Luận án TS: Tính lún nền đất yếu gia cố trụ đất xi măng - Nguyễn Tấn Bảo Long

Luận án tiến sĩ phân tích Nghiên cứu phương pháp tính lún cho nền đất yếu được gia cố trụ đất xi măng luận án tiến sĩ kĩ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

148
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh phương pháp tính lún trụ đất xi măng luận án

Luận án tiến sĩ kỹ thuật về nghiên cứu phương pháp tính lún cho nền đất yếu được gia cố trụ đất xi măng là một công trình khoa học chuyên sâu, giải quyết những vấn đề cấp thiết trong lĩnh vực địa kỹ thuật công trình. Công nghệ cọc xi măng đất ngày càng phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt trong các dự án hạ tầng lớn như hầm chui, tòa nhà cao tầng trên nền địa chất phức tạp. Tuy nhiên, các lý thuyết tính toán hiện hành, kể cả theo tiêu chuẩn thiết kế TCVN 9403:2012, vẫn còn những hạn chế nhất định, dẫn đến việc dự báo biến dạng chưa hoàn toàn chính xác và tối ưu về mặt kinh tế. Luận án này tập trung vào việc đề xuất các phương pháp tính toán mới, khắc phục nhược điểm của các mô hình truyền thống bằng cách xem xét các yếu tố thực tế hơn. Cụ thể, nghiên cứu đề xuất phương pháp tính lún ổn định có xét đến sức chống cắt của đất xung quanh và phương pháp tính lún theo thời gian có kể đến tính thấm của vật liệu trụ. Những đề xuất này không chỉ mang tính học thuật mà còn có giá trị thực tiễn cao, giúp các kỹ sư thiết kế kiểm soát tốt hơn biến dạng của công trình, đảm bảo an toàn và tối ưu chi phí cho giải pháp cải tạo nền bằng trụ đất xi măng.

1.1. Tầm quan trọng của việc gia cố nền đất yếu hiện nay

Việc gia cố nền đất yếu là một trong những thách thức lớn nhất trong ngành xây dựng, đặc biệt tại các khu vực đô thị có mật độ công trình cao và điều kiện địa chất không thuận lợi như Đồng Bằng Sông Cửu Long. Các phương pháp truyền thống đôi khi không đáp ứng được yêu cầu về tiến độ và chi phí. Công nghệ cải tạo nền bằng trụ đất xi măng nổi lên như một giải pháp hiệu quả nhờ các ưu điểm như: thi công nhanh, chi phí hợp lý, khả năng xử lý sâu và ít ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Việc áp dụng thành công phương pháp này tại các công trình trọng điểm như hầm chui Thanh Xuân (Hà Nội) đã chứng minh hiệu quả vượt trội. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện lý thuyết tính toán là vô cùng cần thiết, giúp nâng cao độ tin cậy và mở rộng phạm vi ứng dụng của công nghệ này.

1.2. Mục tiêu cốt lõi của luận án tiến sĩ kỹ thuật này

Mục tiêu chính của luận án là đề xuất các phương pháp giải tích mới để tính toán độ lún cố kết một cách chính xác hơn. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào ba điểm mới. Thứ nhất, xây dựng công thức tính lún ổn định (S1) của khối gia cố có kể đến ảnh hưởng của sức kháng cắt của đất nền xung quanh, một yếu tố thường bị bỏ qua trong các mô hình tính toán đơn giản. Thứ hai, phát triển một phương pháp tính lún theo thời gian, trong đó xem xét đến vai trò của hệ số thấm của cọc xi măng đất trong quá trình thoát nước lỗ rỗng. Cuối cùng, luận án nghiên cứu và đề xuất mối tương quan giữa mô đun đàn hồi của vật liệu trụ xác định từ thí nghiệm nén ba trục và thí nghiệm nén đơn, giúp lựa chọn thông số đầu vào phù hợp hơn với điều kiện làm việc thực tế của trụ trong lòng đất.

