong cao, sóng ít. Áng, tùng - thực chất là những giếng (hoặc phễu), hồ bị ngập nước biển, với hình thái khép kín hoặc thông với biển qua hang ngầm, được hình thành do quá trình bào mòn, phong hoá của tự nhiên.
Những kiểu dạng tùng, áng như trên hình thành Hồ nước mặn từ những hố sụt karst trong quá trình kiến tạo, tạo nên những hố trũng thấp hơn mực nước biển trong vùng núi đá vôi được thông với biển bởi những cửa hẹp hay những hang ngầm. Sau một thời gian phát triển chúng tạo nên một kiểu hệ sinh thái đặc trưng, độc đáo đôi khi khác với các kiểu hệ sinh thái bên ngoài. Theo kết quả khảo sát của các nhà khoa học, trên khu vực Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và Cát Bà có tổng cộng 62 áng và 57 tùng. Tổng diện tích của 62 áng là 289,4ha, của 57 tùng là 1.
Các áng thường có đặc điểm sinh thái là chất đáy được cấu tạo bởi cát hoặc cát pha sỏi và vỏ sinh vật, độ sâu từ 1,5-4m, độ trong thường trong suốt đến đáy. Theo thống kê của các nhà khoa học, hệ sinh vật của các áng có 66 loài, bao gồm 21 loài rong, 37 loài động vật nhuyễn thể, 8 loài giáp xác và một số loài san hô. Trong đó có một số loài quý hiếm như trai ngọc, vẹm xanh, con sút, sò, rong guột. Với tùng, đặc điểm sinh thái chung là có chất đáy dạng cứng, độ trong có thể đạt 2m.
Tuỳ từng mỗi tùng mà số loài sinh vật khác nhau, tập trung ở 3 nhóm san hô, động vật đáy và rong biển. Trong các tùng đều tìm thấy các loài đặc sản như tu hài, ghẹ, sò huyết, sò lông, trai ngọc… Trong các tùng, các nhà khoa học còn tìm thấy 4 1 c loài sinh vật quí hiếm như ốc đụn đực, ốc đụn cái, trai ngọc môi đen và con sút. 4 loài này đã được ghi nhận là động vật cần được bảo vệ trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Điều lý thú là bên cạnh sự đặc sắc, phong phú và đa dạng sinh vật mang tính đặc trưng, các nghiên cứu khoa học còn cho thấy những thay đổi cơ bản về thành phần giống, loài trong áng, tùng của khu vực Hạ Long - Cát Bà giữa các mùa với số loài ưu thế khác nhau.
Vì vậy, các áng, tùng có thể coi như là một phòng thí nghiệm tự nhiên vô cùng giá trị, phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, điều này sẽ là một lý thú đặc biệt cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển. Có thể thấy rằng tùng, áng không những góp phần làm đa dạng sinh thái của Vịnh Hạ Long mà còn làm tăng giá trị cảnh quan vào loại bậc nhất nhì của di sản. Đó là một giá trị vô giá của hệ sinh thái đất ướt của Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và khu vực Cát Bà. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu về quần xã Giáp xác nhỏ ở khu vực này.
Vì vậy học viên thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại hệ sinh thái tùng, áng VQG Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”. Đây là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về quần xã giáp xác nhỏ ở khu vực tùng, áng của VQG Bái Tử Long nói riêng và khu vực tùng áng thuộc các đảo trên Vịnh Bắc Bộ nói chung. Mục tiêu của luận văn Có được cơ sở dữ liệu ban đầu về thành phần loài, phân bố quần xã giáp xác nhỏ trong hệ sinh thái tùng, áng. Nội dung của luận văn - Nghiên cứu thành phần loài giáp xác nhỏ tại hệ sinh thái tùng, áng VQG Bái Tử Long.
