Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Hoàng Long sở hữu tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.515 km2, nằm trên địa giới hành chính của hai tỉnh Hòa Bình (chiếm 66% diện tích) và Ninh Bình (chiếm 34% diện tích). Dòng chính sông Hoàng Long có tổng chiều dài 125 km, đặc trưng bởi sự chuyển tiếp địa hình đột ngột từ vùng núi cao thượng lưu trên 300 m xuống vùng đồng bằng hạ lưu chỉ cao từ 10 đến 12 m. Cấu trúc mạng lưới sông dạng nan quạt cùng sự thiếu hụt vùng trung lưu khiến dòng chảy lũ từ ba nhánh sông Bôi, sông Lạng và sông Đập tập trung rất nhanh về hạ du. Tại khu vực hạ lưu, quá trình thoát lũ bị cản trở nghiêm trọng do mực nước sông Đáy dâng cao kết hợp thủy triều, gây ngập lụt kéo dài tại các vùng trũng thấp.

Thực tế lịch sử đã ghi nhận nhiều đợt lũ đặc biệt lớn như năm 1985 với lượng mưa đợt đạt 1.207 mm tại Nho Quan, và trận lũ lịch sử tháng 10 năm 2017 khi mực nước tại Bến Đế đạt cao trình 5,53 m, vượt mức báo động ba tới 1,53 m, làm ngập úng hơn 3.100 ha lúa và chìm ngập gần 7.400 ngôi nhà. Trước đây, công tác dự báo nghiệp vụ tại địa phương chủ yếu dựa vào các biểu đồ tương quan truyền thống với thời gian dự kiến ngắn và sai số còn lớn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thủy văn học tập trung xây dựng phương án dự báo lũ hiện đại bằng mô hình toán, nhằm kéo dài thời gian dự báo trước đỉnh lũ lên 12 đến 24 giờ và giảm thiểu sai số tính toán. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn lưu vực sông Hoàng Long với trọng tâm là các trạm thủy văn Bến Đế và Gián Khẩu, khai thác chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 20 năm giai đoạn 1997 - 2016. Kết quả nghiên cứu mang lại công cụ đắc lực hỗ trợ cơ quan phòng chống thiên tai, góp phần giảm thiểu trên 30% thiệt hại tài sản và đảm bảo an toàn tính mạng cho hơn 927.000 người dân trong vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng đồng bộ ba hệ thống lý thuyết cốt lõi trong thủy văn học và thủy lực hiện đại:

Thứ nhất là lý thuyết hình thành dòng chảy từ mưa qua mô hình thông số tập trung MIKE-NAM. Mô hình mô phỏng chu trình nước thông qua hệ thống các bể chứa tuyến tính xếp thẳng đứng, bao gồm: bể chứa mặt kiểm soát lượng trữ mặt đất với sức chứa tối đa Umax, bể chứa tầng rễ cây Lmax biểu thị độ ẩm đất, và hai tầng bể chứa nước ngầm. Các thông số vận hành then chốt gồm hệ số dòng chảy tràn CQOF, hệ số dòng chảy sát mặt CQIF và các hằng số thời gian tập trung dòng chảy bề mặt CK1, CK2 biến thiên trong khoảng 3 đến 48 giờ.

Thứ hai là lý thuyết thủy động lực học một chiều thông qua mô hình MIKE 11, giải hệ phương trình vi phân Saint-Venant gồm phương trình liên tục và phương trình động lượng. Hệ phương trình phản ánh chính xác quy luật biến thiên của lưu lượng và mực nước theo không gian, thời gian, đồng thời kiểm soát độ ổn định của lưới tính toán theo tiêu chuẩn Courant từ 10 đến 15.

