Nghiên Cứu Phương Thức Tự Sự Trong Văn Xuôi Hư Cấu Việt Nam

Khám phá sự đổi mới trong phương thức tự sự của văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại, từ đó hiểu rõ hơn về xu hướng sáng tác hiện nay.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Ngữ Văn

2019

175
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm phương thức tự sự

1.2. Tình hình nghiên cứu về phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHÁT VỌNG DÂN CHỦ HÓA VÀ SỰ ĐA DẠNG HÓA CÁC DẠNG THỨC TỰ SỰ

2.1. Tiền đề lịch sử - xã hội và nhu cầu giải phóng cá tính sáng tạo khai mở các tiềm năng tự sự

2.2. Tiền đề lịch sử - xã hội

2.3. Nhu cầu giải phóng cá tính khai mở các tiềm năng tự sự

2.4. Nỗ lực dân chủ hóa cái nhìn nghệ thuật: đa dạng hóa các kiểu dạng tự sự

2.5. Tự sự khách quan - khả tín

2.6. Tự sự chủ quan - bất khả tín

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NỖ LỰC ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT

3.1. Nhân vật phi lý tưởng

3.2. Nhân vật phức hợp, tính cách đa diện

3.3. Nhân vật bé nhỏ, cô đơn

3.4. Nhân vật khước từ nguyên tắc điển hình hóa

3.5. Nhân vật kỳ ảo, phi nhân dạng

3.6. Nhân vật mô hình, bị tẩy trắng, bị xóa bỏ

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ THỂ LOẠI, THỰC HÀNH NHỮNG KỸ THUẬT MANG DẤU ẤN CÔNG NGHỆ

4.1. Những thử nghiệm lai ghép, làm mới thể loại

4.2. Giả lịch sử. Nhại trinh thám

4.3. Giả tự truyện

4.4. Phiếm huyền thoại

4.5. Những kĩ thuật mang dấu ấn công nghệ

4.6. Cắt dán, chồng xếp văn bản

4.7. Kỹ thuật bàn phím

4.8. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phương Thức Tự Sự Trong Văn Xuôi Hư Cấu

Phương thức tự sự là phương thức chủ yếu để con người phản ánh thế giới khách quan thông qua sự kiện, sự việc và nhân vật cụ thể. Tuy nhiên, cách hiểu về tự sự có nhiều khác biệt, căn cứ trên nhiều lý thuyết văn học và sự tương tác giữa văn học và đời sống xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu lý thuyết tự sự trên thế giới đã cho ra đời những công trình phân tích tập trung vào đối tượng dạng thức văn bản ngôn từ và cả trên lĩnh vực điện ảnh, kiến trúc, điêu khắc. Thế kỷ XX được nhìn nhận như thế kỷ của các trào lưu nghiên cứu, phê bình văn học với nhiều phát kiến quan trọng. Riêng việc tìm hiểu về tự sự đã hình thành nên cả một ngành nghiên cứu: Tự sự học (Narratology).

1.1. Định Nghĩa Tự Sự Học và Các Trường Phái Nghiên Cứu

Tự sự học được định hình từ khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, chính thức được “khai sinh” với danh xưng học thuật như ngày nay là vào năm 1969 trong công trình “Ngữ pháp truyện mười ngày” của T. Todorov. Từ đó, tự sự được hiểu theo một số nghĩa: như một chuỗi sự kiện, như một diễn ngôn, và gắn với tiếp nhận. Mỗi trường phái có những ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng đều đóng góp vào sự phát triển của ngành nghiên cứu văn học.

