mở đầu câu) [56, tr.249], nhƣ có lẽ, tất nhiên, những cấu trúc chủ - vị (đề - thuyết) có tôi làm chủ thể của một vị từ, bằng những vị từ tình thái mà bổ ngữ là cấu trúc vị ngữ hạt nhân, bằng những trợ từ tình thái đặt trong ngữ đoạn vị từ hay ở ngoài đoạn này, chẳng hạn nhƣ cuối câu. Qua các nhận xét trên, chúng tôi nhận ra vai trò của các từ biểu thị tình thái trong tổ chức trừu tƣợng của câu vẫn chƣa đƣợc nhận thức đầy đủ, nhƣng không ít các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng phong phú cả các đơn vị biểu hiện này. Tập 13 hợp những ý kiến của các tác giả về vấn đề các phƣơng tiện biểu thị tình thái trên, chúng tôi xác lập ba phƣơng diện sau là phƣơng tiện biểu thị tình thái, bao gồm: a. Các phƣơng tiện ngữ âm: dùng ngữ điệu để thể hiện thái độ hoặc cách nhìn nhận của ngƣời nói đối với điều đƣợc nói đến trong câu.
Sử dụng trọng âm và biến âm có chủ ý để thể hiện đƣợc ý nghĩa tình thái trong câu. Bằng cách ngữ điệu, trọng âm hoặc lên giọng ngƣời giao tiếp có thể nhận thấy đƣợc thái độ trong phát ngôn đó. Dùng ngữ điệu bằng cách lên giọng hoặc xuống giọng ở những ngữ đoạn nhất định để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc nhấn mạnh vào điểm mà ngƣời nói cho là cần chú ý là loại phƣơng tiện ngôn điệu phổ biến ở tiếng Anh, Pháp… Tiếng Việt rất ít dùng ngữ điệu mà thay vào đó nhấn giọng hay dài giọng ở các trợ từ nhấn mạnh cuối câu hoặc các thành phần khác của câu, hay kết hợp ngữ điệu với trọng âm để gắn ngữ điệu với cách nhấn âm tiết. Ví dụ khi ngƣời nói lên giọng “Giỏi nhỉ” đã biểu hiện sắc thái khác nhau trong từng ngữ cảnh khác nhau: -Hôm nay con làm toán đƣợc 10 điểm (nếu nhƣ ngƣời con này học có tiến bộ) thì “giỏi nhỉ” đƣợc dùng nhƣ là một lời khen ngợi.
-Con ráng trứng bị cháy thì “giỏi nhỉ” (Hành động làm cháy trứng: chỉ chủ thể hành động chủ động làm một việc X nào đấy nhƣng thành quả lại bị thất bại). Từ dùng giỏi nhỉ nhằm chỉ sự chê trách của ngƣời nói. Các phƣơng tiện ngữ pháp: Tất cả các phƣơng tiện ngữ pháp hầu nhƣ đều biểu thị ý nghĩa tình thái nhƣ tình thái ngữ, trạng ngữ, chú thích ngữ, khởi ngữ, các kiểu cấu trúc câu bất thƣờng: câu đặc biệt, câu dƣới bậc, câu tỉnh lƣợc và đặc biệt là các kết từ trong câu ghép. Các phƣơng tiện từ vựng: Các tính từ tình thái nhận thức, động từ tình thái nhận thức, trạng từ tình thái nhận thức, danh từ tình thái nhận thức trong tiếng Anh, hoặc các quán ngữ tình thái, tiểu từ tình thái, phó từ tình thái, động từ tình thái… trong tiếng Việt.
Cụ thể, đƣợc biểu hiện qua các mặt: (1) Các động từ tình thái: muốn, toan, định, dám hòng, … (2) Các trợ từ, tiểu từ tình thái: à, ƣ, nhỉ, nhé, cơ, ngay, cả, … 14 (3) Các động từ chỉ thái độ mệnh đề gắn với cấu trúc câu ghép: lo rằng, tiếc là, ngờ rằng, sợ rằng, … (4) Các động từ ngữ vi: hỏi, mời, khuyên, yêu cầu, đề nghị tuyên bố, hứa, cam đoan, … (5) Các thán từ: ôi, chao, trời ơi, chết, ối dào, ối giời ơi, … (6) Các phó từ, tổ hợp phó từ, tổ hợp liên từ: có lẽ là, ắt là, đƣơng nhiên là, hay là, quả thực là, thực tình là, ấy thế mà, … (7) Các cụm từ biểu hiện ý nghĩa tình thái mang tính chất cố định nhƣ: làm nhƣ… không bằng, xem ra, nghe đâu, nghe nói, nghe bảo, thế nào cũng, theo ý tôi, nói tóm lại là, ƣớc gì… (8) Các quán ngữ biểu thị tình thái: nói của đáng tội, nói khí vô phép, chẳng giấu gì… 1. Khái niệm quán ngữ biểu thị tình thái Quán ngữ thuộc kiểu đơn vị từ vựng. Vì vậy, khái niệm quán ngữ chúng ta thƣờng bắt gặp nhiều trong nghiên cứu từ vựng hơn là trong nghiên cứu ngữ pháp. Quán ngữ là đơn vị thuộc cụm từ cố định.