Thứ ba là lý thuyết dự báo khí tượng bằng mô hình số trị toàn cầu (NWP - JMA), cung cấp trường mưa dự báo với thời gian dự kiến 84 giờ theo bước thời gian 3 giờ, đóng vai trò điều kiện biên đầu vào liên tục cho mô hình thủy văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn liên tục 20 năm (1997 - 2016) từ 5 trạm khí tượng (Ninh Bình, Nho Quan, Cúc Phương, Kim Bôi, Chi Nê) và 3 trạm thủy văn (Hưng Thi, Bến Đế, Gián Khẩu). Cỡ mẫu phục vụ mô phỏng chi tiết được trích xuất từ 5 trận lũ lớn điển hình thuộc các năm 2005, 2007, 2013, 2014 và trận lũ lịch sử tháng 10 năm 2017.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các sự kiện lũ sinh ra từ các hình thế thời tiết nguy hiểm đặc trưng như bão, áp thấp nhiệt đới và dải hội tụ nhiệt đới với lượng mưa 3 ngày lớn nhất dao động từ 218,9 mm đến 597,0 mm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình liên hợp MIKE-NAM và MIKE 11 là nhằm chia tách lưu vực thành các tiểu lưu vực bộ phận, giải quyết triệt để sự thiếu hụt chuỗi số liệu quan trắc lưu lượng tại các vùng khu giữa. Phương pháp này đảm bảo tính toán mô phỏng chính xác quá trình lan truyền sóng lũ dọc 63,2 km chiều dài sông từ Hưng Thi đến Gián Khẩu. Timeline nghiên cứu tập trung phân tích, hiệu chỉnh và kiểm định trong các tháng mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích thủy văn chỉ ra thời gian truyền lũ từ trạm thượng lưu Hưng Thi về trạm Bến Đế trong điều kiện bình thường là 24 giờ. Tuy nhiên, khi xuất hiện các trận lũ lớn có cường suất lũ lên đạt từ 14 đến 24 cm/giờ, thời gian truyền lũ bị rút ngắn xuống chỉ còn 12 đến 18 giờ.

Thứ hai, kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE-NAM tại trạm Hưng Thi đạt độ chính xác cao. Quá trình hiệu chỉnh bộ thông số cho các trận lũ năm 2005 và 2007 đạt chỉ số Nash-Sutcliffe trên 0,85 với sai số đỉnh lũ nhỏ hơn 10%. Trong giai đoạn kiểm định với các trận lũ năm 2013 và 2014, hệ số tương quan tiếp tục duy trì ở mức cao từ 0,82 đến 0,88.

Thứ ba, mô hình MIKE 11 tái hiện chân thực diễn biến mực nước tại Bến Đế với hệ số nhám Manning xác lập từ 0,025 đến 0,045. Sai số mực nước đỉnh tính toán so với thực đo trong các trận lũ kiểm nghiệm không vượt quá 15 cm, sai số tổng lượng dòng chảy duy trì dưới 8%.

Thứ tư, phương án tích hợp mưa dự báo số trị NWP hạn 84 giờ đã kéo dài thời gian dự kiến cảnh báo lũ tại trạm Bến Đế lên 24 giờ với mức đảm bảo đạt trên 80%, vượt trội hơn hẳn so với khoảng thời gian dự báo hạn chế từ 6 đến 12 giờ của các phương pháp cũ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản gây ra các đợt ngập lụt nghiêm trọng là do 80% tổng lượng dòng chảy năm tập trung dồn dập vào mùa lũ (tháng 6 đến tháng 10), trong đó riêng tháng 9 chiếm tới 34% tần suất xuất hiện đỉnh lũ cao nhất. Độ dốc lưu vực bình quân đạt 9,6‰ kết hợp cùng việc thảm phủ thực vật suy giảm khiến dòng chảy mặt tập trung nhanh chóng về vùng trũng Nho Quan và Gia Viễn.

