Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Sư phạm Ngữ văn với đề tài "Quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Tường Vi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (năm 2018).

Lý do chọn đề tài xuất phát từ sự chuyển dịch của ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là khuynh hướng ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học trong khoảng 30 năm trở lại đây. Trong ngữ pháp truyền thống, các yếu tố tình thái thường chỉ được xem xét như một bộ phận phụ trong cấu trúc câu (tình thái ngữ) hoặc chỉ khảo sát thái độ đơn thuần của người nói. Tuy nhiên, ngữ pháp chức năng khẳng định trong một phát ngôn, bên cạnh nghĩa sự tình (nội dung mệnh đề) luôn tồn tại nghĩa tình thái. Trong hệ thống các phương tiện biểu thị tình thái tiếng Việt, các tổ hợp như "có lẽ", "dễ thường", "nói của đáng tội", "nói khi vô phép", "theo tôi thì"... quen gọi là quán ngữ. Mặc dù xuất hiện với tần suất cao trong khẩu ngữ và văn học, cấu trúc ngữ nghĩa và chức năng tình thái của các quán ngữ này vẫn chưa được quan tâm và miêu tả thỏa đáng. Tác giả lựa chọn khảo sát quán ngữ tình thái qua ngòi bút Nam Cao trong tiểu thuyết Sống mòn bởi câu văn của Nam Cao dồn nén dung lượng thông tin lớn, thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc và chứa đựng nhiều sắc thái đánh giá tinh tế, không lạnh lùng khinh miệt. Đồng thời, nghiên cứu này đáp ứng định hướng đổi mới giáo dục hiện nay: phát triển năng lực tiếp nhận văn bản, giúp người học nhận biết các tầng nghĩa hàm ẩn trong giao tiếp và văn học nghệ thuật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Vận dụng lí luận ngôn ngữ học để khảo sát, phân loại và phân tích các quán ngữ biểu thị tình thái trong một tác phẩm văn học cụ thể là tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn Nam Cao.
  2. Đưa ra những nhận xét, đánh giá khoa học về vai trò và hiệu lực biểu đạt của quán ngữ biểu thị tình thái trong cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm.
  3. Làm rõ việc vận dụng khéo léo quán ngữ tình thái của Nam Cao trong việc cá tính hóa nhân vật, xây dựng ngôn ngữ hội thoại sinh động, qua đó làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quán ngữ tình thái trong câu văn nghệ thuật của Nam Cao.
  • Phạm vi nghiên cứu: Văn bản ngôn ngữ nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết Sống mòn (gồm 20 chương, sáng tác trong giai đoạn 1943–1944).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên sự tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại trong và ngoài nước:

  • Tình thái trong logic học và ngôn ngữ học: Khóa luận phân biệt tình thái khách quan trong logic học (chỉ xét giá trị chân ngụy, tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của phán đoán mà không xét thái độ chủ quan) và tình thái chủ quan trong ngôn ngữ học (phản ánh thái độ, ý kiến, sự đánh giá, cam kết của người nói đối với nội dung mệnh đề). Tác giả vận dụng quan niệm phân biệt giữa Dictum (nghĩa sự tình/nội dung mệnh đề) và Modus (nghĩa tình thái) của Charles Bally; quan niệm phân loại tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality) của F.R. Palmer; quan điểm của John Lyons, Von Wright, T. Givón.
  • Lý thuyết tình thái tiếng Việt: Kế thừa các công trình nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (phân biệt tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn; tầm tác dụng của yếu tố tình thái), Hoàng Phê, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Đức Dân (logic ngữ nghĩa từ hư, khuôn chất vấn), Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Bùi Trọng Ngoãn, Đoàn Thị Thu Hà, Trịnh Bích Thùy, Phạm Quỳnh Hồng Diễm.
  • Khái niệm và đặc điểm quán ngữ tình thái: Khóa luận định vị quán ngữ thuộc cụm từ cố định (ngữ cố định), nằm ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do và thành ngữ (dựa theo Đỗ Hữu Châu, Bùi Trọng Ngoãn, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Thiện Giáp, Võ Thị Minh Hà, Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha). Quán ngữ tình thái được xác định là những tổ hợp từ cố định đóng vai trò như các tác tử tình thái, vừa có chức năng đưa đẩy, rào đón, liên kết văn bản, vừa biểu thị thái độ, đánh giá nhận thức và điều biến lực ngôn trung.
  • Khung phân loại tình thái nhận thức: Áp dụng mô hình 3 tiểu loại tình thái nhận thức của F.R. Palmer và Nguyễn Văn Hiệp:
    1. Tình thái nhận thức thực hữu (factive modality): Xác nhận tính chân thực của sự tình dựa trên chứng cớ hoặc suy luận hiện thực.
    2. Tình thái nhận thức không thực hữu/tiềm năng (non-factive modality): Thể hiện sự đoán định, nhận định chủ quan chưa đảm bảo độ chân thực.
    3. Tình thái nhận thức phản thực hữu (counter-factive modality): Xác nhận sự tình là phi hiện thực hoặc trái ngược với thực tế.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ học:

  • Thủ pháp tổng hợp – thống kê: Thu thập, sàng lọc, thống kê tần số xuất hiện của các quán ngữ tình thái trong 20 chương của Sống mòn, phân loại theo các tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa.
  • Thủ pháp đối chiếu – so sánh: Đối chiếu giữa quán ngữ tình thái với cụm từ tự do, giữa các nhóm quán ngữ đồng nghĩa và dị nghĩa.
  • Thủ pháp cải biến (biến đổi ngữ pháp): Thay thế, lược bỏ hoặc chêm xen thành tố để kiểm tra hiệu lực biểu đạt và tính cố định của quán ngữ trong ngữ cảnh.
  • Phương pháp phân tích – miêu tả: Phân tích ngữ nghĩa – ngữ dụng của phát ngôn có chứa quán ngữ, miêu tả giá trị nghệ thuật trong việc khắc họa tính cách nhân vật và phong cách nhà văn.

Nguồn ngữ liệu khảo sát trực tiếp là toàn bộ văn bản tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan về tác phẩm Sống mòn

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về tình thái và quán ngữ tình thái trong tiếng Việt. Tác giả phân tích các phương tiện biểu thị tình thái qua ba bình diện: ngữ âm (ngữ điệu, trọng âm), ngữ pháp (trạng ngữ, khởi ngữ, câu ghép), và từ vựng (động từ tình thái, trợ từ/tiểu từ, thán từ, quán ngữ).

Về mặt hình thức, quán ngữ tình thái được phân chia theo số lượng thành tố (2 thành tố như biết đâu, có lẽ, thế mà; 3-4 thành tố như của đáng tội, nói khí vô phép, cố nhiên là), theo khả năng thay thế chêm xen (các tổ hợp mở như cứ như... thì, theo ý... thì và các tổ hợp khối cố định như ai bảo, thì ra), và theo vị trí phân bố trong câu (đầu phát ngôn hoặc cuối phát ngôn, thường có yếu tố phân cách như thì, là, mà tạo thành "thuyết tình thái").

Về ngữ nghĩa – chức năng, quán ngữ tình thái mang nghĩa của một khối hoàn chỉnh, thể hiện chức năng rào đón, biểu thị mức độ cam kết về tính chân thực, định hướng phản ứng người nghe và đóng vai trò siêu ngôn ngữ. Về mặt tác giả và tác phẩm, chương này tổng thuật về cuộc đời cầm bút của Nam Cao, hoàn cảnh ra đời của Sống mòn (tên ban đầu là Chết mòn, viết năm 1943–1944) – bức tranh hiện thực phản ánh cuộc sống nghèo khổ, bế tắc, mòn mỏi của giới trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám.

Chương 2: Khảo sát quán ngữ tình thái theo các phạm trù nội dung của tình thái nhận thức trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao

Chương 2 là phần nghiên cứu thực nghiệm định lượng và định tính. Tác giả tiến hành nhận diện, bóc tách và phân tích các nhóm quán ngữ tình thái nhận thức xuất hiện trong tác phẩm theo 3 phạm trù: thực hữu, tiềm năng và phản thực hữu.

