ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------- TẠ ĐỨC TÚ PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM THỜI TRUNG ĐẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------- TẠ ĐỨC TÚ PHONG TỤC VÀ TÍN NGƢỠNG VIỆT NAM QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM THỜI TRUNG ĐẠI Ngành: Văn hóa học Mã số: 9229040 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. NGUYỄN KIM CHÂU TS. NGUYỄN NGỌC QUẬN Ngƣời phản biện độc lập: PGS. PHAN THỊ HỒNG PGS.
NGUYỄN TUẤN CƢỜNG Ngƣời phản biện 1: TS. NGUYỄN VĂN HIỆU Ngƣời phản biện 2: PGS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP Ngƣời phản biện 3: TS. NGUYỄN THỊ NGUYỆT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, luận án Phong tục và tín ngưỡng Việt Nam qua tư liệu Hán Nôm thời trung đại là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lặp, sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận án Tạ Đức Tú MỤC LỤC DẪN NHẬP. Lý do chọn đề tài. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. Mục đích nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đối tƣợng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Đóng góp của luận án. Bố cục của luận án. PHONG TỤC, TÍN NGƢỠNG VÀ NGUỒN TƢ LIỆU HÁN NÔM NGHIÊN CỨU PHONG TỤC, TÍN NGƢỠNG. Khái niệm và nội dung của phong tục, tín ngƣỡng.
Khái niệm và nội dung của phong tục. Khái niệm phong tục. Nội dung phong tục. Khái niệm và nội dung của tín ngƣỡng.
Khái niệm tín ngƣỡng. Nội dung tín ngƣỡng. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu phong tục, tín ngƣỡng. Tổng quan nguồn tƣ liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngƣỡng.
Địa chí và phạm vi nguồn tƣ liệu nghiên cứu. Hƣơng ƣớc và phạm vi nguồn tƣ liệu nghiên cứu.52 Tiểu kết Chƣơng 1. NỘI DUNG PHONG TỤC QUA TƢ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƢƠNG ƢỚC HÁN NÔM. Phong tục lễ tết qua tƣ liệu địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm.
Phong tục lễ tết Nguyên đán qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Các tết khác trong năm qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Phong tục tết Nguyên đán và các tết khác qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm. Phong tục hôn nhân qua tƣ liệu địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm.
Khái quát về phong tục hôn nhân. Phong tục hôn nhân qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Phong tục hôn nhân qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm. Phong tục tang ma qua tƣ liệu địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm.
Khái quát về phong tục tang ma. Phong tục tang ma qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Phong tục tang ma qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm. Phong tục hƣơng ẩm qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm.
Khái quát về phong tục hƣơng ẩm. Nội dung phong tục hƣơng ẩm qua tƣ liệu hƣơng ƣớc. Khao vọng khoa bảng. Khao vọng hƣơng chức, quan viên.
Khao vọng hƣơng lão, nhập hƣơng.114 Tiểu kết Chƣơng 2. NỘI DUNG TÍN NGƢỠNG QUA TƢ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƢƠNG ƢỚC HÁN NÔM. Thờ cúng thần, Phật qua qua tƣ liệu địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm. Khái quát về việc thờ cúng thần, Phật trong văn hóa Việt Nam.
Thờ cúng thần, Phật qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Thờ cúng thần, Phật qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm. Thờ cúng tổ tiên qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Khái quát việc thờ cúng tổ tiên trong văn hóa Việt Nam.
Việc thờ cúng tổ tiên qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. Một số lễ cúng khác qua tƣ liệu địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm. Cúng giỗ Hậu thần. Cúng lễ cầu mƣa và cúng lễ Thƣờng tân.
Sự phong phú của tín ngƣỡng dân gian qua địa chí và hƣơng ƣớc Hán Nôm. Sự phong phú của tín ngƣỡng dân gian qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm. sƣ phong phú của tín ngƣỡng dân gian qua tƣ liệu hƣơng ƣớc Hán Nôm .153 Tiểu kết Chƣơng 3 .158 TÀI LIỆU THAM KHẢO .163 DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Các ngày vía Phật trong năm…………………………………….
Vị trí kỳ mục, hƣơng chức tham gia cúng đình …………………. Lễ tiết trong năm theo tín ngƣỡng Việt Nam đƣợc phản ánh qua tƣ liệu địa chí……………………………………………………………………….…165 DANH MỤC VIẾT TẮT ĐNNTC: Đại Nam nhất thống chí GĐTTC: Gia Định thành thông chí HN: Hà Nội QSQTN: Quốc sử quán triều Nguyễn TGLA: Tác giả luận án VNCHN: Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1 DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài Trong văn hóa, phong tục và tín ngƣỡng là một bộ phận quan trọng không tách rời nhau. Hai nội dung này thuộc nền tảng văn hóa tinh thần, là thực tiễn trong tổ chức đời sống của con ngƣời trƣớc môi trƣờng tự nhiên và xã hội.
Do vậy, từ trƣớc tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn về các khía cạnh của phong tục và tín ngƣỡng. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nƣớc về phong tục cũng nhƣ tín ngƣỡng chủ yếu là mô tả nhân loại học. Những công trình viết về văn hóa phong tục, tín ngƣỡng đã phản ánh cơ bản đời sống văn hóa tinh thần phong phú của ngƣời Việt. Qua những công trình ấy, chúng ta thấy đƣợc bức tranh đa diện của từng vùng quê, từng tập tục, nhƣ Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, Đất lề quê thói của Nhất Thanh hay Nếp cũ của Toan Ánh.