1.2. Mối Quan Hệ Giữa Tự Sự Văn Bản và Cốt Truyện

Tự sự học đồng hành cùng các khái niệm: Văn bản (Text), Câu chuyện (Story) và Loạt sự kiện/ cốt truyện (Fabula). Sự đổi thay trong quan niệm về ba thuật ngữ này cũng gợi dẫn nhiều vấn đề cần suy ngẫm cho văn học. Theo đó, câu chuyện được hiểu như chuỗi sự kiện mà nó diễn ra nhưng tình tiết hay diễn ngôn lại cho thấy cách mà chúng ta nhìn nhận về tự sự, hay nói cách khác, đó là tự sự đã được tiếp nhận, chuyển hóa, biến đổi.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Phương Thức Tự Sự Trong Văn Học Việt Nam

Nghiên cứu phương thức tự sự trong văn học Việt Nam đương đại đặt ra nhiều thách thức. Cần phải nắm vững lý thuyết tự sự học, đồng thời phải hiểu sâu sắc bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của Việt Nam sau năm 1975. Sự đổi mới trong văn xuôi hư cấu diễn ra mạnh mẽ, đa dạng, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có cái nhìn tổng quan, khách quan và tinh tế. Việc lựa chọn tác phẩm tiêu biểu để phân tích cũng là một vấn đề quan trọng, cần đảm bảo tính đại diện và giá trị nghệ thuật.

2.1. Yêu Cầu Về Kiến Thức Lý Thuyết và Bối Cảnh Văn Hóa

Để nghiên cứu phương thức tự sự hiệu quả, cần trang bị kiến thức vững chắc về lý thuyết tự sự học, bao gồm các khái niệm, phương pháp phân tích và các trường phái nghiên cứu khác nhau. Đồng thời, cần hiểu rõ bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của Việt Nam sau năm 1975, để có thể lý giải sự đổi mới trong văn xuôi hư cấu một cách chính xác.

2.2. Vấn Đề Lựa Chọn Tác Phẩm Tiêu Biểu Nghiên Cứu Tự Sự

Việc lựa chọn tác phẩm tiêu biểu để phân tích là một khâu quan trọng trong nghiên cứu phương thức tự sự. Cần đảm bảo tính đại diện của các tác phẩm, tức là chúng phải phản ánh được những xu hướng đổi mới chính trong văn xuôi hư cấu đương đại. Đồng thời, các tác phẩm cũng phải có giá trị nghệ thuật cao, để việc phân tích có ý nghĩa và đóng góp vào sự hiểu biết về văn học Việt Nam.

2.3. Tiếp Cận Đa Chiều và Liên Ngành Trong Nghiên Cứu Văn Học

Nghiên cứu phương thức tự sự đòi hỏi sự tiếp cận đa chiều và liên ngành. Cần kết hợp các phương pháp phân tích văn học truyền thống với các phương pháp nghiên cứu từ các lĩnh vực khác như văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về sự đổi mới trong văn xuôi hư cấu.

III. Dân Chủ Hóa Cái Nhìn Nghệ Thuật Trong Tự Sự Văn Xuôi Hư Cấu

Một trong những đổi mới quan trọng nhất trong phương thức tự sự của văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại là sự dân chủ hóa cái nhìn nghệ thuật. Các nhà văn không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc, khuôn mẫu cứng nhắc, mà được tự do thể hiện quan điểm, cảm xúc cá nhân. Điều này dẫn đến sự đa dạng hóa các kiểu dạng tự sự, từ tự sự khách quan đến tự sự chủ quan, từ tự sự truyền thống đến tự sự phi tuyến tính.

3.1. Tự Sự Khách Quan và Tính Khả Tín Trong Văn Học

Tự sự khách quan là kiểu tự sự mà người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện, không tham gia vào các sự kiện và chỉ kể lại những gì mình quan sát được. Tính khả tín là yếu tố quan trọng trong tự sự khách quan, đảm bảo rằng người đọc tin vào những gì được kể. Tuy nhiên, trong văn xuôi hư cấu đương đại, tính khả tín đôi khi bị phá vỡ, tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật độc đáo.

3.2. Tự Sự Chủ Quan và Tính Bất Khả Tín Trong Văn Xuôi

Tự sự chủ quan là kiểu tự sự mà người kể chuyện tham gia vào câu chuyện, kể lại những gì mình cảm nhận, suy nghĩ. Tính bất khả tín là đặc điểm của tự sự chủ quan, khi người kể chuyện có thể đưa ra những thông tin sai lệch, hoặc có cái nhìn phiến diện về sự việc. Điều này tạo ra sự mơ hồ, đa nghĩa trong văn xuôi, kích thích trí tưởng tượng của người đọc.

IV. Đổi Mới Quan Niệm Về Nhân Vật Trong Văn Xuôi Hư Cấu Việt Nam

Sự đổi mới phương thức tự sự đi kèm với sự đổi mới quan niệm về nhân vật. Nhân vật trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại không còn là những con người lý tưởng, hoàn hảo, mà là những con người bình thường, có những khuyết điểm, mâu thuẫn. Các nhà văn tập trung khắc họa những nhân vật phức hợp, có tính cách đa diện, những nhân vật bé nhỏ, cô đơn, những nhân vật khước từ nguyên tắc điển hình hóa.

4.1. Nhân Vật Phức Hợp và Tính Cách Đa Diện Trong Tác Phẩm

Nhân vật phức hợp là những nhân vật có nhiều lớp tính cách, không thể định nghĩa một cách đơn giản. Tính cách đa diện thể hiện sự phức tạp của con người, với những mâu thuẫn, xung đột nội tâm. Các nhà văn sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để khắc họa nhân vật phức hợp, như sử dụng độc thoại nội tâm, miêu tả hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật.

4.2. Nhân Vật Bé Nhỏ và Sự Cô Đơn Trong Văn Học Đương Đại

Nhân vật bé nhỏ là những con người bình thường, không có địa vị, quyền lực trong xã hội. Sự cô đơn là một trạng thái phổ biến của con người trong xã hội hiện đại, khi các mối quan hệ trở nên lỏng lẻo, con người cảm thấy lạc lõng, cô độc. Các nhà văn thường sử dụng nhân vật bé nhỏ để phản ánh những vấn đề xã hội, những bất công, áp bức.

V. Kỹ Thuật Tự Sự Mới Mang Dấu Ấn Công Nghệ Trong Văn Xuôi

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến văn học, đặc biệt là văn xuôi hư cấu. Các nhà văn sử dụng nhiều kỹ thuật tự sự mới, mang dấu ấn công nghệ, như cắt dán, chồng xếp văn bản, kỹ thuật bàn phím. Điều này tạo ra những tác phẩm văn học độc đáo, phản ánh thế giới hiện đại một cách chân thực và sinh động.

5.1. Cắt Dán và Chồng Xếp Văn Bản Trong Tác Phẩm Văn Học

Kỹ thuật cắt dán và chồng xếp văn bản là một kỹ thuật tự sự mới, trong đó các đoạn văn, câu văn được cắt ra từ các nguồn khác nhau và ghép lại với nhau, tạo ra một văn bản mới. Kỹ thuật này tạo ra sự đa dạng, phong phú cho văn bản, đồng thời phản ánh sự hỗn loạn, phức tạp của thế giới hiện đại.

5.2. Kỹ Thuật Bàn Phím và Ảnh Hưởng Đến Phong Cách Tự Sự

Kỹ thuật bàn phím là một kỹ thuật tự sự mới, trong đó các nhà văn sử dụng bàn phím để viết trực tiếp trên máy tính, không qua bản thảo. Kỹ thuật này giúp các nhà văn viết nhanh hơn, dễ dàng chỉnh sửa, thay đổi văn bản. Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến phong cách tự sự, tạo ra những câu văn ngắn gọn, súc tích, mang tính khẩu ngữ.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Của Phương Thức Tự Sự Trong Tương Lai

Sự đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại là một quá trình liên tục, không ngừng. Trong tương lai, phương thức tự sự sẽ tiếp tục phát triển, đa dạng hóa, phản ánh những thay đổi của xã hội, văn hóa, công nghệ. Các nhà văn sẽ tiếp tục thử nghiệm những kỹ thuật tự sự mới, tạo ra những tác phẩm văn học độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao.

