phần mở đầu, phần kết thúc, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về đô thị hóa Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng và thực trạng quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2019 Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp quản lí quá trình đô thị hóa tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030. 9 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Cơ sở lý luận về đô t ị óa 1.Khái niệm Quá trình hình thành và phát triển của đô thị trải qua các thời kì khác nhau. Trong quá trình đó, các đô thị luôn biến đổi mạnh mẽ về nhiều mặt nhƣ: vai trò và chức năng của đô thị, kiểu dáng kiến trúc đô thị, sự phân bố không gian đô thị.
Mặt khác, đô thị lại là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành, do đó, có rất nhiều khái niệm về đô thị đƣợc các tác giả trong và ngoài nƣớc công bố trong các công trình nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học có quan điểm riêng về đô thị: Theo quan điểm của Ratzel (1960), đô thị là sự tích tụ lâu dài của ngƣời và chỗ ở của họ, chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn. Nếu dân số chƣa đầy chƣa đầy 2.000 ngƣời thì điểm dân cƣ đó không mang tính chất đô thị 38.Xauskin quan niệm:“Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp”38]. Nhƣ vậy, dù có những điểm khác biệt, ở những quan niệm trên, các tác giả đã đƣa ra những nét đặc trƣng của đô thị, đó là tập trung dân cƣ với mật độ cao và sản xuất mang tính phi nông nghiệp.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đƣa ra những khái niệm về đô thị: - Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) có ghi: “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” 22. 10 - Tác giả Phạm Ngọc Côn trong cuốn “Kinh tế học đô thị” đã xem xét và đƣa ra khái niệm đô thị dƣới hai góc độ: theo tính chất đô thị và theo điểm dân cƣ đô thị. Theo tính chất, đô thị phải có ba điều kiện là tính tập trung với mật độ cao, tính kinh tế và tính xã hội, từ đó tác giả rút ra định nghĩa: “Đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định”. Theo quan điểm dân cƣ đô thị thì ông cho rằng: “Đô thị là điểm dân cƣ tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc hoặc của một tỉnh, một huyện”11.
- Tác giả Phạm Trọng Mạnh trong cuốn “Quản lí đô thị” đƣa ra quan niệm: “Đô thị là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4.000 người (đối với miền núi là 2.000 người) với tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65%” [28]. Bên cạnh các nhà khoa học, trong quá trình quản lí và hoạch định chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, các cơ quan nhà nƣớc cũng đƣa ra các khái niệm và tiêu chuẩn về đô thị. Những tiêu chuẩn này có sự thay đổi theo thời gian, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc ở từng giai đoạn cụ thể. - Quyết định số 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là chính phủ), quy định đô thị là các điểm dân cƣ với các yếu tố cơ bản sau: + Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
Vùng lãnh thổ của đô thị gồm nội thành hoặc nội thị với đơn vị hành chính là quận, phƣờng và ngoại thành hoặc ngoại thị với đơn vị hành chính là huyện, xã. + Quy mô dân số nhỏ nhất là 4. + Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; là nơi sản xuất và dịch vụ thƣơng mại hàng hóa phát triển. + Có cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cƣ đô thị đƣợc xác định dựa trên mức độ tối thiểu của từng đô thị nhƣ: mật độ đƣờng phố (km/km2), chỉ tiêu cấp nƣớc (lít/ngƣời/ngày), chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt (kWh/ngƣời), chỉ tiêu nhà ở (m2/ngƣời).
11 + Mật độ dân cƣ đƣợc xác định theo từng đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng đƣợc xác định bởi dân số nội thành, nội thị trên diện tích đất đai nội thành, nội thị (ngƣời/km2 hay ngƣời/ha). - Thông tƣ số 31/TTLD, ngày 20 tháng 11 năm 1990 của liên Bộ xây dựng và Ban tổ chức cán bộ của chính phủ đã quy định: “Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh hoặc huyện” [4]. - Thông tƣ liên tịch số 02/2002-TTLT-BXD-TCCBCP hƣớng dẫn về phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị nêu rõ: “Đô thị là một khu dân cƣ tập trung có đủ hai điều kiện: về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập; về trình độ phát triển, đô thị phải đạt đƣợc những tiêu chuẩn sau: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc một vùng lãnh thổ nhƣ: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ƣơng; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện; đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cƣ tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 ngƣời và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 ngƣời/km2” [6]. - Thông tƣ số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Phân loại đô thị đã ghi: “Đô thị là khu vực tập trung dân cƣ sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” [7].