- Nghiên cứu đặc trưng phân bố của các loài giáp xác nhỏ tại hệ sinh thái tùng, áng VQG Bái Tử Long. Những đóng góp mới của luận văn 2 c - Luận văn đã ghi nhận 65 loài giáp xác nhỏ ở khu vực nghiên cứu. Trong đó lần đầu tiên ghi nhận 36 loài giáp xác nhỏ cho khu vực nghiên cứu, đa phần các loài này đều phân bố ở tầng đáy và ít được nghiên cứu trước đây; - Trong khuôn khổ luận văn đã bước đầu tính toán chỉ số phong phú loài d; và chỉ số đa dạng loài H’; của giáp xác nhỏ cho hệ sinh thái tùng, áng. - Luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu về sự phân bố của giáp xác nhỏ theo tầng mặt và tầng đáy trong điều kiện hệ sinh thái đặc trưng.
Tình hình nghiên cứu Giáp xác nhỏ trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu Giáp xác nhỏ ở nước ngoài 1. Giáp xác Amphipoda Hoạt động nghiên cứu thống kê, mô tả thành phần loài Amphipoda trên thế giới đã được tiến hành từ giữa thế kỷ XVIII, với công trình đầu tiên của Linnaeus, kết quả được công bố trong tác phẩm kinh điển Systema Naturae (1758). Tiếp sau là sự xác lập giống Gammarus của Fabricius (1775) và họ Gammaridae của Leach (1816).
Các công trình nghiên cứu về thành phần loài Amphipoda trong nhiều thế kỷ qua đã được thực hiện rộng khắp trên các vùng biển trên thế giới, ở các mức độ khác nhau, về phạm vi cũng như về đối tượng nghiên cứu. Trong số những nghiên cứu sớm vào cuối thế kỷ XIX, có thể kể công trình của Sars. Amphipoda vùng biển Châu Âu còn được tiếp tục khảo sát ở Địa Trung Hải, với các công trình của Myers A. (1982, 1989, 1993) về các họ Corophiidae, Gammaridae, Haustoriidae, Lysianassidae, Melphidippidae, Talitridae, Amphithoidae, Leucothoidae… Một trong những vùng biển được nghiên cứu nhiều về Amphipoda là vùng biển Bắc Mỹ, phía đông bắc Thái Bình Dương và bắc Đại Tây Dương, với hàng loạt các công trình của Barnard J.
từ 1950 tới 1980, Dickinson J.(1982) về các họ lớn của Phân bộ Gammaridea, như: Ampeliscidae, Gammaridae, Corophiidae, Amphithoidae, Phoxocephalidae, Podoceridae. Vùng biển phía tây bắc Thái Bình Dương cũng đã được nghiên cứu nhiều về Amphipoda. Công trình của Gurianova E. (1951) là một chuyên khảo lớn về Amphipoda Gammaridea các biển Liên Xô (cũ), bao gồm biển Bắc có 40 họ, 480 loài, biển Viễn Đông có 30 họ, 278 loài, biển Nam có 15 họ, 46 loài.
Amphipoda biển 4 c Nhật đã được nghiên cứu với các công trình của Bulycheva A. (1959, 1961, 1965, 1966) về các họ: Lysianassidae, Melitidae, Oedicerotidae, Phoxocephalidae, Urothoidae, Synopiidae, Ampeliscidae, Haustoriidae, Hyalidae. và gần đây có công trình của Aryiama H. (2007) về họ Kamakidae ở biển Nhật Bản.
Biển Triều Tiên còn ít được nghiên cứu, chỉ có công trình của Kim H. (1988, 1991) về Amphipoda - Gammaridea vùng biển này. Vùng biển Trung Quốc đã được nghiên cứu khá hoàn chỉnh, về thành phần loài Amphipoda Gammaridea, từ biển Hoàng Hải phía bắc tới biển Nam Hải phía Nam. Với các công trình của: Yu S.
(1994), và nhất là các công trình của Ren X. (1991-2006) được công bố tổng hợp trong Tập 41, Động vật chí Trung Quốc, bao gồm 359 loài thuộc 37 họ Amphipoda Gammaridea. Vùng biển phía nam Thái Bình Dương, Australia, New Zealand, cũng đã được nghiên cứu nhiều về Amphipoda, đặc biệt trong thời gian gần đây về Amphipoda rạn san hô Great Barrier, với các công trình của Barnard J. Từ những nghiên cứu này, đã xác lập nhiều giống mới, như trong họ Melitidae đã xác lập 6 giống mới từ giống Maera.