II. Thách thức trong tính lún nền gia cố trụ đất xi măng

Việc dự báo chính xác độ lún của nền đất yếu được gia cố bằng trụ đất xi măng là một bài toán phức tạp, đối mặt với nhiều thách thức cả về lý thuyết và thực nghiệm. Các phương pháp tính toán hiện hành theo tiêu chuẩn thiết kế TCVN 9403:2012 và các tiêu chuẩn quốc tế khác thường dựa trên lý thuyết đàn hồi (định luật Hooke), coi khối gia cố là một vật liệu đồng nhất tương đương. Cách tiếp cận này tuy đơn giản nhưng lại bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng. Một trong những hạn chế lớn nhất là không xét đến sức chống cắt của đất yếu xung quanh khối gia cố, dẫn đến kết quả tính lún thường lớn hơn thực tế, gây lãng phí trong thiết kế. Thêm vào đó, quá trình tính toán độ lún cố kết theo thời gian cũng gặp nhiều khó khăn do chưa có hướng dẫn cụ thể. Sự tương tác phức tạp giữa trụ và đất, sự thay đổi của áp lực nước lỗ rỗng, và vai trò của tính thấm của trụ là những yếu tố chưa được mô tả đầy đủ. Những thách thức này là động lực chính thúc đẩy việc thực hiện luận án, nhằm tìm ra các phương pháp tính toán phù hợp và đáng tin cậy hơn.

2.1. Hạn chế của các mô hình tính lún ổn định truyền thống

Các công thức tính lún ổn định S1 phổ biến, bao gồm cả công thức trong TCVN, thường tính toán mô đun biến dạng của khối gia cố (Etb) theo phương pháp trung bình trọng số giữa mô đun của trụ (Ec) và đất (Es). Mô hình này không phản ánh đúng sự huy động sức kháng cắt (ma sát) dọc theo chu vi khối gia cố với đất nền xung quanh. Thực tế, chỉ cần một chuyển dịch nhỏ cũng đủ để huy động một phần đáng kể sức kháng cắt này, giúp giảm độ lún tổng thể. Việc bỏ qua yếu tố này làm cho kết quả tính toán thiên về an toàn một cách không cần thiết. Luận án của TS. Nguyễn Tấn Bảo Long chỉ ra rằng đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự khác biệt giữa dự báo và số liệu quan trắc lún thực tế.

2.2. Sự khác biệt mô đun đàn hồi từ thí nghiệm và thực tế

Một thách thức quan trọng khác là việc xác định chính xác mô đun đàn hồi của vật liệu trụ (Ec). Thông số này thường được lấy từ kết quả thí nghiệm nén một trục nở hông trong phòng thí nghiệm do tính đơn giản và phổ biến. Tuy nhiên, điều kiện thí nghiệm này không có áp lực hông, khác biệt hoàn toàn với điều kiện làm việc thực tế của trụ trong nền đất, nơi chúng luôn chịu áp lực ngang. Nhiều nghiên cứu, bao gồm cả các thí nghiệm được trích dẫn trong luận án, đã chỉ ra rằng mô đun đàn hồi từ thí nghiệm nén ba trục (mô phỏng tốt hơn điều kiện hiện trường) cao hơn đáng kể, từ 2,1 đến 3,7 lần so với thí nghiệm nén đơn. Sự chênh lệch này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tính toán sức chịu tải của nền và độ lún.

III. Phương pháp tính lún ổn định có xét sức chống cắt đất

Để giải quyết hạn chế của các mô hình hiện hữu, luận án đã đề xuất một phương pháp giải tích mới để tính độ lún ổn định (S1) của khối gia cố. Điểm cốt lõi của phương pháp này là đưa sức chống cắt của đất xung quanh vào phương trình cân bằng lực. Thay vì chỉ xem xét khối gia cố chịu nén thuần túy dưới tác dụng của tải trọng ngoài, mô hình mới công nhận rằng một phần tải trọng được truyền ra đất nền xung quanh thông qua lực ma sát dọc theo chu vi khối. Cách tiếp cận này phản ánh đúng hơn cơ chế làm việc của hệ thống nền gia cố nền đất yếu, giúp kết quả tính toán gần với thực tế hơn. Công thức đề xuất không chỉ chính xác hơn mà còn giúp tối ưu hóa thiết kế, giảm số lượng hoặc chiều dài cọc xi măng đất cần thiết, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Đây được xem là một trong những đóng góp khoa học quan trọng nhất của báo cáo khoa học xử lý nền này.