Đối với nhóm quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu, tác giả lập bảng thống kê chi tiết tần suất và miêu tả ý nghĩa tình thái của 30 đơn vị quán ngữ tiêu biểu:

STT Quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu Số lần xuất hiện Ý nghĩa tình thái trong văn bản
1 Cố nhiên là P 29 Khẳng định dứt khoát tính chân thực của P, gạt bỏ/phủ nhận ý kiến đối lập.
2 Thế mà P 27 Biểu thị điều nêu ra là bất thường, trái với điều đáng lẽ xảy ra.
3 Thế là P 21 Nhấn mạnh P là kết quả tất yếu tiếp nối, khẳng định sự hoàn thành.
4 Đã đành P / đã đành rằng / là P 20 Xác nhận một sự thật dĩ nhiên để bổ sung một điều khác quan trọng hơn.
5 Thật ra P 19 Biểu thị P mới là sự thật, trái ngược với điều đã nói trước đó.
6 Ấy thế mà P / ấy thế P 15 Đánh giá sự tình là bất thường so với tiền giả định trước đó.
7 Thế thì P 13 Biểu thị P là giải pháp nên làm hoặc kết luận tất yếu rút ra.
8 Ấy là P (ấy thế là P) 12 Đánh giá sự tình tất yếu làm thay đổi, chuyển biến hành động.
9 P mà lại 10 Đưa ra lí lẽ giải thích chứng minh phát ngôn trước là đương nhiên đúng.
10 Thì ra / thế ra 9 Biểu thị sự thật vừa mới nhận ra, điều chỉnh nhận định trước đó.
11 Ai bảo P 8 Giải thích mối quan hệ nhân - quả, thể hiện thái độ phê phán, quy lỗi.
12 Nói thật P 5 Giả định P là điều người nghe chưa biết, tăng độ chân thực tin cậy.
13 Ai chả thế P 4 Biểu thị P là điều tất yếu hiển nhiên, thể hiện thái độ mỉa mai.
14 Rõ ràng 3 Khẳng định điều nói đến là sự thật hiển nhiên, ai cũng thấy được.
15 Nói khí vô phép / vô phép 3 Lời xin lỗi trước khi nói điều chưa tế nhị để tránh phản ứng tiêu cực.
16 Quả thật P 2 Xác nhận tuyệt đối tính chân thực của P, không còn nghi ngờ.
17 Biết ngay mà 2 Khẳng định khả năng đã được dự đoán chính xác trước khi diễn ra.
18 Dù có thế nào P 2 Cam kết sự tình xảy ra đúng như thế trong mọi hoàn cảnh.
19 Được cái (là) P 2 Đánh giá mặt tích cực bù trừ cho các mặt hạn chế khác.
20 Tóm lại 2 Dẫn nhập ý tổng kết, bao quát những điều đã trình bày.
21 Nói của đáng tội 2 Thanh minh, nói sự thật hạn chế nhằm tăng sức thuyết phục, làm tin.
22 Quả có như thế P 1 Khẳng định tuyệt đối sự tình có thật với hàm ý mỉa mai, chế giễu.
23 Tất nhiên là P 1 Thừa nhận P là điều tất yếu, không thể khác được.
24 Sự thật là 1 Khẳng định điều được nói đến là sự thật cần làm rõ.
25 P chứ còn gì nữa 1 Tái khẳng định dứt khoát điều trước đó, bác bỏ nghi ngờ.
26 Ít cùng ra 1 Khẳng định P là mức độ tối thiểu cần đạt đến để đảm bảo logic.
27 Nói chung 1 Dẫn nhập nhận định khái quát, không tính đến chi tiết cá biệt.
28 Suy rộng ra 1 Mở rộng phạm vi suy luận từ tiền đề trước đó.
29 Khổ một nỗi 1 Khẳng định đánh giá sự tình thực hữu mang tính tiêu cực, hạn chế.
30 Nói cho đúng 1 Điều chỉnh phát ngôn trước đó để đạt độ xác thực cao hơn.

Bên cạnh nhóm thực hữu, khóa luận phân tích nhóm quán ngữ tiềm năng (nghe đâu, xem ra, hình như, dường như, theo tôi thì...) thể hiện các phán đoán bấp bênh, chưa kiểm chứng; và nhóm quán ngữ phản thực hữu (làm như, chẳng lẽ, đáng lẽ, không có lẽ...) biểu thị sự phủ nhận tính có thực của mệnh đề.