Nghiên cứu Amphipoda vùng biển Châu Phi đã có từ những năm đầu thế kỷ XX, với những công trình của Barnard K. Vùng biển Ấn Độ đã được nghiên cứu với các công trình của Chilton C. (1966, 1967, 1970), chú trọng các họ Ampeliscidae, Corophiidae, Amphithoidae, Melitidae, vùng bờ phía đông Ấn Độ. Riêng vùng phía nam biển Đông, khu vực biển phía đông nam Châu Á, cho tới nay, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều.
Trong vùng biển Việt Nam, chỉ mới 5 c có một số công trình của Đặng Ngọc Thanh (1965, 1967, 1968), Đặng Ngọc Thanh & Lê Hùng Anh (từ những năm 2000), Imbach M. Vùng biển Philippin, Malaysia có các công trình của Olerod R. (1993) về một số họ Ampeliscidae, Melitidae, Leucothoidae, Talitridae, Platyischnopidae. Vùng biển Thái Lan, chỉ mới biết có công trình của Somchai Busarawich (1985), thống kê 10 loài Amphipoda thuộc các họ Corophiidae, Melitidae, Talitridae, Hyalidae, Calliopidae tìm thấy ở rừng mangrove Vịnh Thái Lan và một công trình khác của Wongkamhang (2009), công bố 7 loài Amphipoda Gammaridea tìm thấy trong thảm cỏ biển ở đảo Libong, tỉnh Trang.
Hoạt động điều tra nghiên cứu Amphipoda còn được thực hiện trong các chuyến khảo sát lớn trên các đại dương trong thế kỷ trước. Chuyến khảo sát Challenger (1872- 1876) được tổ chức khảo sát xuyên đại dương từ tây sang đông, thu mẫu vật tới độ sâu 8. Các kết quả nghiên cứu về Amphipoda đã được công bố trong báo cáo của Stebbing (1988), phát hiện nhiều taxon mới. Chuyến khảo sát Siboga Expedition (1899-1900), thực hiện ở vùng biển đông nam Thái Bình Dương, ngang Indonesia và các đảo châu Đại Dương, kết quả đã được báo cáo trong công trình của Pirlot (1932- 1938), cho biết thành phần loài Amphipoda của vùng biển nhiệt đới quanh xích đạo.
Chương trình khảo sát NAGA (1959-1961) ở vùng biển Nam Việt Nam và Vịnh Thái Lan, các kết quả thu được đã được trình bày trong báo cáo Naga Report của Imbach (1967), thống kê được khoảng 40 loài Amphipoda Gammaridea cho vùng biển này, hầu hết là những loài mới cho khoa học. Giáp xác Copepoda Giáp xác chân chèo sống tự do đã được nghiên cứu từ thế kỷ XVIII trong công trình về hệ thống phân loại các nhóm động vật không xương sống của Linnaeus (1746). Sau đó là một loạt các nghiên cứu về phân loại học dựa trên các đặc điểm hình thái của Müller (1776), Jurine (1820), Milne-Edwards (1840), Brady (1883), Giesbrecht (1892). Hệ thống phân loại được Sars (1903 -1913) đề xuất về cơ bản vẫn được sử dụng trong thời gian dài sau đó (Sewell, 1929; Rylov, 1948; Borutzky, 1952).
Việc bổ sung nhiều taxon mới trong sự phát triển về phân loại học của nhóm này trong nửa 6 c cuối thế kỷ XX. Hiện nay hầu hết các tác giả đều chấp nhận và sử dụng rộng rãi hệ thống phân loại chia Copepoda làm 9 bộ của Boxshall & Halsey (2004). Trong số này các loài sống tự do ở nước ngọt hầu hết nằm trong 3 bộ: Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 24.400 giống và 210 họ đã được mô tả.