Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÌNH THỨC QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ðỒNG CÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TẬP TRUNG TẠI NÔNG THÔN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ðỒNG CÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TẬP TRUNG TẠI NÔNG THÔN 1. Khái niệm hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng các công trình cấp nước tập trung tại nông thôn 1. Khái niệm cộng ñồng Cộng ñồng là khái niệm có thể hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Từ khái niệm nghĩa rộng có thể hiểu cộng ñồng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau theo nghĩa hẹp như: - Những cộng ñồng về ñịa lý có thể bao gồm một vùng, một thị trấn, hoặc một nhóm nông trại trải dài theo không gian rộng. - Một cộng ñồng ñồng nhất là một nhóm người có những mối quan tâm chung trên cơ sở có cùng nghề nghiệp, vǎn hoá, hiểu biết, tôn giáo hoặc các hoạt ñộng giải trí. - Các cộng ñồng có thể là cộng ñồng doanh nghiệp; cộng ñồng sinh viên học sinh; cộng ñồng nông nghiệp; hay rộng lớn hơn là nhóm các quốc gia như Cộng ñồng Chung châu Âu. Một cá nhân có thể ñồng thời thuộc về vài cộng ñồng tại cùng một thời ñiểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng ñồng số thành viên thường 14 có xu hướng biến ñổi.
Cộng ñồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình xóm giềng truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc. Có nhiều khái niệm về cộng ñồng, theo nghĩa hẹp, trong ñó nổi bật 2 khái niệm sau: Marcia L. Conner cho rằng “cộng ñồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm”[ 82, 17-20]. Moriarty lại cho rằng “Cộng ñồng sinh ra và tồn tại do một nhóm những người ñồng sở thích, nhưng cộng ñồng không chỉ có nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân ñó mà nó còn bao hàm cả mối quan hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên” [104, 16] [105, 112].
Trong nghiên cứu, luận án sử dụng khái niệm của Marcia L. Conner, vì khái niệm này ñã phản ánh ñược những ñặc trưng mang tính bản chất của cộng ñồng. Bởi vì, có cùng quan tâm là nền tảng ñể xây dựng nên diễn ñàn của các nhóm ñồng sở thích, cơ sở của diễn ñàn mà từ ñó các thành viên tác ñộng lẫn nhau ñưa ñến kết quả là cùng văn hoá, cùng quan ñiểm và cùng nhóm xã hội. Cộng ñồng có nguồn gốc từ tiếng Latin là “với quà tặng” còn gợi cho chúng ta liên tưởng ñến sự thống nhất, thông cảm, chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi khi cùng làm việc chung [69, 11-17] [74, 47-50].
Trên thực tế, không có một cộng ñồng thuần chất. Trong một cộng ñồng có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác nhau, có trình ñộ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối quan tâm và lợi ích chung. Vì vậy, quản lý dựa vào cộng ñồng cần tính ñến sự tham gia của ñại diện của tất cả các nhóm khác nhau trong cộng ñồng và lợi ích là sự liên kết họ. Khái niệm hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng Theo Madeleen Wegelin-Schuringa: “Hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng là một tập hợp mô hình quản lý có sự tham gia của cộng ñồng, trong ñó cộng ñồng là người ñưa ra quyết ñịnh cuối cùng về tất cả các vấn ñề quan 15 trọng nhất liên quan ñến quá trình lập kế hoạch, triển khai thực hiện ñầu tư, và chịu trách nhiệm chính trong vận hành và bảo dưỡng hệ thống sau khi ñược ñầu tư” [80, 27-28] [82, 115].
Khái niệm này phù hợp với ñặc trưng riêng của ngành cấp nước tập trung. Vì vậy ñược sử dụng làm cơ sở nghiên cứu của luận án. Các tiêu chí chủ yếu ñể xác ñịnh hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng, gồm: - Vai trò: cộng ñồng ñóng vai trò làm chủ và chịu trách nhiệm chủ yếu về sự thành công hay thất bại của công trình cấp nước. - Chức năng nhiệm vụ: Cộng ñồng là ñại diện hợp pháp của người sử dụng và ñơn vị quản lý, ñưa ra các quyết ñịnh liên quan ñến sự ra ñời, tồn tại và phát triển của công trình cấp nước.
- Quyền kiểm soát: cộng ñồng có quyền và khả năng cân nhắc những tác ñộng tới người hưởng lợi khi các chủ trương, chính sách và quyết ñịnh của mình ñược ban hành và có hiệu lực. - Về mặt pháp lý: Cộng ñồng ñược công nhận là chủ sở hữu thực tế của công trình hoặc là ñơn vị có quyền hợp pháp vận hành, khai thác công trình qua hợp ñồng ký kết với cơ quan chủ quản. Có khá nhiều tranh luận xung quanh vấn ñề nghĩa của khái niệm “dựa vào cộng ñồng”. Một số học giả cho rằng “một tổ chức thuộc hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng thì tất cả các thành viên tham gia quản lý ñều do dân bầu”, số khác lại cho rằng “tổ chức có ñại diện của dân bầu là tổ chức dựa vào cộng ñồng” [78] [82] [88] [94].