Đơn vị dùng làm chất liệu cơ sở để tạo ra câu – đơn vị giao tiếp – không phải chỉ có từ. Ngoài từ ra, còn có một loại đơn vị gọi là cụm từ cố định. Khái niệm cụm từ cố định đƣợc khái quát: “Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tƣ cách một đơn vị có sẵn nhƣ từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nhƣ từ” [12, tr. Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tƣ cách là một đơn vị có sẵn, mang tính xã hội hóa cao nhƣ từ, có cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nhƣ từ, có chức năng làm đơn vị cơ sở để tạo câu nhƣ từ.
Cũng nhƣ từ, cụm từ cố định nằm trong thành phần từ vựng của ngôn ngữ, cũng đƣợc hệ thống hóa trong từ điển, cũng đƣợc gọi là đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật hiện tƣợng… của thực tế. Tuy nhiên, cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các từ cấu tạo nên (muốn có các cụm từ cố định thì trƣớc hết phải có các từ). Từ ghép và cụm từ tự do là những đơn vị lân 15 cận, dễ lẫn với cụm từ cố định. Vì vậy, để nhận diện cụm từ cố định, cần phân biệt nó với các đơn vị này.
Phân loại cụm từ cố định tiếng Việt nhƣ sau: Cụm từ / ngữ cố định Thành ngữ Quán ngữ Ngữ định danh Ngữ cố định là đơn vị do các từ tạo nên, có cấu tạo ổn định và có tính thành ngữ. Ngữ cố định tƣơng ứng với từ ở tính hiển nhiên tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ và thực hiện chức năng tạo câu trong hoạt động. Căn cứ vào mức độ của tính thành ngữ mà ngữ cố định đƣợc chia thành quán ngữ và thành ngữ. “Quán ngữ là cách nói quen thuộc (cấu tạo có tính ổn định của ngữ cố định) dùng để đƣa đẩy, rào đón, liên kết” [13, tr.
Còn thành ngữ là đơn vị đặc trƣng của ngữ cố định về tính ổn định trong cấu tạo và giá trị biểu trƣng về mặt nghĩa. Ví dụ: quán ngữ khẩu ngữ: của đáng tội, nói khí phải, vô phép…; quán ngữ sách vở: nói tóm lại, suy rộng ra, theo tôi thì… Trong quán ngữ tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc không đƣợc nhƣ thành ngữ. Dáng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng đƣợc ngƣời ta thƣờng xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định và rồi ngƣời ta quen dùng nhƣ một đơn vị có sẵn.
Vũ Đức Nghiệu còn phân loại các quán ngữ của Tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng. Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: của đáng tội, khí vô phép, khổ một nỗi là, nói bỏ ngoài tai, nói dại đó đi, còn mồ ma, nó chết (mọt) cái là, nói…bỏ quá cho, cắn rơm cắn cỏ, chẳng nước non gì, dùng một cáu, chẳng ra chó gì, nói trộm bóng vía…Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận…) hoặc diễn giảng nhƣ: nói tóm lại, có thể nghĩ rằng, ngược lại, một mặt thì, mặt khác thì, có nghĩa là, như trên đã nói, từ đó suy ra, có thể cho rằng, như sau, như dưới đây, như đã nêu trên, sự thực là, vấn đề là ở chỗ… 16 Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua đƣợc và chức năng của chúng có thể chứng minh đƣợc không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng nhƣ những đặc trƣng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào.
Mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ bên kia một chút hay ngƣợc lại. Từ là đơn vị từ vựng cơ bản. Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ, còn tồn tại rất nhiều đơn vị từ vựng là các cụm từ, những cụm từ này có nhiều điểm giống với từ. Chúng cũng có khả năng tái hiện trong lời nói nhƣ các từ, về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu thị những hiện tƣợng của thực tế khách quan gắn liền với các kiểu hoạt động khác nhau của con ngƣời.
Chính vì vậy, chúng cũng đƣợc hệ thống hóa trong các từ điển. Những đơn vị từ vựng này thƣờng đƣợc gọi là những thành ngữ, quán ngữ. 209] Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi, hồn xiêu phách lạc, nói thánh nói tƣớng… “Quán ngữ là những cụm từ đƣợc dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đƣa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách thƣờng có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ: của đáng tội, nói khi vô phép, nói bỏ ngoài tai… thƣờng đƣợc dùng trong phong cách hội thoại, các quan ngữ: như trên đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, thường được dùng trong phong cách sách vở.
Về nghĩa của chúng nhƣ về hình thức, các cụm từ trên chẳng khác gì các cụm từ tự do, nhƣng do nội dung của chúng đã trở thành điều thƣờng xuyên phải cần đến trong sự suy nghĩ và diễn đạt mà chúng đƣợc dùng lặp đi lặp lại nhƣ một đơn vị có sẵn. 17 Đỗ Hữu Châu phân loại ngữ cố định bằng cách: tách những ngữ trung gian với cụm từ tự do thành một loại gọi là quán ngữ, còn những trƣờng hợp còn lại, tức những trƣờng hợp trung gian với từ phức và các ngữ cố định thực sự là các thành ngữ. Ông cho rằng: quán ngữ là những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do. Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tƣơng đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật.