Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY HỌC PIANO TẠI TRUNG TÂM MUSIC TALENT 1. Khái niệm, thuật ngữ 1. Dân ca (trong âm nhạc dân gian Việt Nam) Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (xuất bản năm 1998) ta có thể hiểu “Dân ca là bài hát lưu truyền dân gian thường không rõ tác giả” [35; tr. Trong cuốn “Tìm hiểu dân ca Việt Nam” của Phạm Phúc Minh có khái niệm về dân ca như sau: “Dân ca là những làn điệu, bài hát truyền thống được lưu truyền trong dân gian từng vùng, từng dân tộc” [24; tr.
Cũng trong cuốn sách này, ở trang 11, Phạm Phúc Minh có nêu rõ hơn về dân ca: “Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc”. Chúng tôi đồng quan điểm với cách giải thích này của tác giả Phạm Phúc Minh. Như vậy, dân ca Việt Nam là những bài hát mang chất liệu của âm nhạc dân gian Việt Nam, là “di sản âm nhạc đã hình thành và phát triển trong quá khứ ở nước ta kể từ thời phong kiến trở về trước còn được lưu truyền cho tới nay mà chưa bị ảnh hưởng của âm nhạc phương Tây” [21; tr. Dân ca do nhân dân sáng tác và mang tính khuyết danh, được gọt rũa và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, “dân ca chính là những hạt ngọc, được chắt lọc tinh tế, kỹ lưỡng từ bao thế hệ mà thành” [8; tr.
Đặc điểm của dân ca nổi trội nhất có thể kể đến những chủ đề gắn liền với đời sống con người, từ lúc sinh ra đến lúc mất đi. Đó là những bài hát mẹ ru con ngủ, những bài trẻ em hát khi các em chơi “trốn tìm, đánh đũa, đánh ô”, những câu hò đối đáp vào mùa cấy giữa ruộng đồng sâu đầy nước, trên sông, trên rạch những đêm im vắng, cạnh những cối giã gạo 8 chày ba, những bài hát đối đáp giữa chân đồi, trên mặt hồ hay cạnh bờ sông, khi công việc đồng áng rỗi rãi, trong những đêm trăng sáng vằng vặc hay trong dịp cưới xin, lễ lạt hoặc đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Những bài hát dân gian do đông đảo quần chúng sáng tạo nên thường không ai biết tên, tác giả nào đã tạo ra nó. Có khi những bài dân ca ấy được sáng tác ngay trong những cuộc hội hát tạo điều kiện cho nhiều thế hệ gặp nhau qua các loại hát giao duyên hay trong quá trình lao động sản xuất.
Những bài dân ca do những người không chuyên nghiệp, với nhiều thành phần, nghề nghiệp khác nhau sáng tác, có thể là nông dân, thanh niên, thiếu nữ, nhà nho,… Họ sáng tác với mục đích vui chơi mà không vụ lợi, không mục đích thương mại. Nhạc cụ đệm cho những bài hát dân ca cũng đơn giản. Ngôn ngữ âm nhạc gần với thiên nhiên chứ không phức tạp như âm nhạc chuyên nghiệp. Dân ca cũng mang màu sắc địa phương rất đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, âm nhạc của từng vùng mà khác đi đôi chút.
Chất liệu Các tác phẩm dân ca in sâu trong tâm thức mỗi người như vậy, nên khi sáng tạo tác phẩm khí nhạc mới, những âm hưởng dân ca đã xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong tác phẩm, nằm ngoài chủ ý của tác giả. Điều này thể hiện yếu tố khúc xạ tự nhiên của văn hoá dân gian nói chung và âm nhạc dân gian Việt Nam nói riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta biết rằng, nói đến nghệ thuật dân gian là nói đến tính lưu truyền mà điển hình là truyền khẩu (truyền miệng). Mỗi lần truyền miệng như vậy cũng là thêm một lần sáng tạo.
