Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9.21), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Hạnh Mai và PGS. TS. Mai Thị Hương (bảo vệ năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ sau năm 1975 và đặc biệt từ cột mốc Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam bước vào giai đoạn hòa bình, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường. Những biến chuyển căn bản này đặt văn học trước yêu cầu phải đổi mới nhận thức nghệ thuật. Văn xuôi hư cấu (gồm tiểu thuyết và truyện ngắn) có sự vận động mạnh mẽ, chuyển dịch trọng tâm từ việc phản ánh hiện thực mang tính sử thi, minh họa sang việc chú trọng vào phương thức biểu đạt, kỹ thuật viết và cách thức kiến tạo văn bản.

Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đó thường tiếp cận văn xuôi đương đại ở cấp độ nội dung phản ánh, cảm hứng nhân văn, chủ đề thế sự, hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng thể loại, tác gia cụ thể. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dựa trên hệ hình lý thuyết tự sự học hiện đại để tổng kết và lý giải các bình diện đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu chính:

  1. Nhận diện, miêu tả và lý giải những nét cơ bản trong sự đổi mới phương thức tự sự của văn xuôi hư cấu Việt Nam từ năm 1986 đến nay; khẳng định sự hình thành một khuynh hướng thẩm mĩ mới trong đời sống văn chương đương đại.
  2. Đánh giá ý nghĩa của sự đổi mới phương thức tự sự đối với tiến trình văn học dân tộc, góp phần khẳng định các thành tựu của văn học Việt Nam thời kỳ đương đại.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án triển khai bốn nhiệm vụ cụ thể:

  • Nhiệm vụ 1: Xác định các khái niệm công cụ làm điểm tựa lý thuyết, trọng tâm là các thuật ngữ và nguyên lý cơ bản của tự sự học kinh điển và hậu kinh điển.
  • Nhiệm vụ 2: Nhận diện và lý giải các căn nguyên lịch sử, xã hội, văn hóa và nhu cầu nội tại dẫn đến sự đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu đương đại.
  • Nhiệm vụ 3: Khảo sát các tác giả, tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu từ năm 1986 đến nay để làm rõ các phương diện cách tân về điểm nhìn, nhân vật, thể loại và kỹ thuật tổ chức văn bản.
  • Nhiệm vụ 4: Chỉ ra các bài học đối với việc sáng tạo và tiếp nhận văn học, hướng tới cái nhìn dân chủ và cởi mở trong thẩm mĩ tiếp nhận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh căn bản của sự đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu (tiểu thuyết và truyện ngắn) giai đoạn từ năm 1986 đến nay, bao gồm: nguyên tắc tự sự, điểm nhìn trần thuật, kiểu dạng nhân vật, cách ứng xử với thể loại và kỹ thuật tạo lập văn bản.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát hệ thống tác phẩm văn xuôi hư cấu tiêu biểu từ năm 1986 đến nay của các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên, Đoàn Minh Phượng, Phan Việt, Thuận, Nguyễn Danh Lam, Thùy Dương, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo... Đồng thời, luận án có sự liên hệ, đối sánh với văn học giai đoạn trước năm 1986 và một số loại hình nghệ thuật như điện ảnh, sân khấu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật chi tiết các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Các hướng nghiên cứu lý thuyết tự sự học

  • Tự sự học phương Tây: Điểm lại các công trình nền tảng của T. Todorov (1969, 1977), V. Propp (1968), C. Lévi-Strauss (1977), R. Barthes (1977), S. Chatman (1978), M. Bal (1985), G. Genette, S. Rimmon-Kenan, F. Stanzel, S. Lanser, J. Phelan, J. Derrida, J. F. Lyotard, J. H. Miller (1993), J. Culler (1998), G. Prince, H. White, V. Shklovski và Y. Lotman.
  • Dịch thuật và giới thiệu lý thuyết tại Việt Nam: Các chuyên luận của Đặng Anh Đào (Nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại), Lê Phong Tuyết (Về một tiểu thuyết mới), Nguyễn Thị Từ Huy (A.Robbe-Grillet: Sự thật và diễn giải), Phùng Văn Tửu (Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI, Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới, Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật), và hai tập kỷ yếu hội thảo khoa học do GS. Trần Đình Sử chủ trì mang tên Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử.

Tình hình nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại

  • Giai đoạn 1975–1990: Giới nghiên cứu tập trung vào sự đổi mới nội dung phản ánh và tính nhân đạo qua các cuộc tọa đàm về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (tháng 6/1985 với các ý kiến của Phan Cự Đệ, Lại Nguyên Ân, Lã Nguyên), các nghiên cứu về tiểu thuyết chiến tranh và thế sự như Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh (Đặng Quốc Nhật), Thời xa vắng của Lê Lựu, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng (Trần Đăng Suyền, Tô Hoài), tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn (Cù lao Tràm, Đứng trước biển).
  • Tranh luận về các hiện tượng cách tân nghệ thuật tự sự:
    • Cuộc tranh luận về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (1988–1989) với hai luồng quan điểm: ủng hộ lối viết mới, giải thiêng lịch sử (Vương Trí Nhàn, Đặng Anh Đào, Nguyên Ngọc, Lại Nguyên Ân, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Sơn, Thụy Khuê) và phê phán việc làm sai lệch lịch sử (Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, Vũ Phan Nguyên, Mai Ngữ).
    • Tranh luận về Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh: Đánh giá cao chiều sâu tâm lý và cấu trúc trần thuật (Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Thạch) đối lập với các ý kiến phê phán góc nhìn bi lụy (Đỗ Văn Khang, Trần Duy Châu).
    • Nghiên cứu về Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (Lã Nguyên, Nguyễn Thị Bình), bộ ba tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa qua phân tích của Hoàng Cát, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Đăng Điệp), tác phẩm Ngồi của Nguyễn Bình Phương (Bùi Công Thuấn, Lê Tự, Nguyễn Phước Bảo Nhân).
  • Các công trình chuyên khảo, luận án chuyên biệt:
    • Nguyễn Văn Long (Văn học Việt Nam trong thời đại mới);
    • Nguyễn Thị Bình (Văn xuôi Việt Nam sau 1975);
    • Mai Hải Oanh (Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại);
    • Trần Thị Mai Nhân (Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000);
    • Đỗ Hải Ninh (Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại);
    • Trần Viết Thiện (Sự tương tác trong thể loại văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay);
    • Phùng Gia Thế (Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975);
    • Nguyễn Thị Hải Phương (Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - Nhìn từ góc độ diễn ngôn);
    • Thái Phan Vàng Anh (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI - Lạ hóa một cuộc chơi).

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước thường khảo sát theo từng giai đoạn hẹp (trước năm 1995 hoặc 2000), khu biệt trong thể loại tiểu thuyết hoặc một khuynh hướng đơn lẻ (hậu hiện đại, tự truyện, diễn ngôn). Luận án của Nguyễn Thị Thu Hằng lựa chọn bao quát cả hai thể loại cốt lõi của văn xuôi hư cấu là truyện ngắn và tiểu thuyết trong toàn bộ tiến trình từ năm 1986 đến nay, tập trung giải mã hệ thống phương thức tự sự ở các bình diện: dạng thức tự sự, quan niệm nhân vật, sự tương tác thể loại và các kỹ thuật công nghệ tạo lập văn bản.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng lý thuyết Tự sự học từ giai đoạn kinh điển đến hậu kinh điển:

  • Tự sự như chuỗi sự kiện: Khảo sát các cấp độ cấu trúc truyện kể, mối liên hệ giữa cốt truyện (fabula) và câu chuyện (story).
  • Tự sự như diễn ngôn: Khai thác các phạm trù của G. Genette gồm thời thái (tense), ngữ thức (mood), ngữ thái (voice); khái niệm tình huống kể của F. Stanzel; lý thuyết về điểm nhìn và giọng điệu của S. Lanser, M. Bal.
  • Tự sự gắn với tiếp nhận và giải cấu trúc: Quan niệm của J. Derrida về "phi trung tâm hóa", tính bất định của văn bản; quan niệm của Roland Barthes về "độ không của lối viết" và vai trò đồng sáng tạo của người đọc.
  • Khái niệm phương thức tự sự: Được hiểu là cách thức, phương pháp kể chuyện và tổ chức văn bản nghệ thuật biểu hiện một kiểu tư duy nghệ thuật của thời đại và dấu ấn cá nhân của nhà văn.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Kết hợp phân tích thể loại với các thao tác của thi pháp học và tự sự học để bóc tách cấu trúc văn bản.
  2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đặt sự biến đổi phương thức tự sự trong mối liên hệ với toàn bộ sự vận động của hệ thống văn học, quan niệm nghệ thuật, cũng như sự tương tác với các loại hình nghệ thuật khác (sân khấu, điện ảnh).
  3. Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn hóa học, tâm lý học, ký hiệu học để cắt nghĩa bối cảnh thời đại và các hiện tượng văn học phức hợp.
  4. Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu văn xuôi sau năm 1975 với văn học giai đoạn 1945–1975; so sánh các khuynh hướng thẩm mĩ giữa các tác giả cùng thời để chỉ ra tính đa dạng của bức tranh văn học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận và tổng kết lịch sử vấn đề:

  • Hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của Tự sự học trên thế giới: từ nghiên cứu cấu trúc tự sự kinh điển (chú trọng cốt truyện khép kín) sang tự sự học hậu kinh điển (chú trọng diễn ngôn, người tiếp nhận, tính liên văn bản và giải cấu trúc).
  • Định nghĩa khái niệm "phương thức tự sự" và phân biệt với "nghệ thuật tự sự". Mở rộng phạm vi tự sự sang các hiện tượng "sự trình hiện tự do trôi nổi" (floating representation) của tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại.
  • Tổng thuật quá trình tiếp nhận lý thuyết tự sự và thực tiễn nghiên cứu văn xuôi Việt Nam từ sau năm 1975, chia thành các chặng đường từ quan tâm nội dung/đề tài sang phân tích kỹ thuật trần thuật và lối viết.

Chương 2: Khát vọng dân chủ hóa và sự đa dạng hóa các dạng thức tự sự

Chương 2 phân tích các điều kiện lịch sử - xã hội và diện mạo của các dạng thức tự sự mới:

  • Tiền đề lịch sử - xã hội và nhu cầu giải phóng cá tính sáng tạo: Phân tích tác động của công cuộc Đổi mới sau Đại hội VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (1987), sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường, văn hóa đại chúng và bùng nổ truyền thông. Sự chuyển dịch từ "văn học minh họa", "văn học sự vụ" sang ý thức cá nhân, đối thoại bình đẳng và tinh thần phản tư trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường.
  • Sự chuyển đổi đề tài: Khảo sát sự thay đổi căn bản trong cách xử lý đề tài nông thôn (từ tập thể hóa lạc quan sang những chấn thương, phân hóa xã hội) và đề tài chiến tranh (từ cảm hứng sử thi hào sảng sang nỗi đau thân phận cá nhân và chiêm nghiệm lịch sử).
  • Đa dạng hóa các kiểu dạng tự sự:
    • Tự sự khách quan - khả tín: Tiếp tục duy trì lối kể truyền thống nhưng gia tăng chất liệu thế sự, đời tư.
    • Tự sự chủ quan - bất khả tín: Sự xuất hiện của người kể chuyện hạn tri, người kể chuyện nhầm lẫn, hoài nghi, nhiều điểm nhìn phân mảnh, trao quyền phán xét và lựa chọn kết thúc cho người đọc.

