Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. L u n v quản cây trồng t ng h (ICM). hái niệ Lý luận về "Quản lý cây trồng t ng hợp (ICM)" đầu tiên được các nhà khoa học châu u nghiên cứu và đề xuất. Động lực cho việc nghiên cứu về ICM là các cách thức sử dụng đầu vào của sản xuất nông nghiệp, hiệu quả sản xuất và an toàn đối với môi trường.
T chức "Liên kết Môi trường và Canh tác" Vương Quốc Anh (Linking Environment And Farming - LEAF) đã khởi xướng thực hiện ICM bằng cách tài trợ cho các t chức nhằm thúc đẩy và khuyến khích người nông dân đồng ý, cam kết bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động thực hành quản lý cây trồng, xây dựng các trang trại trình di n và xuất bản các tài liệu hướng dẫn về ICM (dẫn theo (dt) Trần Đăng Hòa, 2009) [11]. ICM là một phương pháp tiếp cận tiên tiến trong canh tác nhằm phát triển sản xuất bền vững, khuyến khích tạo ra sự cân bằng giữa nhu cầu về kinh tế, xã hội và môi trường, lương tâm của người sản xuất với trách nhiệm xã hội. Trên cơ sở đó đã hình thành nhiều khái niệm về ICM. Theo Hiệp hội hóa chất nông nghiệp Anh (1996), ICM là một quy trình sản xuất nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa nhu cầu thu được lợi nhuận ngày càng cao và trách nhiệm với sự nhạy cảm của môi trường.
ICM bao gồm các thực hành nhằm tránh sự hao phí, tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm ô nhi m môi trường. ICM kết hợp các biện pháp kỹ thuật hiện đại tốt nhất với các nguyên lý cơ bản của việc thực hành nông nghiệp tốt trong phạm vi qui mô toàn trang trại, có chiến lược lâu dài. ICM là một cách tiếp cận nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho sản xuất trồng trọt đạt hiệu quả cao trong mối quan hệ với các yếu tố đầu vào và mục tiêu của nông nghiệp là sản xuất cây trồng sao cho có lợi nhất trên cơ sở nhu cầu của thị trường, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển lâu bền (dt Trần Đăng Hòa, 2009) [11]. 5 Theo Dinesh Kumar và Y.
Shivay (2008) [40], ICM là một cách tiếp cận của sản xuất có sự kết hợp giữa những biện pháp truyền thống tốt nhất với công nghệ hiện đại thích hợp, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa giá trị kinh tế của sản xuất nông nghiệp và quản lý môi trường.Dylan Bradley, Maria Christodoulou, Conrad Caspari và Paola Di Luca ( 00 ) thuộc t chức Tư vấn Agra CEAS [36], ICM là một quy trình sản xuất nhằm cung cấp đầy đủ lương thực và các sản phẩm khác một cách có hiệu quả nhất, giảm sự tiêu hao các nguồn nguyên liệu, bảo vệ chất lượng đất, nước, không khí và đa dạng sinh học. Theo Trần Đăng Hòa (2009) [11], ICM là một chiến lược t ng thể của trang trại liên quan đến việc quản lý mùa vụ một cách có hiệu quả phù hợp với điều kiện đất, khí hậu và môi trường của địa phương và tác động thấp nhất đến môi trường. ICM không phải mệnh lệnh bởi vì ICM là một khái niệm động. ICM có một sự linh động thích hợp với từng trang trại ở từng quốc gia.
ICM cho phép tiếp thu sự thay đ i và ứng dụng các tiến bộ công nghệ. ICM sử dụng kiến thức và kinh nghiệm truyền thống, các nghiên cứu và công nghệ mới nhất phù hợp với điều kiện địa phương nhằm sản xuất ra sản phẩm thích hợp, tăng bảo tồn năng lượng và giảm mức thấp nhất tác động đến môi trường. Từ các khái niệm về ICM nêu trên cho thấy ICM là một hoặc là cả một hệ thống các giải pháp kỹ thuật t ng hợp tác động vào đối tượng cây trồng để tăng năng suất, đồng thời giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản xuất và đảm bảo được môi trường sinh thái. ICM thay đ i tuỳ theo điều kiện của từng vùng, từng đối tượng cây trồng cụ thể cũng như mối quan hệ giữa thực hành và quản lý cây trồng.
Nguyên lý cơ ản c a Theo Trần Đăng Hòa (2009) [11], không có một hệ thống ICM nào phù hợp cho tất cả mọi điều kiện khí hậu, đất đai, thị trường. Mục đích của ICM là thiết lập các nguyên lý, cách làm và hướng dẫn cách làm, thông qua đó người tư vấn và nông dân có thể tạo lập các nguyên lý ICM thích hợp cho chính mình. 6 Tiếp cận ICM phụ thuộc nhiều vào sự nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và sử dụng các công nghệ mới về phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, các phương pháp sinh học trong phòng trừ dịch hại cây trồng, chọn giống kháng sâu bệnh, hệ thống dự tính, dự dự báo và hỗ trợ quyết định chính xác về việc sử dụng phân bón hóa chất phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, phương pháp chuẩn đoán nhanh bệnh hại, thiết lập nơi cư trú cho kẻ thù tự nhiên của dịch hại. ác hợp phần ch y u c a Theo Trần Đăng Hòa (2009) [11], các hợp phần chủ yếu của ICM bao gồm:.
