MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, hơn 100.000 thuốc nhuộm thương mại có mặt trên thị trường với hơn một triệu tấn thuốc nhuộm được sử dụng hằng năm cho ngành công nghiệp dệt may. Trong đó hơn 50% các thuốc nhuộm azo được sử dụng cho công nghiệp dệt nhuộm. Các thuốc nhuộm azo có độc tính cao, khó phân huỷ sinh học, khử màu thấp và đặc biệt là gây tác động tiêu cực đến môi trường nước.
Tartrazin (có tên gọi khác là E102) là thuốc nhuộm azo phổ biến, có màu cam và tan tốt trong nước tạo màu vàng chanh. Nó được sử dụng rộng rãi trong dệt may, mỹ phẩm, công nghiệp thực phẩm và có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể gây ra lo lắng, trầm cảm, đau nửa đầu, rối loạn thị lực và giấc ngủ, lên cơn hen, viêm mũi, nổi mề đay, chàm da và sốc phản vệ. Để xử lý các chất hữu cơ, hiện có nhiều phương pháp khác nhau như hấp phụ, keo tụ, công nghệ màng, Fenton cổ điển, UV-Fenton và Fenton điện hoá,… trong số đó phương pháp oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy không khí sử dụng chất bán dẫn làm xúc tác quang dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời là một hướng nghiên cứu mới được quan tâm phát triển và ứng dụng rộng rãi trong và ngoài nước. Trong số các chất bán dẫn như Ag3PO4, ZnO, TiO2, CdS, SnO2,…, kẽm oxit (ZnO) đã thu hút nhiều sự chú ý vì năng lượng vùng cấm cao (3.37 eV), năng lượng liên kết lớn (60 eV), hoạt động xúc tác quang trong vùng UV cao, không độc hại, ổn định hoá học và tổng hợp đơn giản.
Tuy nhiên, cũng có một số hạn chế khi sử dụng ZnO làm chất xúc tác quang, chẳng hạn như khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời thấp do năng lượng vùng cấm khá cao, quá trình tái tổ hợp giữa electron và lỗ trống diễn ra nhanh chóng đã giới hạn các ứng dụng thực tế của nó [1]. Để giải quyết vấn đề này, giải pháp đưa ra là pha tạp một lượng thích hợp kim loại quý như Ag, Au,… vừa tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời, đồng thời ngăn chặn sự tái tổ hợp giữa electron và lỗ trống, đem lại khả năng xúc tác quang phân hủy các chất hữu cơ hiệu quả [1-6]. Các hạt nano vàng có khả năng hấp thụ và tán xạ ánh sáng cao gấp 4 – 6 lần so với các phân tử màu thông thường [7]. Hơn nữa, đặc tính ưu việt của hạt nano vàng là không độc, có cấu trúc ổn định, 1 có sự tương tác cao trên bề mặt với các phân tử khác.
Với các đặc tính này, nano vàng đã được nghiên cứu rất nhiều trên các chất mang như ZnO, TiO2, CeO 2,… để tăng cường các tính chất của vật liệu, đặc biệt là trong ứng dụng xử lý môi trường nước. Kết hợp những điều trên, em quyết định thực hiện đề tài: “Phân tích cấu trúc, thành phần và sự tương tác plasmon của vàng trên ZnO tăng cường khả năng xúc tác quang hoá xử lý môi trường bằng các phương pháp quang học”. Mục tiêu của đề tài (i) Chế tạo được vật liệu nano-composite Au/ZnO có cấu trúc và hình thái như mong muốn, với các tỉ lệ khác nhau và độ tinh khiết cao. (ii) Ứng dụng vật liệu cải tiến Au/ZnO chế tạo được để xử lý môi trường nước bị ô nhiễm bởi các chất màu hữu cơ khó phân hủy dưới tác dụng của các nguồn sáng khác nhau, đặc biệt là ánh sáng mặt trời.