3.1. Xây dựng công thức giải tích mới dựa trên lý thuyết đàn hồi

Trên cơ sở lý thuyết đàn hồi, phương pháp đề xuất bắt đầu bằng việc chia khối gia cố thành các lớp phân tố vi phân theo chiều sâu. Tại mỗi lớp, phương trình cân bằng lực được thiết lập, bao gồm tải trọng thẳng đứng từ lớp bên trên và lực ma sát kháng lại từ đất xung quanh. Bằng cách tích phân biến dạng của từng lớp phân tố trên toàn bộ chiều sâu khối gia cố, công thức tính độ lún cuối cùng được hình thành: S1 = (qH/Ekgc) * (1 - ηH/2). Trong đó, tham số η là một hệ số tổng hợp, phản ánh ảnh hưởng của sức chống cắt, phụ thuộc vào các đặc trưng cơ lý của đất như lực dính và góc ma sát trong. Công thức này cho thấy độ lún giảm đi một lượng tỷ lệ với sức chống cắt được huy động.

3.2. So sánh hiệu quả giữa phương pháp đề xuất và TCVN

Kết quả kiểm chứng cho thấy phương pháp đề xuất luôn cho giá trị độ lún nhỏ hơn so với phương pháp tính theo tiêu chuẩn thiết kế TCVN 9403:2012. Mức độ chênh lệch phụ thuộc vào cường độ kháng cắt của lớp đất yếu xung quanh. Điều này hoàn toàn hợp lý về mặt cơ học, vì TCVN đã bỏ qua một thành phần lực có tác dụng làm giảm biến dạng. Việc áp dụng phương pháp mới giúp các kỹ sư có một công cụ đánh giá chính xác hơn, tránh được sự lãng phí do thiết kế quá an toàn, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho công trình. Các kết quả so sánh với số liệu quan trắc lún thực tếmô hình hóa trong Plaxis đều cho thấy sự phù hợp cao của công thức đề xuất.

IV. Hướng dẫn tính lún theo thời gian xét tính thấm của trụ

Một đóng góp quan trọng khác của luận án là việc đề xuất một phương pháp tính lún theo thời gian cho nền được gia cố, một vấn đề mà tiêu chuẩn thiết kế TCVN hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể. Phương pháp này dựa trên lý thuyết cố kết Terzaghi nhưng được cải tiến để phù hợp với điều kiện của nền gia cố. Điểm mấu chốt là xem xét hệ thống nền-trụ như một khối vật liệu composite. Mặc dù hệ số thấm của vật liệu cọc xi măng đất có thể thấp hơn đất tự nhiên, nhưng do mô đun biến dạng của khối gia cố lớn hơn nhiều, hệ số nén lún tương đối sẽ nhỏ hơn. Điều này dẫn đến hệ số cố kết tương đương của khối gia cố (Cvkgc) tăng lên, làm cho quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng và cố kết diễn ra nhanh hơn so với nền đất tự nhiên. Phương pháp này cung cấp một công cụ hữu hiệu để dự báo tiến trình lún, giúp kiểm soát biến dạng trong quá trình thi công và vận hành.

4.1. Vai trò của hệ số cố kết tương đương trong nền gia cố

Phương pháp đề xuất tính toán một hệ số cố kết tương đương cho toàn bộ nền (Cvtđ), bao gồm cả khối gia cố và lớp đất yếu bên dưới. Hệ số này được xác định dựa trên hệ số cố kết và chiều dày của từng lớp. Bằng cách sử dụng Cvtđ, bài toán cố kết của một môi trường không đồng nhất được đơn giản hóa thành bài toán cố kết một chiều tương đương. Quá trình này cho phép áp dụng các công thức tính toán độ cố kết (Ut) và nhân tố thời gian (Tv) quen thuộc. Cách tiếp cận này không chỉ dễ áp dụng mà còn phản ánh được ảnh hưởng của việc gia cố đến tốc độ lún, một yếu tố then chốt trong quản lý tiến độ dự án.

4.2. Phân tích bằng Mô hình đất mềm Soft Soil Model

Bên cạnh phương pháp giải tích, việc sử dụng các công cụ số như phương pháp phần tử hữu hạn với Mô hình đất mềm (Soft Soil Model) trong Plaxis là cực kỳ quan trọng để mô phỏng quá trình cố kết. Mô hình này có khả năng mô tả chính xác hơn hành vi ứng suất-biến dạng phụ thuộc thời gian của đất yếu. Luận án đã sử dụng mô hình hóa trong Plaxis để kiểm chứng phương pháp giải tích đề xuất. Kết quả phân tích số cho thấy sự tương đồng cao về cả độ lún cuối cùng và tiến trình lún theo thời gian, khẳng định tính đúng đắn và độ tin cậy của phương pháp được đề xuất.