h n đ a đi m n xu t Chọn đất là một vấn đề quan trọng để sản xuất các sản phẩm an toàn, cần phải xem xét lịch sử về sinh học và hóa học của địa điểm sản xuất. Đất có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh, các hóa chất khó phân hủy và kim loại nặng. Vì vậy để thực hiện thành công ICM, cần chọn các địa điểm không có dịch hại, tránh trồng trên ruộng trước đó có nhiều cỏ dại, tuyến trùng, bệnh, đồng thời cần đánh giá sự rủi ro, gây tình trạng độc hại đối với môi trường bên trong hoặc bên ngoài địa điểm sản xuất. Khi đánh giá sự rủi ro cần xem xét tính ưu tiên sử dụng của địa điểm và tác động của sản xuất cây trồng, vật nuôi và xử lý sau thu hoạch đối với môi trường bên trong và bên ngoài địa điểm sản xuất.
h t l ng h t giống và c y giống Chọn giống cây trồng có khả năng kháng các loại sâu bệnh hại, phù hợp với tính chất đất đai chính là giải pháp nhằm giảm đến mức thấp nhất việc sử dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật. Điều này có ngh a khi thực hiện ICM cần phải ưu tiên chọn các loại cây giống, hạt giống tốt, không bị sâu bệnh hại, không chứa mầm mống sâu bệnh, đặc biệt là không được trồng các giống cây trồng có độc tố đối với con người và gia súc. u nl đ t Quản lý đất liên quan đến việc quản lý các sinh vật sống trong đất, hàm lượng ôxy trong đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, chế độ nhiệt 7 độ và độ ẩm đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất, trên cơ sở đó quản lý sử dụng phân bón vào đất… Sự phát triển bền vững của đất là cơ sở đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Nguyên lý của việc quản lý đất bền vững là phải duy trì và phát huy vai trò của yếu tố sinh vật trong việc duy trì chu trình tuần hoàn dinh dưỡng trong đất, chất hữu cơ là thức ăn của sinh vật đất; đất phải được che phủ nhằm chống xói mòn và tăng nhiệt độ; việc trồng trọt làm tăng nhanh sự phân hủy chất hữu cơ; hàm lượng đạm cao trong đất sẽ làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ; thiếu đạm làm giảm sự phân hủy chất hữu cơ và gây thiếu hụt dinh dưỡng cho cây trồng; cày đất, xới xáo làm tăng phân giải chất hữu cơ, tiêu diệt côn trùng đất và giun đất, tăng xói mòn đất; lượng chất hữu cơ tạo được ra và b sung cho đất phải lớn hơn lượng chất hữu cơ bị phân hủy; độ phì của đất cần phải được duy trì ở một ngưỡng nhất định, có thể chấp nhận được, đảm bảo không gây nên tình trạng thoái hóa đất.
u nl inh ng c y tr ng Quản lý dinh dưỡng cây trồng phải đảm bảo nguyên tắc cung cấp đầy đủ, kịp thời, cân đối các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu phù hợp với đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng ở các thời kỳ sinh trưởng, phát triển khác nhau của cây trồng, nhằm đạt được năng suất tối ưu nhất, giảm đến mức thấp nhất ô nhi m môi trường đất, ô nhi m nguồn nước ngầm, nước mặt, đồng thời vẫn đảm bảo duy trì và cải thiện được độ phì nhiêu của đất. Các hoạt động nhằm đảm bảo cho việc quản lý tốt dinh dưỡng cây trồng, bao gồm: - Phân tích đất để đánh giá độ phì nhiêu của đất và khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất cho cây; phân tích cây (thông thường là dinh dưỡng trong lá) để biết được tình trạng dinh dưỡng trong cây (thừa, thiếu hay đủ), từ đó xác định nhu cầu của cây để xác định loại phân, lượng phân bón phù hợp trong từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng. - Bố trí các thí nghiệm về phân bón: Bố trí các thí nghiệm phân bón nhằm xác định loại phân, lượng phân, tỷ lệ bón, thời kỳ bón, cách bón phù hợp, đạt hiệu quả cao trong từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây trồng. 8 - Kiểm tra pH và các tính chất đất, làm cơ sở cho việc xây dựng chế độ bón phân hợp lý cho cây trồng.
- Kiểm soát xói mòn: Liên quan đến quản lý dinh dưỡng, kiểm soát xói mòn chủ yếu là kiểm soát việc phân bón bị mất do xói mòn, rửa trôi (theo cả bề mặt và chiều sâu). u n l n ớc Sản xuất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào việc quản lý độ ẩm đất, bao gồm cả vùng đất chủ động tưới hoặc vùng phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa. Quản lý nước cho cây trồng bao gồm các hoạt động từ việc xác định nhu cầu tưới, t ng lượng nước tưới, thời gian tưới, chu kỳ tưới và quản lý việc tiêu nước phù hợp với nhu cầu sinh lý của cây trồng, đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt trong suốt vụ sản xuất. u nl ch h i Chương trình quản lý dịch hại cây trồng (Integrated Pests Management - IPM) và chương trình quản lý cỏ dại t ng hợp (Integrated Weed Management - IWM) là bộ phận quan trọng của chương trình quản lý cây trồng t ng hợp.
Quản lý dịch hại là một quá trình thu thập, phân tích và sử dụng thông tin để đưa ra quyết định hành động nhằm giảm sự tác động của các quần thể dịch hại một cách có kế hoạch và phối hợp, nhằm đạt được một sự cân đối về lợi nhuận với chi phí tối thiểu cho việc thực hiện các hành động đó.