Nội dung cơ bản của đề tài (i) Tổng hợp vật liệu nano ZnO cấu trúc phân tầng và pha tạp các hạt nano Au lên vật liệu ZnO. (ii) Nghiên cứu các đặc trưng của vật liệu về cấu trúc và hình thái. (iii) Nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương tác plasmon của Au trên ZnO và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xúc tác quang phân hủy Tartrazine và các chất màu hữu cơ của vật liệu cải tiến Au/ZnO. (iv) Đề xuất cơ chế phản ứng xúc tác quang.
Phương pháp nghiên cứu (i) Tổng hợp vật liệu nano ZnO cấu trúc phân tầng bằng phương pháp thủy nhiệt đơn giản. (ii) Pha tạp các hạt nano Au được trên ZnO thông qua phương pháp khử hóa học. (iii) Phân tích các đặc trưng của vật liệu về cấu trúc, hình thái, liên kết thông qua các phương pháp phân tích hiện đại như: SEM, TEM, XRD, FT-IR, DR/UV– Vis, EPR,… 2 (iv) Nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương tác plamon của các hạt nano Au trên ZnO đến khả năng xúc tác quang của vật liệu Au/ZnO thông qua điều kiện chiếu sáng khác nhau. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xúc tác quang phân hủy các chất màu hữu cơ như: hàm lượng Au tối ưu, nồng độ chất màu ban đầu, lượng chất xúc tác, pH dung dịch và các chất màu khác nhau cũng được nghiên cứu chi tiết.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: (i) Vật liệu nano ZnO và vật liệu cải tiến Au/ZnO. - Phạm vi nghiên cứu: (i) Nghiên cứu ảnh hưởng của sự pha tạp Au trên ZnO đến cấu trúc và hình thái của vật liệu. (ii) Nghiên cứu khả năng xúc tác quang phân hủy TA và các chất màu hữu cơ khác nhau của vật liệu Au/ZnO.1 Tổng quan về vật liệu bán dẫn 1.1 Khái niệm chất bán dẫn Trong quá trình phân loại vật chấn đối với quá trình dẫn điện, người ta chia các vật liệu ra thành ba loại. Đó chính là các vật liệu dẫn điện (như kim loại) và các vật liệu không dẫn điện/cách điện và loại thứ ba là các vật liệu bán dẫn.
Các vật liệu dẫn điện là các vật liệu cho phép các dòng điện truyền qua còn các vật liệu cách điện hay không dẫn điện là các vật liệu không cho dòng điện truyền qua. Chất bán dẫn (semiconductor) là vật liệu trung gian giữa chất dẫn điện và chất cách điện, có nghĩa là có thể dẫn điện ở một điều kiện nào đó, còn ở một điều kiện khác sẽ không dẫn điện 1.2 Cấu trúc chất bán dẫn Chất bán dẫn được tạo thành từ các nguyên tử riêng lẻ liên kết với nhau theo một cấu trúc đều đặn, tuần hoàn để tạo thành một cấu trúc theo đó mỗi nguyên tử được bao quanh bởi 8 electron. Một nguyên tử riêng lẻ bao gồm một hạt nhân được tạo thành từ lõi của proton (các hạt mang điện dương) và neutron (các hạt không có điện tích) được bao quanh bởi các electron. Số lượng electron và proton bằng nhau, do đó nguyên tử nói chung là trung hòa về điện.
Các electron có các mức năng lượng nhất định, dựa trên số lượng electron trong nguyên tử, mức năng lượng này khác nhau đối với mỗi nguyên tố trong bảng tuần hoàn. Nguyên tử trong chất bán dẫn là vật liệu từ nhóm IV của bảng tuần hoàn, hoặc từ sự kết hợp của nhóm III và nhóm V (được gọi là chất bán dẫn III – V), hoặc của sự kết hợp từ nhóm II và nhóm VI (được gọi là chất bán dẫn II – VI). Silicon là vật liệu bán dẫn được sử dụng phổ biến nhất vì nó là cơ sở cho các chip mạch tích hợp (IC). Hầu hết các pin mặt trời cũng được làm từ silicon.