Điều này lý giải vì sao chúng ta khó tìm được bài bản gốc của mỗi bài dân ca. Cho nên, việc diễn tả chất liệu dân ca trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam một cách ngẫu nhiên cũng có thể được coi là một lần truyền bá chất liệu âm nhạc dân ca Việt Nam trong con mắt của người đương thời. 9 Suốt chiều dài lịch sử phát triển, đất nước ta đã trải qua rất nhiều những thăng trầm của thời đại. Không nằm ngoài dòng chảy đó, nền âm nhạc Việt Nam cũng có rất nhiều những biến đổi mạnh mẽ cả về hình thức lẫn thể loại.
Từ thời đầu của nền tân nhạc Việt Nam đã có những nhạc sĩ tập trung khai thác và phát triển kho tàng âm nhạc dân gian, trong đó có dân ca. Việc sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian không chỉ xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam đương đại mà điều này vốn là một dòng chảy tự nhiên trong nền âm nhạc của mọi quốc gia thuộc mọi thời đại. Thời kỳ Tiền cổ điển rồi Cổ điển, trong các vở Oratorio của G. Handel (1685 - 1759) hay trong các bản giao hưởng của W.
Mozart (1756 - 1791), người ta tìm thấy khá nhiều chất liệu âm nhạc dân gian của các dân tộc ở châu Âu như Đức, Áo, Ý, Pháp,… Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu của nền tân nhạc, một số nhạc sĩ đã có ý thức và tâm huyết với xu hướng này như Nguyễn Hữu Tuấn, Thái Thị Liên, Nguyễn Văn Thương,… Đến nay, có thể nói phần lớn các tác phẩm Piano “đi cùng năm tháng” ít nhiều đều mang âm hưởng dân ca một vùng miền nào đó. Tác phẩm Piano Việt Nam sử dụng chất liệu dân ca của vùng miền nào đó được coi là tác phẩm mang âm hưởng dân ca. Việc sử dụng chất liệu dân ca được chia thành nhiều dạng khác nhau như: phát triển từ một làn điệu, có màu sắc, chất liệu của làn điệu, sử dụng thang âm điệu thức đặc trưng của một thể loại dân ca hay chuyển soạn nguyên dạng bài dân ca đó,… Trong tác phẩm Piano, “chất liệu” là một thuật ngữ có tính khái quát nhằm chỉ định những bộ phận giai điệu hoặc tiết tấu gây được ấn tượng đặc trưng cho tác phẩm, làm nó trở thành một thể khác biệt với tác phẩm khác. Bộ phận đó có thể là một âm hình (gồm nhiều ô nhịp, có sự kết hợp giữa cao độ và tiết tấu), một hình tiết tấu (không liên quan đến cao độ), một mô típ (một tổ hợp nốt), hoặc đơn giản chỉ là một quãng giai điệu.
Ngoài ra, có thể kể đến cách sử dụng các nốt hoa mỹ; các cách tiến hành giai điệu đi lên, 10 đi xuống; cách nối tiếp hòa âm trong giai điệu;… Như vậy, khi nói một tác phẩm Piano có chất liệu một thể loại dân ca thì có thể được xem là tác giả đã sử dụng một làn điệu, một nét của làn điệu hoặc cách tiến hành quãng đặc trưng trong làn điệu dân ca nào đó. Ngoài ra, điều đó còn được thể hiện trong việc sử dụng điệu thức, tiết tấu, cấu trúc trong dân ca,… Với Việt Nam, chúng ta sử dụng chất liệu nghệ thuật dân gian để xây dựng tác phẩm khí nhạc. Nước ta có kho tàng âm nhạc dân gian phong phú nên khai thác chất liệu âm nhạc dân gian luôn là những sáng tạo mới cho tác phẩm. Mỗi người sáng tác vận dụng và xử lý chất liệu âm nhạc dân gian một khác.