6.1. Tổng Kết Những Thành Tựu Đạt Được Trong Nghiên Cứu Tự Sự

Nghiên cứu phương thức tự sự đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ diện mạo và sự vận động ở bề sâu của tư duy nghệ thuật trong đời sống văn hóa, văn học Việt Nam đương đại. Đồng thời, nó cũng góp phần nhận diện những quy luật phổ quát của văn học đương đại, như quy luật giao lưu hội nhập, sự tương tác thể loại, nhu cầu của công chúng, khát vọng sáng tạo của nhà văn.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Tự Sự Học

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu phương thức tự sự một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Cần tập trung vào những vấn đề như: sự ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến phương thức tự sự, sự tương tác giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác, vai trò của người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu” trong văn bản nghệ thuật… Không thể nghiên cứu lí thuyết tự sự của Y. Lotman bên ngoài quan niệm của ông về kí hiệu học, về văn hóa và văn hóa học. Nhà nghiên cứu này rất chú trọng đến trình tự thời gian trong tự sự. Ông gọi “truyện kể” là “thiết chế đối tác” của huyền thoại, kiến tạo nên văn bản được tổ chức phù hợp với sự vận động của thời gian tuyến tính và ghi nhận cái bất thường, chứ không phải “ghi lại các biến cố, các tội ác, tai họa ngẫu nhiên, chỉ xảy ra một lần, tức là ghi lại những gì được xem là xóa bỏ một trật tự nào đó đã có từ lâu”.

Cho nên truyện kể là ngôn ngữ “gián đoạn”, “tuyến tính”. Lotman, vai trò của huyền thoại đối với sự hình thành các loại hình truyện kể và tiểu thuyết thế kỉ XIX ở các nền văn học dân tộc là rất khác nhau. Ở tiểu thuyết Tây Âu thế kỉ XIX, mô hình truyện kể là mô hình của cổ tích với phương án truyện kể kiểu “Lọ Lem”. Trong khi đó, 12 cấu trúc truyện kể của tiểu thuyết Nga lại dựa vào mô hình huyền thoại.

Dựa vào cổ tích, tiểu thuyết phương Tây chú ý đến chức năng kết thúc truyện kể và kết thúc hạnh phúc được coi là cơ bản. Cắm rễ sâu vào truyền thống huyền thoại, tiểu thuyết Nga đặt ra vấn đề cải biến bản chất bên trong của nhân vật, hoặc cải tạo cuộc sống xung quanh nó, chứ không quan tâm tới chuyện thay đổi vị thế của nhân vật nên đều không có kết thúc kiểu phương Tây. Như vậy, những diễn giải của Y. Lotman đã làm rõ sự khác biệt và cụ thể hóa trong nghệ thuật tự sự của mỗi vùng văn học.

Từ nhữ ng năm 80 của thế kỷ XX trở la ̣i đây, ở Việt Nam xuất hiện một số chuyên luận hoặc dịch, hoặc đi sâu nghiên cứu những cuộc cách tân trong tự sự của phương Tây như các cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (Đặng Anh Đào), Về một tiểu thuyết mới (Lê Phong Tuyết), A.Grillet: Sự thật và diễn giải (Nguyễn Thị Từ Huy), Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI; Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới; Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật (Phùng Văn Tửu). Các công trình này tập trung làm rõ những thử nghiệm, tìm tòi đổi mới của nhà văn với những tác phẩm nhận được sự đánh giá cao của dư luận. Những vấn đề then chốt của phương thức tự sự như người kể chuyện hay phương thức huyền thoại được các tác giả phân tích cụ thể. Một số công trình quan trọng về Tự sự học đã được dịch, giới thiệu và vận dụng vào nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại.

Hai hội thảo khoa học lớn về Tự sự học do Trần Đình Sử chủ trì tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã xuất bản 2 cuốn kỷ yếu “Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử” [90]. Đáng chú ý, chuyên khảo này là một bức tranh khái quát về lý thuyết tự sự học và những phân tích, diễn giải về diện mạo văn học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tổng hợp qua vài nét sơ bộ như trên, có thể thấy nghiên cứu tự sự nói chung và phương thức tự sự trong 13 văn xuôi hư cấu nói riêng đã là một phần quan trọng trong đời sống nghiên cứu, phê bình văn học đương đại. Cù ng vớ i cá c trà o lưu, trườ ng phá i văn ho ̣c nố i nhau ra đờ i, đem đế n thêm nhữ ng kinh nghiê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t mớ i, điề u chi ̉nh la ̣i kinh nghiệm nghê ̣ thuâ ̣t cũ, khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ có khi đươ c̣ đề nghi ̣ đổ i thà nh “trầ n thuâ ̣t”, theo đó tự sự học cũ ng mở rô ̣ng thà nh trầ n thuâ ̣t ho ̣c.