V. Kiểm chứng kết quả qua thực nghiệm và mô phỏng Plaxis

Tính khoa học và thực tiễn của một luận án kỹ thuật được quyết định bởi khả năng kiểm chứng các đề xuất lý thuyết. Luận án này đã thực hiện quá trình kiểm chứng một cách nghiêm ngặt và đa chiều. Các công thức giải tích mới được đối chiếu không chỉ với các thí nghiệm hiện trường tại Việt Nam và Nhật Bản mà còn được so sánh với kết quả từ phân tích số bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Sự kết hợp giữa quan trắc lún thực tế, thí nghiệm trong phòng và mô phỏng số đã tạo ra một bộ dữ liệu đối chứng tin cậy, khẳng định tính ưu việt của các phương pháp đề xuất so với các lý thuyết truyền thống. Kết quả cho thấy sự phù hợp cao giữa tính toán lý thuyết và số liệu đo đạc, đặc biệt là khi sử dụng các thông số vật liệu được hiệu chỉnh từ thí nghiệm nén ba trục.

5.1. Kết quả từ quan trắc lún thực tế tại các công trình

Dữ liệu từ các thí nghiệm hiện trường đóng vai trò là bằng chứng khách quan nhất. Luận án đã sử dụng số liệu quan trắc lún thực tế từ các dự án tại Vĩnh Long (Việt Nam) và các công trình tại Nhật Bản. Các kết quả quan trắc về độ lún tổng thể và tiến trình lún theo thời gian được so sánh trực tiếp với kết quả dự báo từ phương pháp đề xuất và các phương pháp cũ. Phân tích cho thấy phương pháp mới cho kết quả dự báo sát với số liệu thực tế hơn đáng kể, trong khi các phương pháp truyền thống thường cho kết quả lún lớn hơn. Điều này chứng tỏ việc xét đến sức chống cắt và tính toán lại hệ số cố kết là hoàn toàn đúng đắn.

5.2. Hiệu quả của việc mô hình hóa trong Plaxis 3D

Phần mềm Plaxis, một công cụ mạnh mẽ trong địa kỹ thuật công trình, đã được sử dụng để xây dựng mô hình số 3D. Việc mô hình hóa trong Plaxis cho phép mô phỏng chi tiết sự tương tác giữa cọc xi măng đất và đất nền, sự phân bố lại ứng suất và quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng. Các mô hình số được hiệu chỉnh dựa trên các thông số từ thí nghiệm trong phòng. Kết quả mô phỏng không chỉ xác nhận các kết quả từ phương pháp giải tích mà còn cung cấp cái nhìn trực quan về trường chuyển vị và ứng suất trong nền, giúp hiểu sâu hơn về cơ chế làm việc của hệ thống.

VI. Kết luận và định hướng cho luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp tính lún cho nền đất yếu được gia cố trụ đất xi măng đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, mang lại những đóng góp mới mẻ và có giá trị thực tiễn cao. Công trình đã xây dựng thành công các phương pháp giải tích tiên tiến hơn để dự báo độ lún ổn định và độ lún theo thời gian, khắc phục được các nhược điểm cố hữu của những mô hình tính toán trước đây. Các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết về cải tạo nền bằng trụ đất xi măng mà còn cung cấp cho các kỹ sư những công cụ thiết kế hiệu quả, an toàn và kinh tế hơn. Những phát hiện này mở ra nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo, là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật và các báo cáo khoa học xử lý nền trong tương lai.

6.1. Tóm tắt những đóng góp khoa học chính của luận án

Những đóng góp cốt lõi của luận án bao gồm: (1) Đề xuất công thức tính lún ổn định mới có xét đến sức chống cắt của đất xung quanh, cho kết quả gần với thực tế và kinh tế hơn. (2) Phát triển phương pháp tính lún theo thời gian dựa trên hệ số cố kết tương đương, lấp đầy khoảng trống trong các tiêu chuẩn hiện hành. (3) Thiết lập mối tương quan thực nghiệm giữa mô đun đàn hồi từ thí nghiệm nén 3 trục và nén đơn, giúp lựa chọn thông số đầu vào chính xác hơn. Các đóng góp này đã được kiểm chứng một cách thuyết phục qua thực nghiệm và phân tích số.

