mở đầu” trong văn bản nghệ thuật… Không thể nghiên cứu lí thuyết tự sự của Y. Lotman bên ngoài quan niệm của ông về kí hiệu học, về văn hóa và văn hóa học. Nhà nghiên cứu này rất chú trọng đến trình tự thời gian trong tự sự. Ông gọi “truyện kể” là “thiết chế đối tác” của huyền thoại, kiến tạo nên văn bản được tổ chức phù hợp với sự vận động của thời gian tuyến tính và ghi nhận cái bất thường, chứ không phải “ghi lại các biến cố, các tội ác, tai họa ngẫu nhiên, chỉ xảy ra một lần, tức là ghi lại những gì được xem là xóa bỏ một trật tự nào đó đã có từ lâu”.
Cho nên truyện kể là ngôn ngữ “gián đoạn”, “tuyến tính”. Lotman, vai trò của huyền thoại đối với sự hình thành các loại hình truyện kể và tiểu thuyết thế kỉ XIX ở các nền văn học dân tộc là rất khác nhau. Ở tiểu thuyết Tây Âu thế kỉ XIX, mô hình truyện kể là mô hình của cổ tích với phương án truyện kể kiểu “Lọ Lem”. Trong khi đó, 12 cấu trúc truyện kể của tiểu thuyết Nga lại dựa vào mô hình huyền thoại.
Dựa vào cổ tích, tiểu thuyết phương Tây chú ý đến chức năng kết thúc truyện kể và kết thúc hạnh phúc được coi là cơ bản. Cắm rễ sâu vào truyền thống huyền thoại, tiểu thuyết Nga đặt ra vấn đề cải biến bản chất bên trong của nhân vật, hoặc cải tạo cuộc sống xung quanh nó, chứ không quan tâm tới chuyện thay đổi vị thế của nhân vật nên đều không có kết thúc kiểu phương Tây. Như vậy, những diễn giải của Y. Lotman đã làm rõ sự khác biệt và cụ thể hóa trong nghệ thuật tự sự của mỗi vùng văn học.
Từ nhữ ng năm 80 của thế kỷ XX trở la ̣i đây, ở Việt Nam xuất hiện một số chuyên luận hoặc dịch, hoặc đi sâu nghiên cứu những cuộc cách tân trong tự sự của phương Tây như các cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (Đặng Anh Đào), Về một tiểu thuyết mới (Lê Phong Tuyết), A.Grillet: Sự thật và diễn giải (Nguyễn Thị Từ Huy), Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI; Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới; Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật (Phùng Văn Tửu). Các công trình này tập trung làm rõ những thử nghiệm, tìm tòi đổi mới của nhà văn với những tác phẩm nhận được sự đánh giá cao của dư luận. Những vấn đề then chốt của phương thức tự sự như người kể chuyện hay phương thức huyền thoại được các tác giả phân tích cụ thể. Một số công trình quan trọng về Tự sự học đã được dịch, giới thiệu và vận dụng vào nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại.
Hai hội thảo khoa học lớn về Tự sự học do Trần Đình Sử chủ trì tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã xuất bản 2 cuốn kỷ yếu “Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử” [90]. Đáng chú ý, chuyên khảo này là một bức tranh khái quát về lý thuyết tự sự học và những phân tích, diễn giải về diện mạo văn học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tổng hợp qua vài nét sơ bộ như trên, có thể thấy nghiên cứu tự sự nói chung và phương thức tự sự trong 13 văn xuôi hư cấu nói riêng đã là một phần quan trọng trong đời sống nghiên cứu, phê bình văn học đương đại. Cù ng vớ i cá c trà o lưu, trườ ng phá i văn ho ̣c nố i nhau ra đờ i, đem đế n thêm nhữ ng kinh nghiê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t mớ i, điề u chi ̉nh la ̣i kinh nghiệm nghê ̣ thuâ ̣t cũ, khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ có khi đươ c̣ đề nghi ̣ đổ i thà nh “trầ n thuâ ̣t”, theo đó tự sự học cũ ng mở rô ̣ng thà nh trầ n thuâ ̣t ho ̣c.
Mô ̣t số lý thuyế t gia cho rằ ng đi nh ̣ nghi ã đã có về “tư ̣ sư”̣ khó bao quá t đươ c̣ nhữ ng tá c phẩ m tiể u thuyế t và phim hâ ̣u hiê ̣n đa ̣i - nơi tác giả “từ chố i tổ chứ c nô ̣i dung thà nh mô ̣t câu chuyê ̣n xá c đi nh”. ̣ Khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ cầ n phả i đươ c̣ mở rô ̣ng thêm, ngoà i phầ n “lờ i kể ” (discouse) và “câu chuyê ̣n” (story), có thể phả i nghi ̃ đế n nhữ ng “câu chuyê ̣n không kể đươ c̣ ”, tứ c là nhữ ng sư ̣ kiê ̣n, nhữ ng lờ i nó i đươ c̣ trình bà y như “mô ̣t sư ̣ tri ̀nh hiê ̣n tư ̣ do trôi nổ i” (floating rep resentation). Luâ ̣n á n của chú ng tôi vẫn dù ng khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ do tính chất quen thuộc và phổ cập của nó nhưng trong quá trình xử lý đề tài của chúng tôi vẫn se ̃ bao gồ m cả nhữ ng nô ̣i hà m đươ c̣ mở rô ̣ng củ a trầ n thuâ ̣t ho ̣c, tứ c là chú ng tôi quan tâm cả “câu chuyện” được kể theo kiểu truyền thống (có đầu, có cuối, có sự kiện, nhân vật) lẫn những câu chuyện được kể rời rạc, lộn xộn, cố ý làm mất mạch lạc, giống như một chuỗi sự việc được trình hiện tự do. Như thế nghĩa là “sự trình hiện tự do” cũng là một kiểu trật tự cố ý phi trật tự.