Ngoài đô thị nói chung, gần đây còn có một số khái niệm chuyên biệt hơn: + Đô thị vệ tinh: là đô thị có hệ thống quản lí riêng, độc lập về hành chính, nhƣng nằm trong cơ cấu của một thành phố lớn, chịu sự định hƣớng chiến lƣợc, điều tiết của đô thị trung tâm [20]. 12 + Đô thị mới: là đô thị dự kiến hình thành trong tƣơng lai theo định hƣớng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, đƣợc đầu tƣ xây dựng từng bƣớc đạt các tiêu chuẩn của đô thị theo quy định của pháp luật [35]. + Khu đô thị mới: Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, đƣợc đầu tƣ xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở [35]. + Đô thị sinh thái: là đô thị đảm bảo sự phát triển bền vững về môi trƣờng và bền vững về kinh tế, nhằm nâng cao chất lƣợng sống cho ngƣời dân đô thị, tiến tới xây dựng một xã hội bền vững về văn hóa [40].
+ Mạng lƣới đô thị: là một hệ thống đô thị liên kết với nhau thông qua mạng lƣới cơ sở hạ tầng. Mạng lƣới đô thị đƣợc coi là một hệ thống bởi chúng bao gồm nhiều cấp khác nhau, giữa các cấp đô thị trong một mạng lƣới có quan hệ đặc biệt với nhau [23]. + Đô thị bền vững: là đô thị đảm bảo cân bằng đƣợc mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa kinh tế đô thị, văn hóa xã hội đô thị; môi trƣờng – sinh thái đô thị; cơ sở hạ tầng đô thị và quản lí đô thị. Một đô thị bền vững phải đảm bảo đƣợc các tiêu chí: quản lí tốt, tài chính lành mạnh, cạnh tranh tốt và điều kiện sống tốt [23].
Lãnh thổ đô thị Nghị định 72/2001/ND - CP ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị của Chính phủ quy định: “đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập” và nêu rõ: Thành phố đƣợc chia thành nội thành phố và ngoại thành phố. Thị xã đƣợc chia thành nội thị xã và ngoại thị xã. Đối với thành phố trực thuộc Trung ƣơng, khu vực nội thành đƣợc chia thành quận, quận chia thành phƣờng; khu vực ngoại thành chia thành thị xã và huyện; huyện đƣợc chia thành xã, thị trấn. Thị trấn không có vùng ngoại thị trấn [5].
Ngoài ra nƣớc ta còn có các “thị tứ”, đây chƣa phải là điểm dân cƣ đô thị, nhƣng là trung tâm xã hoặc liên xã, tập trung nhiều công trình mang tính đô thị, là cơ sở để hình thành các điểm dân cƣ đô thị theo hƣớng đô thị hóa nông thôn [16]. Cấu trúc đô thị và cấu trúc không gian đô thị - Cấu trúc đô thị bao gồm hệ thống hạ tầng kĩ thuật (mạng lƣới giao thông đóng vai trò chủ yếu), các chức năng đô thị và dân cƣ đƣợc tổ chức theo quy tắc nhất định trong quan hệ với cấu trúc tự nhiên của khu vực xây dựng đô thị (địa 13 hình cảnh quan tự nhiên, núi đồi và hệ thống cây xanh, mặt nƣớc…). Có các dạng cấu trúc đô thị phổ biến là: cấu trúc tầng bậc và phi tầng bậc [19]. - Cấu trúc không gian đô thị: bao gồm không gian đô thị và các hoạt đông trong không gian đô thị đó [19].