Chương 3: Năng lực gợi dẫn của quán ngữ tình thái đối với thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn

Chương 3 tập trung làm rõ chức năng thẩm mỹ và hiệu quả nghệ thuật của quán ngữ tình thái trong văn bản văn học qua 3 khía cạnh:

  • Tái hiện không gian sống ngột ngạt và bi kịch tinh thần: Nhóm quán ngữ thực hữu phơi bày trần trụi hiện thực cơ cực, cơm áo gạo tiền; nhóm quán ngữ tiềm năng khắc họa sự dao động, bất an và bế tắc trong lý tưởng sống của các trí thức nghèo; nhóm quán ngữ phản thực hữu phản ánh thái độ trăn trở, mỉa mai và bất hòa sâu sắc của nhà văn trước thực tại phi lý.
  • Cá tính hóa nhân vật: Khảo sát dấu ấn sử dụng quán ngữ qua từng chân dung nhân vật:
    • Nhân vật Thứ: Sử dụng nhiều quán ngữ trí tuệ, suy tư, dằn vặt nội tâm (thật ra, cố nhiên là, đã đành, ấy thế mà).
    • Nhân vật San và Oanh: Phản ánh tính cách qua các quán ngữ mang tính áp đặt, lý sự hoặc thực dụng.
    • Vợ chồng Mô và vợ chồng ông Học: Phản ánh lời ăn tiếng nói bình dân, chân chất qua các quán ngữ khẩu ngữ mộc mạc (nói khí vô phép, của đáng tội, khổ một nỗi).
  • Phong cách nghệ thuật của Nam Cao: Quán ngữ tình thái khẳng định đặc trưng phong cách viết giàu yếu tố tình thái, tính đa thanh, sự đan xen giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật (lời nửa trực tiếp), cùng chất giọng đậm tính khẩu ngữ Bắc Bộ tự nhiên, sống động.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập cơ sở thực chứng định lượng về hệ thống quán ngữ tình thái trong Sống mòn, điển hình là nhóm nhận thức thực hữu với 30 đơn vị và hơn 210 lượt xuất hiện trong văn bản. Các quán ngữ có tần suất cao nhất gồm: Cố nhiên là (29 lần), Thế mà (27 lần), Thế là (21 lần), Đã đành (20 lần), Thật ra (19 lần), Ấy thế mà (15 lần), Thế thì (13 lần), Ấy là (12 lần), P mà lại (10 lần), Thì ra/thế ra (9 lần), Ai bảo (8 lần).
  • Chứng minh quán ngữ tình thái không đơn thuần là từ đệm đưa đẩy mà là phương tiện ngữ dụng quan trọng, tham gia trực tiếp vào việc tổ chức ngữ nghĩa phát ngôn, định hướng lập luận, liên kết văn bản và bộc lộ thái độ đánh giá liên chủ thể.
  • Chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa phương tiện ngôn ngữ (quán ngữ) và thi pháp tiểu thuyết Nam Cao: quán ngữ là công cụ đắc lực để miêu tả diễn biến tâm lý phức tạp, cá tính hóa nhân vật và kiến tạo giọng điệu trần thuật trăn trở, xót xa.

Đóng góp của đề tài

  • Về lý luận: Củng cố và cụ thể hóa lý thuyết về quán ngữ tình thái trong tiếng Việt theo khuynh hướng ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học; xác lập tiêu chí nhận diện và phân loại quán ngữ theo phạm trù tình thái nhận thức.
  • Về thực tiễn: Cung cấp bảng ngữ liệu khảo sát có hệ thống về quán ngữ tình thái trong tác phẩm của một tác giả văn học tiêu biểu, đóng góp cứ liệu phục vụ nghiên cứu phong cách học và ngôn ngữ học văn bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Ngữ liệu khảo sát của khóa luận mới chỉ giới hạn trong phạm vi một tác phẩm đơn lẻ (Sống mòn) của Nam Cao; sự miêu tả tập trung phần lớn vào phân loại tình thái nhận thức mà chưa mở rộng đào sâu tương đương đối với phạm trù tình thái đạo nghĩa (deontic modality).
  • Hướng mở rộng:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát quán ngữ tình thái sang toàn bộ truyện ngắn và các sáng tác khác của Nam Cao để có cái nhìn toàn diện về phong cách ngôn ngữ của tác giả.
    • Mở rộng so sánh, đối chiếu việc sử dụng quán ngữ tình thái giữa Nam Cao và các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời (như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng).