Từ những khía cạnh cơ bản của lý thuyết tự sự học, chúng tôi sẽ vận dụng để soi chiếu một chuyển biến quan trọng trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ 1986 đến nay đó là những đổi mới cơ bản trong phương thức tự sự. Các yếu tố căn cốt của tự sự rốt lại là truyện (sự kiện, biến cố, người trần thuật (điểm nhìn), cách thức trần thuật. Theo nhận thức của chúng tôi những nguyên tắc chìm, chi phối cấu trúc tự sự bao giờ cũng nằm ở chiều sâu tư duy văn học như cảm quan hiện thực, quan niệm về bản chất chức 14 năng của văn học, về mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả về thể loại. Luận án này với tên gọi Đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại sẽ chủ yếu ưu tiên khảo sát những đặc điểm nổi bật trong sự đổi mới phương thức tự sự như bức tranh hiện thực, điểm nhìn, cách xử lý nhân vật, xử lý thể loại và một số kĩ thuật tạo lập văn bản.
Tình hình nghiên cứu về phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại Việc ứng dụng tự sự học để nghiên cứu những đổi mới về phương thức tự sự trong văn học Việt Nam đương đại là một nhu cầu khách quan nhờ đó chúng ta có được cái nhìn sâu hơn, sinh động hơn về bước ngoặt chuyển mình của văn học, ghi nhận những nỗ lực sáng tạo của nhà văn Việt Nam. Sự đổi mới phương thức tự sự là vấn đề được giới phê bình văn học trong nướ c hết sức quan tâm. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tùy thuộc thực tiễn đời sống văn học, hướng quan tâm cũng khác nhau. Khoảng những năm từ 1975 đến 1990, chuyển đổi rõ rệt nhất trong sáng tác của các nhà văn là sự gia tăng chất thế sự cho những cốt truyện sử thi.
Bức tranh hiện thực được nới rộng hơn, đã bắt đầu xuất hiện những mả ng mờ tối, khuất lấp của đời sống cộng đồng. Nhân vật trở nên “đời” hơn, ít cứng nhắc hơn và cũng ít hoàn hảo, toàn bích như trong văn học giai đoạn trước. Có lẽ vì thế, giới phê bình nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung vào nội dung “câu chuyện” được kể, dành mối quan tâm trước hết cho sự đổi mới cách nhìn hiện thực của nhà văn. Điều đó thể hiện rõ trong cuộc bàn luận về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu do tuần báo Văn nghệ tổ chức tháng 6/1985.
Dù xuất hiện không ít ý kiến băn khoăn về hướng tìm tòi đổi mới của nhà văn, một số người vẫn khẳng định sự chuyển hướng của ông là cần thiết và đúng đắn. Đáng chú ý là cả hai phía khen chê đều chủ yếu bàn đến tính nhân đạo của tác phẩm. Ý kiến của Phan Cự Đệ có thể 15 xem là tiêu biểu cho phía không đồng tình với Nguyễn Minh Châu: “Các nhân vật của anh lạ lẫm quá, tức là không có tính điển hình”, “Nguyễn Minh Châu đi bên lề cuộc sống”, “hình như anh cố tình lan man, rối rắm để ai muốn hiểu thế nào thì hiểu”. Phía các ý kiến tán thành Nguyễn Minh Châu, ít nhiều đã có người chỉ ra cả nỗ lực kiếm tìm cách thể hiện mới của nhà văn.
Lại Nguyên Ân viết: “Chiều sâu mới mẻ trong sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châu chính là nảy sinh trong sự đổi mới các bình diện nhận thức đời sống, mạnh dạn đi tìm nhiều cách thể hiện khác nhau, tự làm phong phú các khả năng nghệ thuật của mình và của chung nền văn xuôi chúng ta. Lã Nguyên viết: “Thay vì những câu chuyện về chiến tranh, về súng đạn, Nguyễn Minh Châu hôm nay thả bút theo tình đời. Bức tranh, Mẹ con chị Hằng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sống mãi với cây xanh là những câu chuyện về tình người, tình đời. Mảnh đất tình yêu là tình đời mở rộng thành triết học lịch sử.
Đi sâu vào vương quốc của tình đời, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu đã nhanh chóng chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô, từ thế giới của cộng đồng, dân tộc và lịch sử đến với những câu chuyện về đời tư và số phận của mỗi cá nhân con người. Nguyễn Minh Châu khá tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác lấy đời tư con người làm mảnh đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của các giá trị nhân bản. Ở đây, cá nhân con người chẳng những là đối tượng, chất liệu nhận thức nghệ thuật mà còn là điểm xuất phát, là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới” [59]. Ở thời điểm đó, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh gây chấn động dư luận, được khen là dám chọn những thời điểm khốc liệt của chiến tranh, dũng cảm không né tránh mặt trái của chiến tranh.
Đặng Quốc Nhật viết: “Đất trắng gợi ra cho chúng ta những suy nghĩ mới cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh lúc này. Ở đây người đọc thấy được sự dữ dội của cuộc chiến đấu, những thiệt 16 hại nặng nề của ta, những vùng đất trắng, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng” [52].