Mô ̣t số lý thuyế t gia cho rằ ng đi nh ̣ nghi ã đã có về “tư ̣ sư”̣ khó bao quá t đươ c̣ nhữ ng tá c phẩ m tiể u thuyế t và phim hâ ̣u hiê ̣n đa ̣i - nơi tác giả “từ chố i tổ chứ c nô ̣i dung thà nh mô ̣t câu chuyê ̣n xá c đi nh”. ̣ Khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ cầ n phả i đươ c̣ mở rô ̣ng thêm, ngoà i phầ n “lờ i kể ” (discouse) và “câu chuyê ̣n” (story), có thể phả i nghi ̃ đế n nhữ ng “câu chuyê ̣n không kể đươ c̣ ”, tứ c là nhữ ng sư ̣ kiê ̣n, nhữ ng lờ i nó i đươ c̣ trình bà y như “mô ̣t sư ̣ tri ̀nh hiê ̣n tư ̣ do trôi nổ i” (floating rep resentation). Luâ ̣n á n của chú ng tôi vẫn dù ng khá i niê ̣m “tư ̣ sư”̣ do tính chất quen thuộc và phổ cập của nó nhưng trong quá trình xử lý đề tài của chúng tôi vẫn se ̃ bao gồ m cả nhữ ng nô ̣i hà m đươ c̣ mở rô ̣ng củ a trầ n thuâ ̣t ho ̣c, tứ c là chú ng tôi quan tâm cả “câu chuyện” được kể theo kiểu truyền thống (có đầu, có cuối, có sự kiện, nhân vật) lẫn những câu chuyện được kể rời rạc, lộn xộn, cố ý làm mất mạch lạc, giống như một chuỗi sự việc được trình hiện tự do. Như thế nghĩa là “sự trình hiện tự do” cũng là một kiểu trật tự cố ý phi trật tự.

Từ những khía cạnh cơ bản của lý thuyết tự sự học, chúng tôi sẽ vận dụng để soi chiếu một chuyển biến quan trọng trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ 1986 đến nay đó là những đổi mới cơ bản trong phương thức tự sự. Các yếu tố căn cốt của tự sự rốt lại là truyện (sự kiện, biến cố, người trần thuật (điểm nhìn), cách thức trần thuật. Theo nhận thức của chúng tôi những nguyên tắc chìm, chi phối cấu trúc tự sự bao giờ cũng nằm ở chiều sâu tư duy văn học như cảm quan hiện thực, quan niệm về bản chất chức 14 năng của văn học, về mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả về thể loại. Luận án này với tên gọi Đổi mới phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại sẽ chủ yếu ưu tiên khảo sát những đặc điểm nổi bật trong sự đổi mới phương thức tự sự như bức tranh hiện thực, điểm nhìn, cách xử lý nhân vật, xử lý thể loại và một số kĩ thuật tạo lập văn bản.

Tình hình nghiên cứu về phương thức tự sự trong văn xuôi hư cấu Việt Nam đương đại Việc ứng dụng tự sự học để nghiên cứu những đổi mới về phương thức tự sự trong văn học Việt Nam đương đại là một nhu cầu khách quan nhờ đó chúng ta có được cái nhìn sâu hơn, sinh động hơn về bước ngoặt chuyển mình của văn học, ghi nhận những nỗ lực sáng tạo của nhà văn Việt Nam. Sự đổi mới phương thức tự sự là vấn đề được giới phê bình văn học trong nướ c hết sức quan tâm. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tùy thuộc thực tiễn đời sống văn học, hướng quan tâm cũng khác nhau. Khoảng những năm từ 1975 đến 1990, chuyển đổi rõ rệt nhất trong sáng tác của các nhà văn là sự gia tăng chất thế sự cho những cốt truyện sử thi.