Những công trình nghiên cứu nhƣ trên đã giới thiệu văn hóa phong tục, tín ngƣỡng của ngƣời Việt (chủ thể) về sự khác biệt giữa các vùng văn hóa (không gian) và các thời kỳ văn hóa (thời gian). Đồng thời, các tác giả ấy đã nêu lên những nhận xét, đánh giá của mình đối với những phong tục, tín ngƣỡng ấy. Nhƣng việc đánh giá ấy mới chỉ theo hƣớng tiếp cận xƣa và nay. Các tác giả xem nếp xƣa đƣợc biểu hiện bởi việc con ngƣời còn giữ những nét truyền thống, đời sống tinh thần chủ yếu dựa vào phong tục, đồng thời thực hiện hành vi tín ngƣỡng phổ biến.
Và ngƣợc lại, các tác giả này xem biểu hiện của đời sống văn hóa tinh thần ngày nay1 thì những nét truyền thống kia không còn đƣợc thể hiện một cách trọn vẹn. Có nghĩa là con ngƣời Việt Nam càng ở giai đoạn hiện đại hơn thì nhạt hơn về phong tục, tín ngƣỡng. Cách tiếp cận nhƣ vậy có hoàn toàn chính xác trong một cộng đồng ngƣời có đời sống tinh thần phong phú và đời sống tâm lý giàu bản sắc nhƣ ngƣời Việt chúng ta? 1 Tại thời điểm soạn sách. 2 Vấn đề chúng tôi quan tâm ở chỗ cái xƣa ấy là những cái xƣa nào, không gian nào, thời gian nào; cơ chế vận hành hay duy trì cái xƣa ấy là gì? Những cái xƣa ấy đến lúc nào thì bị vỡ cấu trúc, buộc phải thay đổi; nguyên nhân và quá trình thay đổi ấy diễn ra nhƣ thế nào? Qua quá trình khảo cứu tƣ liệu Hán Nôm Việt Nam, dƣới sự chấp bút của các nhà Nho phần đông theo đƣờng khoa bảng, các tác phẩm của họ mang đậm dấu ấn của cuộc sống đƣơng thời.
Chúng tôi thấy rằng, tuy ở các lĩnh vực khác nhau nhƣng ngƣời viết đều chú trọng phản ánh thực tiễn xã hội. Kể cả những tác phẩm chí quái, truyền kỳ… thì bối cảnh, chi tiết của nó cũng là xuất phát từ một thực tiễn nào đó. Đặc biệt, các mảng đề tài về địa lý và lịch sử thì yếu tố thực tiễn xã hội và đời sống con ngƣời không thể không đƣợc nói tới. Khi chúng tôi chú ý đến mảng phong tục, tín ngƣỡng đƣợc ghi chép, phản ánh nhƣ thế nào trong tƣ liệu Hán Nôm thì phát hiện hầu hết các nhà biên soạn sách Hán Nôm đều có sự quan tâm đến phong tục cũng nhƣ tín ngƣỡng.
Trong sách Hán Nôm, chúng ta cần phân biệt biên soạn với sáng tác. Biên soạn sách bao giờ cũng gắn với những mục tiêu và phƣơng pháp cụ thể, kết quả của nó sẽ là một thành quả khoa học về một lĩnh vực khoa học hoặc thực tiễn nào đó. Trong khi sáng tác là thiên hƣớng cá nhân, sáng tác của các tác giả Hán Nôm ở thời trung đại chủ yếu là thi ca, từ phú. Kết nối với tƣ liệu viết về phong tục, tín ngƣỡng hiện nay đƣợc viết bằng chữ Quốc ngữ, chúng tôi thấy rằng chƣa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về giá trị văn hóa của phong tục và tín ngƣỡng đƣợc phản ánh qua tƣ liệu Hán Nôm.
Trong khi thực tế mảng tƣ liệu Hán Nôm hiện tồn phản ánh rất phong phú và “thâm nhập” mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời Việt trong khoảng mƣời thế kỉ sử dụng chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó, những giá trị về văn học, lịch sử, văn hóa, xã hội là đặc biệt phong phú. Sự phong phú của phong tục, tín ngƣỡng mà tƣ liệu Hán Nôm phản ánh bắt nguồn từ quan điểm tiếp cận của 3 ngƣời xƣa. Do mỗi vùng miền có không gian địa lý, có lịch sử và lối sinh hoạt khác nhau khiến cho đời sống tinh thần và vật chất của họ cũng khác hẳn.
Các phản ánh phong tục, tín ngƣỡng trong tƣ liệu Hán Nôm bao giờ cũng cụ thể, cả về không gian lẫn thời gian. Nhiều tác giả còn chú trọng về tổng kết, so sánh giữa vùng này với vùng khác2. Những biên chép nhƣ thế, trong cùng đề tài về phong tục và tín ngƣỡng lại rất ít xuất hiện ở các tác giả hiện đại. Tuy nhiên, do mục đích biên soạn và quan niệm sáng tác của thời trung đại mà các tác giả Hán Nôm Việt Nam rất ít có sự kết nối, kế thừa nhau trong phản ánh.
Việc này một phần do trong tổ chức đời sống cộng đồng, ngƣời Việt quan niệm Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ3. Mặt khác, quan trọng hơn, chính là do điều kiện về lƣu hành sách vở và mục đích biên soạn của từng tác giả hoặc tập thể tác giả khác nhau. Chính mục đích biên soạn đã dẫn tới việc phản ánh và đánh giá về phong tục, tín ngƣỡng trong tác phẩm của họ khác đi, mặc dù cũng là nói đến những con ngƣời đó, xã hội đó. Đây là một hạn chế mà chúng tôi muốn khai thác, kết nối lại, làm rõ thêm để có những đánh giá khách quan trong luận án này.