Cấu trúc của một chất bán dẫn được thể hiện trong hình 1. Giản đồ biểu diễn các liên kết cộng hóa trị trong mạng tinh thể của silic [8]. Cấu trúc liên kết quyết định các đặc tính vật liệu của chất bán dẫn. Một sự ảnh hưởng chính của cấu trúc là giới hạn mức năng lượng mà các electron có thể đạt được và cách chúng di chuyển trong mạng tinh thể.
Các electron bao quanh mỗi nguyên tử trong chất bán dẫn là một phần của liên kết cộng hóa trị. Liên kết cộng hóa trị bao gồm hai nguyên tử "chia sẻ" một electron độc thân, sao cho mỗi nguyên tử được bao quanh bởi 8 electron. Các điện tử trong liên kết cộng hóa trị được giữ cố định bởi liên kết này và do đó chúng được định vị tại vùng xung quanh nguyên tử. Vì chúng không thể di chuyển hoặc biến thiên năng lượng, các electron trong liên kết không được coi là "tự do" và không thể tham gia vào dòng điện, sự hấp thụ hoặc các quá trình vật lý khác đòi hỏi sự hiện diện của các electron tự do.
Tuy nhiên, chỉ ở độ không tuyệt đối, tất cả các electron mới ở trong một sự sắp xếp ngoại quan. Ở nhiệt độ cao, điện tử có thể thu được đủ năng lượng để thoát ra khỏi liên kết của nó, và khi đó, điện tử sẽ tự do di chuyển trong mạng tinh thể và tham gia vào quá trình dẫn. Ở nhiệt độ phòng, chất bán dẫn có đủ các electron tự do để cho phép nó dẫn dòng điện, trong khi ở hoặc gần nhiệt độ tuyệt đối, chất bán dẫn hoạt động giống như chất cách điện. Sự hiện diện của liên kết tạo ra hai trạng thái năng lượng riêng biệt cho các electron.
Vị trí năng lượng thấp nhất của electron là ở trạng thái liên kết của nó. Tuy nhiên, nếu electron có đủ nhiệt năng để phá vỡ liên kết, nó sẽ trở nên tự do. Khi electron không thể đạt được các giá trị năng lượng trung gian với hai mức này; nó hoặc ở một vị trí năng lượng thấp trong liên kết, hoặc nó đã đạt được đủ năng lượng để thoát khỏi liên kết và do đó có một năng lượng tối thiểu nhất định. Năng lượng tối thiểu này được gọi là năgn lượng vùng cấm của chất bán dẫn.
5 Khoảng trống do các electron để lại cho phép liên kết cộng hóa trị di chuyển từ electron này sang electron khác, do đó dường như một điện tích dương di chuyển qua mạng tinh thể. Khoảng trống này thường được gọi là "lỗ trống", và tương tự như một electron, nhưng mang điện tích dương. Sự hình thành các electron và lỗ trống "tự do" khi một electron có thể thoát ra khỏi liên kết của nó [8].3 Năng lượng vùng cấm Năng lượng vùng cấm của chất bán dẫn là năng lượng tối thiểu cần thiết để chuyển một electron từ trạng thái liên kết sang trạng thái tự do mà nó có thể tham gia vào quá trình dẫn. Cấu trúc dải của chất bán dẫn cung cấp năng lượng của các electron trên trục y và được gọi là "biểu đồ vùng".
Mức năng lượng thấp hơn của chất bán dẫn được gọi là "vùng hóa trị" (EV) và mức năng lượng mà tại đó một điện tử có thể được coi là tự do được gọi là "vùng dẫn" (EC). Vùng cấm (EG) là khoảng cách giữa vùng dẫn và vùng hóa trị. Một khi electron ở trong vùng dẫn, nó sẽ tự do di chuyển xung quanh chất bán dẫn và tham gia vào quá trình dẫn.