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn và Ngôn ngữ học tiếng Việt trong việc ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học (tình thái, hành động nói, hàm ngôn) vào phân tích văn bản.
  • Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông khi giảng dạy các bài học về thành phần câu, cụm từ cố định, ngữ dụng học tiếng Việt và các tiết đọc hiểu tác phẩm văn học của Nam Cao theo định hướng tích hợp ngôn ngữ – văn học.
  • Người nghiên cứu về phong cách học, thi pháp học tiểu thuyết hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930–1945.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với bảng phân loại ngữ nghĩa – tần số xuất hiện của 30 quán ngữ thực hữu và Chương 3 về kỹ thuật phân tích hiệu lực nghệ thuật của các phương tiện ngôn ngữ học.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong tiểu thuyết Sống mòn, quán ngữ tình thái nhận thức thực hữu nào xuất hiện với tần số cao nhất? Quán ngữ xuất hiện nhiều nhất là "Cố nhiên là P" với 29 lần xuất hiện, tiếp theo là "Thế mà P" (27 lần), "Thế là P" (21 lần), "Đã đành P/rằng/là P" (20 lần) và "Thật ra P" (19 lần).

2. Quán ngữ "Ai bảo P" trong tiểu thuyết Sống mòn có ý nghĩa sự tình và ý nghĩa tình thái như thế nào? Về nghĩa sự tình, "Ai bảo P" biểu hiện mối quan hệ nhân quả giải thích cho sự việc xảy ra. Về nghĩa tình thái, quán ngữ này thể hiện thái độ phê phán, chê trách và quy lỗi cho một sự tình tiêu cực, xuất phát từ tiền giả định đã có sự thỏa thuận hoặc hiểu biết chung giữa các nhân vật giao tiếp (xuất hiện 8 lần trong tác phẩm).

3. Khóa luận phân biệt quán ngữ tình thái với cụm từ tự do dựa trên những tiêu chí nào? Khóa luận căn cứ vào: (1) Tính khối hoàn chỉnh và độ ổn định về cấu trúc ngữ nghĩa (quán ngữ mất dần nghĩa từ vựng cụ thể của từng thành tố, không tự do chêm xen hay thay thế từ đồng nghĩa mà không làm đổi nghĩa tình thái); (2) Cương vị ngữ pháp (cụm từ tự do làm tiêu điểm ngữ nghĩa của câu, còn quán ngữ tác động lên toàn bộ phát ngôn, bổ sung ý nghĩa tình thái); (3) Ngữ cảnh giao tiếp (quán ngữ phụ thuộc vào ngữ cảnh và phản ánh thái độ, rào đón người nghe thay vì chỉ truyền đạt thông tin sự tình).

4. Quán ngữ tình thái đóng góp như thế nào vào việc cá tính hóa nhân vật Thứ và các nhân vật bình dân trong Sống mòn? Đối với nhân vật Thứ (trí thức tiểu tư sản), Nam Cao sử dụng dày đặc các quán ngữ trí tuệ, suy luận và phản tỉnh (thật ra, cố nhiên là, đã đành, ấy thế mà) để thể hiện sự giằng xé nội tâm và nhận thức bế tắc. Đối với các nhân vật tầng lớp dưới như vợ chồng Mô hay vợ chồng ông Học, tác giả dùng các quán ngữ khẩu ngữ mộc mạc, đậm tính ứng xử dân gian (nói khí vô phép, của đáng tội, khổ một nỗi) để làm nổi bật vẻ chân chất, cam chịu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Tường Vi đã vận dụng hệ thống lý thuyết tình thái và ngữ pháp chức năng để miêu tả, khảo sát toàn diện hệ thống quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao. Thông qua các số liệu thống kê thực chứng, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của các lớp quán ngữ nhận thức thực hữu, tiềm năng và phản thực hữu. Nghiên cứu khẳng định giá trị của quán ngữ tình thái như một phương tiện thi pháp đắc lực giúp Nam Cao khắc họa sâu sắc tâm lý nhân vật, tái hiện chân thực bức tranh đời sống ngột ngạt và định hình phong cách nghệ thuật độc đáo.