Chương 3: Nỗ lực đổi mới quan niệm về nhân vật

Chương 3 đi sâu khảo sát sự giải kiến tạo mô hình nhân vật sử thi truyền thống để kiến tạo các dạng nhân vật mới:

  • Nhân vật phi lý tưởng:
    • Nhân vật phức hợp, tính cách đa diện: Con người mang đầy đủ những giằng xé nội tâm, khiếm khuyết, không còn ranh giới rạch ròi giữa chính diện và phản diện.
    • Nhân vật bé nhỏ, cô đơn: Những thân phận đời thường trôi dạt trong xã hội hiện đại, mang tâm thức lạc lõng, hoang mang.
  • Nhân vật khước từ nguyên tắc điển hình hóa:
    • Nhân vật kỳ ảo, phi nhân dạng: Sử dụng yếu tố hoang đường, biến ảo, hóa thân để bộc lộ thế giới vô thức và ẩn ức tâm lý.
    • Nhân vật mô hình, bị tẩy trắng, bị xóa bỏ: Nhân vật không còn tên gọi cụ thể, bị tước bỏ lý lịch, trở thành biểu tượng hoặc các ký hiệu tư tưởng trong trò chơi văn bản.

Chương 4: Đổi mới quan niệm về thể loại, thực hành những kỹ thuật mang dấu ấn công nghệ

Chương 4 khảo sát các thể nghiệm hình thức và kỹ thuật tạo lập văn bản đương đại:

  • Thử nghiệm lai ghép, làm mới thể loại:
    • Giả lịch sử: Hư cấu trên nền tư liệu lịch sử, tạo ra các giả định lịch sử khác nhau (như trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo).
    • Nhại trinh thám: Vận dụng mô hình điều tra phá án nhưng làm mờ ranh giới chân lý hoặc bỏ ngỏ thủ phạm.
    • Giả tự truyện: Trộn lẫn giữa tự sự cá nhân và hư cấu nghệ thuật.
    • Phiếm huyền thoại: Sử dụng motif cổ tích, huyền thoại để giải thiêng hoặc phản tư đời sống đương đại.
  • Những kỹ thuật mang dấu ấn công nghệ:
    • Cắt dán, chồng xếp văn bản: Cấu trúc phi tuyến tính, lắp ghép các mảnh vỡ thông tin, văn bản nhật ký, tài liệu, thư từ.
    • Kỹ thuật bàn phím: Tổ chức văn bản mô phỏng giao diện kỹ thuật số, siêu liên kết, tương tác trực tiếp với nhịp sống của thời đại số hóa.

Bảng tổng hợp các bình diện đổi mới phương thức tự sự

Bình diện khảo sát Văn xuôi truyền thống (trước 1986) Văn xuôi hư cấu đương đại (sau 1986)
Cảm quan hiện thực Sử thi, tập thể, minh họa nhiệm vụ chính trị, đơn trị Đời tư, thế sự, đa chiều, giàu tính phản tư và giả định
Dạng thức tự sự Khách quan - toàn tri, khả tín, cốt truyện tuyến tính Đa thanh, phân mảnh, chủ quan - bất khả tín, phi tuyến tính
Mô hình nhân vật Điển hình hóa, lý tưởng hóa, phẩm chất nhất quán Phi lý tưởng, tính cách đa diện, kỳ ảo, phi nhân dạng, mô hình
Xử lý thể loại Thể loại thuần nhất, tuân thủ nghiêm ngặt quy ước Lai ghép thể loại (giả lịch sử, nhại trinh thám, giả tự truyện)
Kỹ thuật văn bản Trần thuật liên tục, câu chuyện có đầu - có cuối Cắt dán, chồng xếp văn bản, kỹ thuật bàn phím, văn bản mở