6.2. Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo cho các học viên

Trên cơ sở của luận án này, các học viên cao học và nghiên cứu sinh có thể phát triển các hướng nghiên cứu sâu hơn. Một số hướng tiềm năng bao gồm: nghiên cứu ảnh hưởng của cách bố trí trụ (hình vuông, tam giác) đến hiệu quả giảm lún; phân tích hành vi của nền gia cố dưới tác dụng của tải trọng động hoặc tải trọng ngang; phát triển các mô hình vật liệu tiên tiến hơn trong phương pháp phần tử hữu hạn để mô tả sự suy giảm cường độ của đất xi măng. Đây đều là những chủ đề mang tính thời sự, hứa hẹn sẽ tạo ra những báo cáo khoa học xử lý nền có giá trị.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, phần Kết luận - kiến nghị và 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: “Tổng quan về các phƣơng pháp tính lún cho nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng”. Chƣơng 2: “Phƣơng pháp tính lún cho nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng”. 4 Chƣơng 3: “Thí nghiệm trong phòng và hiện trƣờng để đánh giá độ lún ổn định và độ lún theo thời gian của nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng”. Chƣơng 4: “Kiểm chứng các công thức đề xuất bằng các thí nghiệm hiện trƣờng và phƣơng pháp Phần tử hữu hạn”.

Phạm vi nghiên cứu Trong nghiên cứu tính lún ổn định, tác giả chỉ tập trung cho độ lún của bản thân khối gia cố. Nghiên cứu đƣợc thực hiện với đất nền khu vực xã Phƣớc Nhơn, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nơi có địa chất đặc trƣng cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP TÍNH LÚN CHO NỀN ĐẤT YẾU ĐƢỢC GIA CỐ TRỤ ĐẤT XI MĂNG Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về độ lún của nền đất yếu gia cố trụ đất xi măng và các tác giả chủ yếu tính lún theo phƣơng pháp truyền thống. Theo tiêu chuẩn Thụy Điển, tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 9403:2012 ) và phần lớn các phƣơng pháp tính hiện nay về tính toán lún của nền gia cố trụ đất xi măng thì độ lún S1 của bản thân khối gia cố đƣợc tính dựa trên định luật Hooke, bỏ qua sức chống cắt của đất xung quanh khối gia cố.

Bên cạnh đó, các phƣơng pháp tính lún theo thời gian của nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng còn khá ít. Theo Terashi (1983), Ahnberg (1995) và Jinchun Chai (2015) thì hệ số thấm của đất trộn xi măng sẽ giảm tƣơng ứng với sự gia tăng hàm lƣợng xi măng. Trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9403:2012 hiện nay cũng chƣa có hƣớng dẫn cụ thể về phƣơng pháp tính lún theo thời gian cho nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng. Khi tính toán độ lún của nền đất yếu đƣợc gia cố trụ đất xi măng, thông số quan trọng trong các phƣơng pháp hiện nay là mô đun đàn hồi của vật liệu trụ đất xi măng và hiện nay giá trị mô đun đàn hồi này chủ yếu đƣợc lấy từ thí nghiệm nén một trục có nở hông vì đây là thí nghiệm đơn giản và rất phổ biến.