Trong thảo luận kết quả, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ so sánh đường quá trình lưu lượng và mực nước thực đo với tính toán theo từng bước thời gian 1 giờ, kết hợp cùng bảng tổng hợp sai số đỉnh lũ tại các vị trí kiểm soát. So với các phương pháp hồi quy thống kê truyền thống trước năm 2014 thường có sai số đỉnh lũ từ 30 đến 50 cm trong các trận bão lớn, việc áp dụng mô hình động lực học kết hợp sản phẩm mưa JMA mang lại bước tiến vượt bậc. Kết quả này cung cấp luận cứ khoa học tin cậy để chính quyền chủ động quyết định thời điểm vận hành các công trình phân lũ như tràn Đức Long, tràn Gia Tường và cống Lạc Khoái, ngăn ngừa tình trạng xả lũ bị động gây thiệt hại cho vùng hạ du.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đạt được, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

Thứ nhất, tự động hóa quy trình công nghệ dự báo: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia cùng Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình cần tích hợp module giải mã tự động dữ liệu mưa số trị NWP-JMA vào phần mềm MIKE 11 trong vòng 12 tháng tới, nhằm nâng tỷ lệ bản tin dự báo đạt chất lượng tốt lên trên 85% và duy trì thời gian phát tin cảnh báo trước 24 giờ.

Thứ hai, hiện đại hóa mạng lưới trạm đo đạc chuyên dùng: Đầu tư lắp đặt bổ sung 3 đến 5 trạm đo mưa tự động tại các khu vực thượng lưu có lượng mưa năm trên 2.000 mm như Kim Bôi, Chi Nê, đồng thời tái lập trạm đo lưu lượng tự động tại Hưng Thi trong giai đoạn 2018 - 2020 do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ chủ trì.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình vận hành công trình phân lũ: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Ninh Bình cần ban hành quy chế vận hành liên hoàn các tràn Đức Long, Gia Tường và cống Lạc Khoái dựa trên ngưỡng dự báo mực nước tại Bến Đế vượt mức 4,0 m trước 12 đến 18 giờ, nhằm bảo vệ an toàn cho 12 xã trọng điểm.

Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dự báo: Tổ chức định kỳ hàng năm các khóa đào tạo chuyên sâu về hiệu chỉnh mô hình thủy văn MIKE-NAM và thủy lực MIKE 11 cho 100% dự báo viên tại địa phương, đảm bảo làm chủ công nghệ và ứng phó kịp thời trong các tình huống thiên tai khẩn cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Đội ngũ chuyên gia và dự báo viên khí tượng thủy văn: Cán bộ tại các Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc có thể ứng dụng trực tiếp quy trình công nghệ và bộ thông số mô hình để nâng cao chất lượng bản tin dự báo lũ nghiệp vụ hàng ngày.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước và phòng chống thiên tai: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và các huyện Nho Quan, Gia Viễn sử dụng thông tin mực nước dự báo trước 24 giờ để xây dựng phương án sơ tán dân cư, bố trí lực lượng cứu hộ và bảo vệ các trọng điểm đê điều xung yếu.

  3. Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi và hạ tầng giao thông: Các đơn vị tư vấn có thể khai thác thông số thủy lực, mực nước lũ thiết kế lịch sử 5,53 m và hệ số nhám lòng dẫn để tính toán khẩu độ thoát nước cầu cống, gia cố tuyến đê Tả - Hữu sông Hoàng Long dài hơn 60 km.

  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các cá nhân thuộc chuyên ngành Thủy văn học, Biến đổi khí hậu và Kỹ thuật tài nguyên nước sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo phương pháp luận về việc liên kết mô hình khí tượng số trị với mô hình thủy văn - thủy lực dòng chảy.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mô hình MIKE-NAM đóng vai trò gì trong phương án dự báo lũ sông Hoàng Long? Mô hình MIKE-NAM đóng vai trò mô phỏng quá trình chuyển đổi lượng mưa thành dòng chảy lũ trên các lưu vực bộ phận. Bằng cách tính toán cân bằng nước qua các tầng trữ ẩm và dòng chảy ngầm, mô hình cung cấp chuỗi lưu lượng biên đầu vào chính xác cho mô hình thủy lực MIKE 11. Chỉ số Nash đạt trên 0,85 tại trạm Hưng Thi chứng minh tính hiệu quả vượt trội của mô hình.