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về sự đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến nay.
  • Vận dụng thành công hệ thống khái niệm công cụ của Tự sự học kinh điển và hậu kinh điển vào việc giải mã thực tiễn văn học dân tộc trong thời kỳ Đổi mới.
  • Làm sáng tỏ quy luật chuyển dịch diện mạo và tư duy nghệ thuật ở tầng sâu văn hóa: sự tương tác thể loại, quy luật giao lưu hội nhập, sự thay đổi trong quan hệ giữa nhà văn và công chúng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đưa ra bức tranh toàn cảnh về tiến trình vận động của truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 qua các hiện tượng tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Góp phần định hướng cảm thụ thẩm mĩ của độc giả theo hướng cởi mở, chấp nhận các cấu trúc văn bản phi truyền thống và đa dạng hóa các cách tân nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào văn xuôi hư cấu (tiểu thuyết và truyện ngắn) có những nỗ lực cách tân nổi bật, do đó chưa bao quát toàn bộ các thể loại văn xuôi phi hư cấu (ký, hồi ký, tản văn) hoặc các dòng văn học thị trường thuần túy giải trí.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu phương thức tự sự sang các loại hình văn học mạng, văn học phi hư cấu, hoặc đào sâu khảo sát mối liên hệ liên văn bản và liên phương tiện giữa văn xuôi đương đại với điện ảnh, truyền thông kỹ thuật số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung lý thuyết tự sự học ứng dụng, hệ thống thuật ngữ chuyên ngành và phương pháp tiếp cận văn bản nghệ thuật hiện đại.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Là tài liệu tham khảo phục vụ biên soạn bài giảng, giáo trình văn học Việt Nam đương đại, lý luận văn học và thi pháp học.
  • Đối với người sáng tác: Gợi mở các kỹ thuật tổ chức trần thuật, xử lý cấu trúc thể loại và xây dựng nhân vật trong bối cảnh văn hóa đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu chính là gì?

Đối tượng nghiên cứu là những khía cạnh cơ bản của sự đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu (truyện ngắn và tiểu thuyết) từ năm 1986 đến nay, bao gồm: nguyên tắc tự sự, điểm nhìn trần thuật, kiểu dạng nhân vật, cách ứng xử với thể loại và kỹ thuật tạo lập văn bản. Phạm vi khảo sát tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu có nỗ lực cách tân nổi bật của các tác giả thời kỳ đổi mới.

2. Các tiền đề lịch sử - xã hội nào thúc đẩy sự đổi mới phương thức tự sự sau năm 1986?

Bao gồm: công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng từ Đại hội VI (1986); Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (1987) khuyến khích tự do tìm tòi sáng tạo nghệ thuật; sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; quá trình giao lưu hội nhập quốc tế; và sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa nghe nhìn cùng truyền thông kỹ thuật số.

3. Hai dạng thức tự sự chính được phân tích trong Chương 2 là gì?

Chương 2 phân loại và phân tích hai dạng thức tự sự cơ bản:

  • Tự sự khách quan - khả tín: Kiểu tự sự duy trì mạch kể truyền thống nhưng mở rộng chất liệu hiện thực sang đời tư, thế sự.
  • Tự sự chủ quan - bất khả tín: Kiểu tự sự xuất hiện người kể chuyện hạn tri, không đáng tin cậy, điểm nhìn phân mảnh, mời gọi người đọc cùng tham gia kiến tạo ý nghĩa văn bản.

4. Luận án chỉ ra những đổi mới nào về quan niệm nhân vật trong Chương 3?

Luận án chỉ ra sự chuyển dịch từ nhân vật sử thi lý tưởng hóa sang:

  • Nhân vật phi lý tưởng (nhân vật phức hợp với tính cách đa diện, nhân vật bé nhỏ, cô đơn trong đời thường).
  • Nhân vật khước từ nguyên tắc điển hình hóa (nhân vật kỳ ảo, phi nhân dạng, nhân vật mô hình bị tẩy trắng hoặc xóa bỏ lý lịch).

5. Những thể loại lai ghép và kỹ thuật văn bản nào được khảo sát trong Chương 4?

Chương 4 khảo sát các thử nghiệm lai ghép thể loại như: giả lịch sử, nhại trinh thám, giả tự truyện, phiếm huyền thoại; cùng các kỹ thuật mang dấu ấn công nghệ như kỹ thuật cắt dán, chồng xếp văn bản và kỹ thuật bàn phím mô phỏng siêu văn bản.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu hệ thống về sự chuyển biến của phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam giai đoạn sau năm 1986. Bằng việc kết hợp các công cụ của Tự sự học kinh điển và hậu kinh điển, tác giả đã giải mã tường tận các bình diện cách tân từ điểm nhìn trần thuật, cấu trúc nhân vật đến sự tương tác thể loại và kỹ thuật tổ chức văn bản. Công trình khẳng định bước chuyển căn bản trong tư duy nghệ thuật của văn học Việt Nam đương đại theo hướng dân chủ hóa, đa thanh và hội nhập. Luận án có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.