Tuy nhiên với cách xác định nhƣ vậy là chƣa phù hợp vì thực tế ngoài hiện trƣờng xung quanh các trụ đất xi măng có áp lực ngang của đất nền còn trong thí nghiệm nén một trục có nở hông thì không có áp lực xung quanh mẫu thí nghiệm. Do vậy, đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa giá trị mô đun đàn hồi của vật liệu trụ đất xi măng thu đƣợc từ thí nghiệm nén tĩnh hiện trƣờng và giá trị mô đun đàn hồi của vật liệu trụ đất xi măng thu đƣợc từ thí nghiệm nén một trục có nở hông. Nhiều kết quả thí nghiệm hiện trƣờng đã cho thấy sự khác biệt này là rất đáng kể.1 Tổng quan về việc xác định lún ổn định của bản thân khối gia cố 1.1 Tiêu chuẩn Việt Nam, Thụy Điển [1] Theo đó độ lún của nền gia cố đƣợc chia thành 2 độ lún thành phần S1 là độ lún của bản thân khối gia cố và S2 là độ lún của nền bên dƣới khối gia cố nhƣ trong hình 1.1 Các độ lún thành phần của nền gia cố Độ lún của bản thân khối gia cố đƣợc tính nhƣ sau: qH qH S1   (1.1) Etb aEC  1  a E S Trong đó: S1 - độ lún của bản thân khối gia cố; q - tải trọng ngoài tác dụng lên khối gia cố; H - chiều sâu của khối gia cố; a - tỷ diện tích thay thế của trụ đất xi măng; EC - mô đun đàn hồi của vật liệu trụ đất xi măng; ES - mô đun biến dạng của đất yếu; Etb - mô đun biến dạng của khối gia cố. Theo cách tính độ lún S1 của bản thân khối gia cố nhƣ công thức (1.1) thì phƣơng pháp này đã bỏ qua sức chống cắt của đất xung quanh khối gia cố.2 Tiêu chuẩn Trung Quốc và một số nước Châu Âu [2] [3] Độ lún S1 của bản thân khối gia cố đƣợc xác định nhƣ sau: S1  P0  P0 Z L (1.2) 2 Etđ Trong đó: S1 - độ lún của bản thân khối gia cố; P0 - tải trọng tác dụng tại đầu trụ đất xi măng; P0z - tải trọng tác dụng tại mũi trụ đất xi măng; L - chiều sâu của khối gia cố; Etđ - mô đun biến dạng của khối gia cố.

Theo cách tính độ lún S1 của bản thân khối gia cố nhƣ công thức (1.2) thì phƣơng pháp này cũng đã bỏ qua sức chống cắt của đất xung quanh khối gia cố. Tuy nhiên phƣơng pháp có xét thêm trọng lƣợng bản thân trụ đất xi măng.3 Phương pháp John P.Carter (2011) [4] Với trƣờng hợp trụ đất xi măng xuyên hết lớp đất yếu, thì độ lún của khối gia cố đƣợc tính nhƣ sau: St  mvs sH (1.3) Trong đó: St - độ lún của bản thân khối gia cố; mvs - hệ số nén thể tích của đất; μs - hệ số ứng suất tác dụng lên đất yếu; σ - tải trọng tác dụng lên khối gia cố; H - chiều sâu của khối gia cố. Với trƣờng hợp trụ đất xi măng không xuyên hết lớp đất yếu, chiều dày tính toán độ lún của khối gia cố và độ lún của lớp đất yếu bên dƣới khối gia cố đƣợc xác định nhƣ trong hình 1.2 Nguyên lí tính bề dày tính lún cho lớp đất yếu theo Tiêu chuẩn Nhật Bản Theo đó: Khi tỷ diện tích thay thế nhỏ hơn 30% thì chiều dày tính lún cho khối gia cố là 2HL/3, chiều dày tính lún cho lớp đất yếu bên dƣới khối gia cố là HS và tải trọng tác dụng lên lớp đất yếu là q2 có bề rộng đƣợc xác định bằng vẽ đƣờng thẳng hợp với mép ngoài của trụ ngoài cùng một góc 30o đến độ sâu HS/2. Khi tỷ diện tích thay thế lớn hơn 30% thì chiều dày tính lún cho khối gia cố là HL, chiều dày tính lún cho lớp đất yếu bên dƣới khối gia cố là HS và tải trọng tác dụng lên lớp đất yếu là q2 có bề rộng đƣợc xác định bằng vẽ đƣờng thẳng hợp với mép ngoài của trụ ngoài cùng một góc 30o đến độ sâu HS/2.