Bức tranh hiện thực được nới rộng hơn, đã bắt đầu xuất hiện những mả ng mờ tối, khuất lấp của đời sống cộng đồng. Nhân vật trở nên “đời” hơn, ít cứng nhắc hơn và cũng ít hoàn hảo, toàn bích như trong văn học giai đoạn trước. Có lẽ vì thế, giới phê bình nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung vào nội dung “câu chuyện” được kể, dành mối quan tâm trước hết cho sự đổi mới cách nhìn hiện thực của nhà văn. Điều đó thể hiện rõ trong cuộc bàn luận về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu do tuần báo Văn nghệ tổ chức tháng 6/1985.

Dù xuất hiện không ít ý kiến băn khoăn về hướng tìm tòi đổi mới của nhà văn, một số người vẫn khẳng định sự chuyển hướng của ông là cần thiết và đúng đắn. Đáng chú ý là cả hai phía khen chê đều chủ yếu bàn đến tính nhân đạo của tác phẩm. Ý kiến của Phan Cự Đệ có thể 15 xem là tiêu biểu cho phía không đồng tình với Nguyễn Minh Châu: “Các nhân vật của anh lạ lẫm quá, tức là không có tính điển hình”, “Nguyễn Minh Châu đi bên lề cuộc sống”, “hình như anh cố tình lan man, rối rắm để ai muốn hiểu thế nào thì hiểu”. Phía các ý kiến tán thành Nguyễn Minh Châu, ít nhiều đã có người chỉ ra cả nỗ lực kiếm tìm cách thể hiện mới của nhà văn.

Lại Nguyên Ân viết: “Chiều sâu mới mẻ trong sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châu chính là nảy sinh trong sự đổi mới các bình diện nhận thức đời sống, mạnh dạn đi tìm nhiều cách thể hiện khác nhau, tự làm phong phú các khả năng nghệ thuật của mình và của chung nền văn xuôi chúng ta. Lã Nguyên viết: “Thay vì những câu chuyện về chiến tranh, về súng đạn, Nguyễn Minh Châu hôm nay thả bút theo tình đời. Bức tranh, Mẹ con chị Hằng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sống mãi với cây xanh là những câu chuyện về tình người, tình đời. Mảnh đất tình yêu là tình đời mở rộng thành triết học lịch sử.

Đi sâu vào vương quốc của tình đời, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu đã nhanh chóng chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô, từ thế giới của cộng đồng, dân tộc và lịch sử đến với những câu chuyện về đời tư và số phận của mỗi cá nhân con người. Nguyễn Minh Châu khá tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác lấy đời tư con người làm mảnh đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của các giá trị nhân bản. Ở đây, cá nhân con người chẳng những là đối tượng, chất liệu nhận thức nghệ thuật mà còn là điểm xuất phát, là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới” [59]. Ở thời điểm đó, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh gây chấn động dư luận, được khen là dám chọn những thời điểm khốc liệt của chiến tranh, dũng cảm không né tránh mặt trái của chiến tranh.

Đặng Quốc Nhật viết: “Đất trắng gợi ra cho chúng ta những suy nghĩ mới cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh lúc này. Ở đây người đọc thấy được sự dữ dội của cuộc chiến đấu, những thiệt 16 hại nặng nề của ta, những vùng đất trắng, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng” [52].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Phương Thức Tự Sự Trong Văn Xuôi Hư Cấu Việt Nam" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức tự sự trong thể loại văn xuôi hư cấu, đặc biệt là trong bối cảnh văn học Việt Nam. Tác giả phân tích các phương thức tự sự, từ đó làm nổi bật những đặc điểm nghệ thuật và ý nghĩa của chúng trong việc xây dựng nhân vật và cốt truyện. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức kể chuyện, giúp nâng cao khả năng cảm thụ văn học và phát triển tư duy sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi khám phá ngôn ngữ trong thơ ca kháng chiến, hay Luận án ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký tô hoài, giúp bạn hiểu thêm về cách thức tự sự trong hồi ký. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ ngữ văn phương ngữ nam bộ trong tiểu thuyết bà chúa hòn của nhà văn sơn nam cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các phương thức tự sự và ngôn ngữ trong văn học.