Âm nhạc dân gian Việt Nam trong tác phẩm khí nhạc mới vừa thể hiện sự kết hợp ngôn ngữ âm nhạc phương Đông với phương Tây, vừa thể hiện bản sắc văn hoá riêng, sự sáng tạo nghệ thuật riêng của các nhạc sĩ Việt Nam. Do đó, chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam chính là nguồn chất liệu bất tận để khai thác sáng tạo nghệ thuật của chủ thể sáng tạo khí nhạc mới Việt Nam. Thang âm, điệu thức Trong sáng tác tác phẩm Piano, các nhạc sĩ Việt Nam đã có ý thức trong việc lấy chất liệu từ âm nhạc dân tộc, có thể là âm điệu, điệu thức để đưa vào tác phẩm của mình. Có thể nói, thang âm, điệu thức chính là ngôn ngữ âm nhạc của mỗi dân tộc, thể hiện lối sáng tạo trong tư duy, là bản sắc nghệ thuật của dân tộc đó.
Theo như sự tổng hợp của PGS. Trịnh Hoài Thu, thang âm, điệu thức theo lý thuyết âm nhạc cơ bản có thể hiểu như sau: “Hệ thống âm nhạc được dùng làm cơ sở cho thực tiễn âm nhạc hiện đại là một dãy những âm thanh có tương quan nhất định với nhau về độ cao. Sự sắp xếp các âm của hệ thống theo độ cao được gọi là thang âm” [5, tr. 17] (trong tài liệu tham khảo là [24, tr.
11 Theo lý giải của PGS. Tô Vũ thì: “Thang âm và điệu thức là những khái niệm lý luận âm nhạc xuất hiện ở phương Tây từ thời cổ đại Hy Lạp, được nghiên cứu, hệ thống hoá chủ yếu với ngôn ngữ âm nhạc 7 âm. Thang âm là chuỗi các âm sắp xếp theo trật tự cao độ thường từ thấp đến cao. Điệu thức là chuỗi âm trong đó mỗi âm đều có vai trò và vị trí xác định” [4, tr 61] (trong tài liệu tham khảo là [50, tr.
Cũng theo PGS. Tô Vũ thì “Âm nhạc truyền thống người Việt dùng thang 7 âm (ngũ cung thất thanh = 5 điệu 7 âm), nhưng trong thực tế dân ca người Việt, ta lại thấy hệ thang điệu 5 âm mới là phổ biến và lý do, như đã gợi ý, rất có thể là do vấn đề thanh điệu của ngôn ngữ tiếng Việt" [4, tr 62] (trong tài liệu tham khảo là [50, tr. Có nhiều loại điệu thức khác nhau như 4 âm, 5 âm, 6 âm, 7 âm… Mỗi loại điệu thức có một kiểu sắp xếp các âm của nó theo cách khác nhau. Theo Nhạc sĩ Phạm Phúc Minh trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam cho rằng: “Trong dân ca Việt Nam có rất nhiều kiểu gam - điệu thức, nhưng phổ biến nhất vẫn là 5 cung (ngũ cung)” [1, tr 89] (trong tài liệu tham khảo là [24, tr.
Để tiện nghiên cứu, chúng ta cần phân biệt một số khái niệm có liên quan như sau: Thang âm, Điệu thức, Giọng, Gam. Thang âm là sự sắp xếp các âm thanh theo một thứ tự cao độ nhất định. Mỗi âm trong thang âm được gọi là các bậc của nó. Điệu thức là chuỗi âm trong đó mỗi âm đều có vai trò và vị trí xác định.
Có thể nói điệu thức mới chỉ là công thức về cách sắp xếp các bậc (chưa rõ là âm nào). Giọng còn gọi là điệu tính (Anh: Tonality, Pháp: Tonalité): là điệu thức được thể hiện trên một cao độ nhất định. Giọng còn được gọi là điệu tính. Tên giọng gồm tên Chủ âm (bậc I) và tên điệu thức.