Theo cách tính độ lún của bản thân khối gia cố nhƣ công thức (1.3) thì phƣơng pháp này có xét đến hệ số nén thể tích của đất yếu và tải trọng tính lún là tải tác dụng lên đất yếu.4 Phương pháp Alen và Baker (2010) [5] Alen, C. đã đề xuất mô hình ƣớc tính biến dạng của khối gia cố: Hình 1.3 Sơ đồ nguyên lí phân bố ứng suất 9 Ecol  col ( x, z )  .5) Eblock  block S   dz   dz D D Eblock (1.6) Trong đó: S - độ lún của bản thân khối gia cố; Ecol - mô đun đàn hồi của trụ đất xi măng; Esoil - mô đun biến dạng của đất; Eblock - mô đun biến dạng của khối gia cố; Δσcol - độ gia tăng ứng suất lên trụ đất xi măng; Δσsoil - độ gia tăng ứng suất lên đất; Δσblock - độ gia tăng ứng suất lên khối gia cố; ε - biến dạng tƣơng đối của khối gia cố; 1.5 Phương pháp của Mikio Kubo [6] Cách xác định chiều dày tính lún theo Mikio Kubo đƣợc thể hiện trong hình 1. Theo đó chiều dày tính lún cho khối gia cố là 2H1/3, chiều dày tính lún cho lớp đất yếu bên dƣới khối gia cố là (H2 + H1/3) và tải trọng tác dụng lên lớp đất yếu là q2 có bề rộng đƣợc xác định bằng vẽ đƣờng thẳng hợp với mép ngoài của trụ ngoài cùng một góc 30o đến hết lớp đất yếu. B q1 H1 (Chiều dài trụ) S1 S1 Độ lún của khối gia cố H1/3 S2 Độ lún dưới S2 khối gia cố H2 (Vùng không gia cố) 1 2 q2 Đất yếu Nền cứng Hình 1.4 Nguyên lí xác định độ lún theo Mikio Kubo 10 Độ lún của khối gia cố và lớp đất yếu dƣới khối gia cố đƣợc xác định nhƣ sau: S1 = (q1/Etb) x (2/3H1) (1.8) Trong đó: S1 - độ lún của bản thân khối gia cố; S2 - độ lún dƣới khối gia cố; Etb - mô đun biến dạng của khối gia cố; H1 - chiều dài trụ; H2 - chiều dày vùng không gia cố; mv - hệ số nén thể tích của đất yếu; q1 - tải trọng tác dụng lên khối gia cố; q2 - tải trọng tác dụng lên lớp đất yếu; 1.6 Một số phương pháp khác [7], [8] Năm 1994 H.Boton đã sử dụng mô hình thí nghiệm để ƣớc tính độ lún ổn định của bản thân khối gia cố.Bolton đã tạo 8 trụ đất xi măng đƣờng kính 30mm, dài 200mm trong hộp vách kính.

Xi măng Portland đƣợc trộn với hàm lƣợng 15kg/m3 vào trong sét Kaolin. Tải trọng đứng 25kPa đƣợc đặt thông qua tấm cứng trên đầu trụ.11) Trong đó: a - tỷ diện tích thay thế của đất xi măng b - hệ số phân bố ứng suất νs - hệ số Poison của đất nền 11 Hình 1.5 Mô hình thí nghiệm của M. Bolton 70 60 Trường hợp 3 50 qv (kPa) 40 Trường hợp 2 30 Tải đứng, 20 Trường hợp 1 10 0 qh/qv=0 0 0.6 Quan hệ giữa độ lún và tải trọng đứng Theo Alamgir (1996) thì độ lún lệch giữa đầu trụ và đất yếu đƣợc xác định nhƣ sau: r  c ( 1)  r wrz  wcz   cz   e a  (1.12) a  Trong đó: wcz - chuyển vị của đầu trụ wrz - chuyển vị của đất αcz, βc - các hệ số a - bán kính cột r - khoảng cách từ tâm cột đến điểm đang xét 12  Nhận xét, đánh giá các phƣơng pháp: Nhìn chung các phƣơng pháp giải tích đều chƣa xét đến ma sát xung quanh khối gia cố. Phƣơng pháp của Alen và Baker đã đƣa ra hàm phân bố ứng suất rất thuyết phục tuy nhiên phƣơng pháp vẫn tính mô đun biến dạng của nền theo trung bình trọng số.

Phƣơng pháp Alamgir có xét đến tƣơng tác giữa trụ đất xi măng và đất nền nhƣng phƣơng pháp lại không xét đến sự giảm tác dụng của tải trọng ngoài theo độ sâu. Tiêu chuẩn của các nƣớc Việt Nam, Trung Quốc , Thụy Điển đều không xét đến ma sát xung quanh khối gia cố, sự giảm tác dụng của tải trọng ngoài theo độ sâu, tính mô đun biến dạng của nền theo trung bình trọng số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