Như vậy, sẽ có hai loại hình tổ chức dựa vào cộng ñồng: 1) các thành viên ñều do dân bầu và ñại diện các nhóm có quyền lợi khác nhau trong cộng ñồng dân cư; 2) tổ chức có sự tham gia của ñại diện dân bầu. Vậy, tỉ lệ bao nhiêu thành viên dân bầu trong ban lãnh ñạo thì ñược gọi là hình thức quản lý tổ chức dựa vào cộng ñồng lại cũng cần ñược xác ñịnh trong từng ñiều kiện cụ thể. 16 Tuy nhiên, các học giả ñều có một thống nhất chung là tổ chức dựa vào cộng ñồng là tổ chức tự nguyện, phi lợi nhuận, hình thành ở một ñịa phương cụ thể, giữ vai trò, chức năng và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ xuất phát từ lợi ích chung của cộng ñồng. Hay nói cách khác, “theo ñuổi mục tiêu Lợi ích chung” là nền tảng sự ra ñời và tồn tại của hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng.
Lợi ích ở ñây bao gồm lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội. nhằm mục tiêu chính là cải thiện, nâng cao ñiều kiện sống cho chính bản thân các thành viên trong cộng ñồng ñịa phương. Michael Dower ñưa ra hình tượng “Chiếc thang về sự tham gia của cộng ñồng” [24, 40-65] và nhấn mạnh rằng sự tham gia của người dân ñược phát triển theo từng cấp ñộ. Mức ñộ tham gia của người dân phụ thuộc vào quan hệ ñối tác giữa Chính phủ và người dân.
Quan hệ ñối tác phụ thuộc vào sự tín nhiệm và tin tưởng ở cả hai phía. Phát triển mối quan hệ dựa trên sự tín nhiệm và tin tưởng này cần phải có thời gian. Trong thực tế, quá trình phát triển này chính là tiến trình “phi ñiều tiết hóa” của Chính phủ, xác ñịnh lại nội hàm của quản lý Nhà nước phù hợp với trình ñộ nền kinh tế thị trường trong từng giai ñoạn. Khái niệm của M.
Dower ñưa ra khá giống với nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Bác Hồ ñưa ra từ những năm 1960 và tóm tắt trong sơ ñồ 1 sau: CHỦ TRÌ ðỐI TÁC CÙNG THỰC HIỆN ðƯỢC THAM VẤN THÔNG BÁO Sơ ñồ 1.1: Chiếc thang về sự tham gia của cộng ñồng của Michael Dower 17 Vấn ñề thách thức là di chuyển từ từ lên “chiếc thang của sự tham gia của người dân”, bắt ñầu từ việc “DÂN BIẾT” - dân ñược thông báo - thông qua “DÂN BÀN” – dân ñược hỏi ý kiến- và “DÂN LÀM” – dân ñược tham gia lập kế hoạch, cùng triển khai thực hiện - tới “DÂN KIỂM TRA” – dân tham gia hợp tác có hiệu quả, trở thành một ñối tác không thể thiếu của Chính phủ và ở thời ñiểm thích hợp, Chính phủ ñã trao toàn quyền chủ trì, chịu trách nhiệm phát triển nông thôn cho chính người dân ñịa phương. Quá trình tham gia của cộng ñồng ñược hình tượng hoá qua chiếc thang của sự tham gia có thể hiểu như sau: - ðầu tiên, Chính phủ thông qua các cơ quan chức năng thông báo cho dân biết về các dự án ñầu tư cấp nước cho dân cư trong vùng hưởng lợi mà Chính phủ ñã quyết ñịnh. - Bậc thang thứ hai, Chính phủ tổ chức lấy ý kiến dân ñể ñưa ra quyết ñịnh chọn lựa ñịa ñiểm ñầu tư cho các công trình cấp nước vùng cụ thể. - Bậc thang thứ ba, người dân có cơ hội và ñược phép tham gia ñóng góp ý kiến vào quá trình ra quyết ñịnh về dự án ñầu tư công trình tương lai tại khu vực như: lựa chọn ñịa ñiểm, lựa chọn mô hình công nghệ, tham gia giám sát cộng ñồng.
- Bậc thang thứ tư, sự hợp tác thực sự giữa Chính phủ và người dân có thể phát triển ñến mức “nhà nước và nhân dân cùng làm”. - Bậc cuối cùng - nấc thang cao nhất, khi Nhà nước và nhân dân ñã có sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, Chính phủ sẽ trao quyền chủ ñộng cho người dân. Công trình sẽ ñược ñầu tư và quản lý theo phương châm “dân làm, nhà nước hỗ trợ”. Như vậy, thuật ngữ “hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng ” nhấn mạnh ñến cảm nhận về quyền sở hữu, tính tự quyết, vai trò và trách nhiệm tham gia 18 của người dân, cũng như trình ñộ thực hiện chủ trương quản lý phi tập trung của Chính phủ.
Khái niệm công trình cấp nước tập trung nông thôn và hình thức quản lý dựa vào cộng ñồng các công trình cấp nước tập trung tại nông thôn Trong luận án, các khái niệm cần ñược hiểu thống nhất như sau: Nông thôn: Là khu vực có trên 50% dân cư sống dựa vào nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở ở mức ñộ nhất ñịnh và có số dân từ 4.000 người, ở miền núi là 2. Bao gồm các khu vực làng xã và ñô thị nhỏ loại 5. Nước hợp vệ sinh: là nước ñược sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc, thoả mãn các yêu cầu về chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng ñến sức khoẻ con người, có thể dùng ăn uống sau khi ñun sôi [35, 10-11]. Nước sạch theo Tiêu chuẩn 09/2005/Qð-BYT: là nước dùng cho mục ñích sinh hoạt cá nhân và gia ñình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp.
Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý ñể ñạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo Quyết ñịnh số 1329/Qð-BYT ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế [35, 54-55].