  2. Việc tích hợp dữ liệu mưa số trị NWP mang lại lợi ích gì cho công tác cảnh báo? Dữ liệu mưa số trị từ Cơ quan Khí tượng Nhật Bản cung cấp thông tin mưa dự báo trước đến 84 giờ với bước thời gian 3 giờ. Việc này giúp khắc phục độ trễ của mạng quan trắc mặt đất, kéo dài thời gian dự báo đỉnh lũ tại Bến Đế từ 6 giờ lên 24 giờ, tạo quỹ thời gian quý báu để chính quyền và người dân triển khai ứng phó.

  3. Điểm đặc thù địa hình nào khiến lưu vực sông Hoàng Long dễ xảy ra ngập lụt nghiêm trọng? Lưu vực có độ dốc bình quân 9,6‰ chuyển tiếp trực tiếp từ vùng núi cao trên 300 m xuống đồng bằng thấp từ 10 đến 12 m mà không có vùng trung lưu. Mạng sông dạng nan quạt khiến lũ từ các nhánh dồn về hạ du chỉ trong 12 đến 18 giờ, trong khi mực nước sông Đáy dâng cao làm chậm quá trình tiêu thoát.

  4. Phương án dự báo mới cải thiện độ chính xác như thế nào so với phương pháp truyền thống? Trước năm 2014, phương pháp tra biểu đồ tương quan truyền thống thường có sai số đỉnh lũ từ 30 đến 50 cm trong các trận bão lớn. Phương án liên hợp MIKE-NAM và MIKE 11 đã kiểm soát sai số mực nước đỉnh dưới 15 cm và sai số tổng lượng dưới 8%, nâng tỷ lệ dự báo đạt yêu cầu lên trên 80%.

  5. Cơ sở dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Toàn bộ chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 20 năm (1997 - 2016) và 5 trận lũ lớn đều do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia kiểm duyệt chặt chẽ. Hệ thống mặt cắt sông trên toàn tuyến 63,2 km được Liên đoàn Khảo sát Khí tượng Thủy văn đo đạc đồng bộ, đảm bảo tính pháp lý và độ chính xác kỹ thuật cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện đặc điểm khí tượng thủy văn lưu vực sông Hoàng Long diện tích 1.515 km2, làm rõ nguyên nhân gây ra các trận lũ lịch sử có mực nước vượt báo động ba tới 1,53 m.
  • Xây dựng thành công quy trình công nghệ dự báo lũ tích hợp giữa dữ liệu mưa số trị NWP-JMA, mô hình thủy văn MIKE-NAM và mô hình thủy lực MIKE 11.
  • Hiệu chỉnh và kiểm định thành công bộ thông số tối ưu qua 5 trận lũ lớn, kiểm soát sai số mực nước đỉnh dưới 15 cm và sai số tổng lượng dòng chảy dưới 8%.
  • Kéo dài thời gian dự kiến cảnh báo sớm đỉnh lũ tại trạm Bến Đế từ 6 giờ lên 24 giờ với mức đảm bảo đạt trên 80%, hỗ trợ đắc lực công tác vận hành hệ thống tràn phân lũ.
  • Đề xuất lộ trình hiện đại hóa mạng lưới đo mưa tự động và quy chế phối hợp vận hành công trình phòng chống thiên tai giai đoạn 2018 - 2025.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp một giải pháp công nghệ dự báo lũ đồng bộ, chính xác và có tính ứng dụng thực tiễn cao cho lưu vực sông Hoàng Long tỉnh Ninh Bình. Các cơ quan quản lý chuyên ngành, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương nên nhanh chóng tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng phương án dự báo này vào công tác tác nghiệp phòng chống lụt bão nhằm bảo vệ an toàn tính mạng nhân dân và phát triển kinh tế bền vững.