mở đầu chương ba là phần trình bày về cuộc khảo sát đã được thực hiện trong phạm vi khoảng 100 sinh viên, phản hồi ý kiến về chính sách hỗ trợ tín dụng cho sinh viên hiện nay. Qua đó, những điểm hài lòng hay cả những ưu tư, phiền muộn… cũng sẽ được tìm hiểu. Từ đây, làm cơ sở nền tảng cho việc phát triển sản phẩm tín dụng cho sinh viên với những đặc tính chi tiết được trình bày ở phần tiếp theo của chương ba. Kết thúc chương ba, sẽ là lúc cho ra đời mô hình sản phẩm tín dụng sinh viên thực tế nhằm đáp ứng các nhu cầu đã phân tích.
Việc nghiên cứu đề xuất sản phẩm sẽ được diễn ra theo đúng quy trình nghiên cứu phát triển sản phẩm của Sacombank, với một số bước sẽ được đơn giản hóa do một vài hạn chế về khả năng triển khai. Thông qua chương 5 này, hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy được một mô hình sản phẩm tín dụng phù hợp hơn với bối cảnh và thõa mãn phần nào nhu cầu sinh viên hiện nay. Qua đó, làm cơ sở cho các mô hình ứng dụng hoàn thiện hơn về sau. Ở chương 4 của đề tài, phần kết luận sẽ được trình bày với các kiến nghị đề xuất đối với sản phẩm tín dụng.
Phần này sẽ là lúc phân tích, diễn giải sâu hơn về các đặc tính sản phẩm đã nêu ở phần trước. Xuyên suốt chương 4 sẽ là các đề xuất, kiến nghị và cơ sở lập luận cho các đề xuất, kiến nghị ấy. Thông qua chương 4, bạn đọc sẽ được tiếp cận với những quan điểm mới mẻ hơn về chính sách tín dụng cho sinh viên hiện nay và sản phẩm tín dụng cho sinh viên mà ngân hàng Sacombank trực tiếp cung cấp. Sau cùng sẽ là phần kết luận chung về khóa luận tốt nghiệp, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục đính kèm có liên quan.
Nổi bật ở phần này sẽ là các hạn chế của đề tài. Cán hạn chế của đề tài sẽ được nêu một cách cụ thể. Mục tiêu chính của việc này là nhằm tạo nên một cái nhìn khách quan hơn về phía đề tài. Hơn nữa, chính những hạn chế ấy, lại chính là những gợi mở đến những hướng nghiên cứu về sau, sao cho tòan diện và hiệu quả hơn.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 2.1 Lý thuyết về tín dụng Nói về lý thuyết tín dụng, theo Nguyễn Minh Kiều (2011), tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.1 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Thời hạn cho vay linh hoạt - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng. Khối lượng tín dụng cho vay lớn. Phạm vi cho vay được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Tuy nhiên tín dụng ngân hàng có độ rủi ro cao do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng (Tô Kim Ngọc, năm 2004, tr.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - bởi chúng không đủ điều kiện để tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp. Hơn thế, khả năng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng cón góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng còn được sử dụng như công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ, tăng cường tính linh hoạt của nền kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông và tăng tốc độ chu chuyển vốn (Tô Kim Ngọc, 2004, tr.3 Phân loại tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2011), tín dụng ngân hàng có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau: Dựa vào mục đích của tín dụng thì tín dụng ngân hàng có thể chia thành 5 loại chính. Bao gồm: o Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; o Cho vay tiêu dùng cá nhân; o Cho vay mua bán bất động sản; o Cho vay sản xuất nông nghiệp; o Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… Dựa vào thời hạn tín dụng, tín dụng ngân hàng được chia làm ba loại chính: o Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. o Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. o Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án đầu tư. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại chính: o Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. o Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay, gồm có các loại sau: o Cho vay theo món vay o Cho vay theo hạn mức tín dụng o Cho vay theo hạn mức thấu chi 8 Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay, tín dụng được chia làm ba dạng chính: o Cho vay chỉ có một kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn o Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp o Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.2 Lý thuyết về tín dụng sinh viên Tín dụng sinh viên cũng chính là một hình thức cho vay khách hàng cá nhân.
Điểm khác biệt cơ bản giữa tín dụng sinh viên và các hình thức tín dụng thông thường khác là lãi suất được áp dụng ở mức thấp hơn và việc hoàn trả nợ vay có thể được hoãn lại trong thời gian sinh viên còn theo học ở trường. Ngoài ra, về cơ bản tín dụng sinh viên vẫn mang bản chất là tín dụng cá nhân. Do đó, ngoài những đặc điểm riêng đã nêu tín dụng sinh viên vẫn thể hiện những đặc điểm cơ bản của tín dụng cá nhân. Cụ thể như sau: 2.1 Khái niệm Như đã biết, cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM.
Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng vay vốn của NHTM bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân và hộ gia đình là bộ phận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động cho vay của NHTM. Các cá nhân và hộ gia đình vay tiền từ NHTM để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và phục vụ cho các mục đích riêng của mình.
Trong đó vay tiêu dùng và học tập của đối tượng sinh viên ngày càng có nhu cầu càng cao. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM bao gồm các hình thức cho vay mà ngân hàng cung cấp cho các cá nhân hay hộ gia đình phục vụ cho mục đích tiêu dùng và học tập của cá nhân là sinh viên có thể gọi là hình thức “Tín Dụng Sinh Viên” 9 2.2 Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM phục vụ cho nhu cầu học tập và tiêu dùng của sinh viên. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại được thể hiện rõ nét trên những khía cạn sau: Về đối tượng, đối tượng cho vay của tín dụng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ học hành của cá nhân là sinh viên Về thời hạn vay vốn, tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và hình thức cho vay mà các khoản vay của khách hàng cá nhân có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn đến dài hạn. Xét về quy mô và số lượng các khoản vay, thông thường quy mô của mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp.
Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay KHCN thường lớn. Ở các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ, số lượng các khoản vay KHCN là rất lớn và do đó tổng quy mô các khoản vay khách hàng cá nhân thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng. Về chi phí cho vay, do các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ, số lượng các khoản vay này thường rất lớn nên các ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhân lực và công cụ) trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay. Do đó, chi phí tính trên mỗi đồng cho vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay Doanh nghiệp.
Xét về lãi suất cho vay, lãi suất của các khoản vay KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay KHCN, các khoản vay KHCN có mức độ rủi ro cao. Ở Việt nam lãi suất cho vay KHCN thông thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp từ 1, 2-1,5 lần. Sau cùng là về mức độ rủi ro tín dụng, các khoản vay cho KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng.
Sở dĩ như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ.