CHƯƠNG 1.1 Tổng quan về bệnh viêm màng não mô cầu Bệnh viêm màng não mô cầu (NMC) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch được lây truyền qua đường hô hấp do nhiễm loại song cầu Neisseria meningitidis. Vi khuẩn cư trú tại vùng hầu họng của người và lây theo các giọt nước nhỏ bài tiết qua đường hô hấp. Bệnh nhiễm NMC có các thể lâm sàng: viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, viêm khớp, viêm màng ngoài tim. trong đó viêm màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết là thường gặp hơn.
Người sống trong điều kiện đông đúc, chật hẹp như nhà trẻ, trường học, khu tập thể, doanh trại quân đội thường có nguy cơ gây lây nhiễm cao. Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể người qua đường mũi họng, từ đó lan tỏa vào máu gây nhiễm trùng máu hoặc qua đường máu đến màng não gây viêm màng não mủ hoặc gây viêm màng não mủ kèm theo nhiễm trùng huyết. Bệnh thường để lại di chứng nặng nề như chậm phát triển tinh thần, điếc, liệt với tỷ lệ từ 10- 20%, tỷ lệ tử vong từ 8 đến 15%. Bệnh tiến triển nhanh và có thể tử vong trong vòng 24 giờ sau khi phát bệnh.
Bệnh rất khó phát hiện trong giai đoạn sớm vì triệu chứng giống với các bệnh viêm màng não do nhiễm siêu vi thông thường. 1: Em bé sống sót sau khi mắc bệnh viêm màng não mô cầu[1]. Dựa vào kháng nguyên polysaccharide N. meningitidis được chia thành 13 nhóm huyết thanh (A, B, C, D, 29-E, H, I, K, L, W-135, X, Y và Z), trong đó 9 nhóm thường gặp (A, B, C, D, X, Y, Z, W-135 và 29-E) và 4 nhóm ít gặp (H, I, K, L); 5 nhóm chủ yếu gây viêm màng não và nhiễm trùng huyết, chiếm 95% (A, B, C, Y và W-135).
Dịch NMC ở các khu vực trên thế giới do các nhóm huyết thanh khác nhau gây nên [2] (Hình 1.2: Sự lưu hành các nhóm huyết thanh gây bệnh trên thế giới [2].2 Dịch tễ học của bệnh viêm màng não mô cầu ngoài và trong nước 1.1 Ngoài nước Theo ước tính trên toàn thế giới có khoảng 1,2 triệu ca nhiễm NMC xảy ra mỗi năm, hơn 100.000 trường hợp tử vong. Vùng địa lý bao gồm các nước cận Sahara - Châu Phi được xem là vành đai viêm màng não do NMC, thường xuyên bị ảnh hưởng theo chu kỳ với tỷ lệ mắc bệnh lên tới 1000 ca bệnh/ 100.000 dân trong các vụ dịch và 10 - 25 ca bệnh/ 100.000 trong thời gian giữa các vụ dịch. Từ năm 2010, khu vực này đã sử dụng vắc xin cộng hợp MenAfriVac dự phòng NMC nhóm nên A tỷ lệ mắc bệnh tại khu vực này đã giảm đáng kể. Tại Burkina Faso, tỷ lệ mắc bệnh giảm xuống 5 trường hợp/100.
Chương trình tiêm phòng vắc xin đang được mở rộng ở khu vực này, một số quốc gia tỷ lệ mắc bệnh giảm xuống 2-3 ca bệnh/ 100. Gần đây, có sự thay đổi về cơ cấu nhóm huyết thanh gây bệnh ở các nước trong khu vực. Tỷ lệ nhiễm NMC nhóm huyết thanh W, X và Y có xu hướng gia tăng [3, 4]. Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm NMC khu vực châu Mỹ Latin trong 5 năm gần đây khoảng 0,1-1,8 trường hợp/ 100.
Nhóm huyết thanh gây bệnh chủ yếu là B, C, nhóm W mới nổi với độc lực cao lưu hành ở Argentina, Brazil và Chi Lê, nhóm huyết thanh A không thấy xuất hiện trong nhiều năm nay. Ở khu vực Bắc Mỹ, bệnh xảy ra rải rác hoặc thành dịch, tỷ lệ mắc bệnh 0,12 - 0,22 trường hợp/ 100. Trong thời gian 10 năm (1997-2007), tỷ lệ mắc bệnh giảm 64,1% từ 0,92 trường hợp xuống 0,33 trường hợp/ 100.000 dân, tỷ lệ này giảm xuống 0,12/100.000 năm 2015, tỷ lệ tử vong 16,2%. Nhóm huyết thanh gây bệnh chủ yếu là B, C, W và Y.
Tại Châu Âu, nhóm huyết thanh A gây bệnh ở nhiều nước trong suốt hai cuộc chiến tranh thế giới. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, có sự chuyển đổi sang nhóm huyết thanh B và C. Sau khi vắc xin phòng NMC nhóm C được sử dụng ở châu Âu vào những năm 90, số trường hợp nhiễm NMC do nhóm C đã giảm đáng kể. Đến năm 2011, nhóm huyết thanh B gây ra 73,6% trường hợp nhiễm NMC, nhóm C chiếm 14,4%.
Gần đây, tỷ lệ nhiễm NMC nhóm Y và W có xu hướng gia tăng ở một số nước. Năm 2013, ở Thụy Điển nhóm Y chiếm gần 50%, tỷ lệ mắc mới tăng từ 0,66 lên 0,95 trường hợp/ 100.000 dân trong thời gian 2010 - 2012. Tỷ lệ nhiễm NMC nhóm W có xu hướng gia tăng ở Anh từ năm 2009, đến năm 2014 nhóm W chiếm 15% trường hợp nhiễm NMC, tỷ lệ tử vong nhiễm MNC ở châu Âu khoảng 8,7% [5]. Tại châu Á, dữ liệu dịch tễ học nhiễm NMC ở khu vực ít được công bố do hệ thống giám sát còn hạn chế, chưa được quan tâm đầy đủ.
Tỷ lệ nhiễm NMC < 0,52 trường hợp/ 100.000 dân ở Trung Quốc. Trước năm 2000 nhóm huyết thanh A gây bệnh chủ yếu, sau khi vắc xin polysarcharide phòng NMC nhóm A được đưa vào sử dụng năm 1982 và vắc xin A+C đưa vào sử dụng năm 2004 thì cơ cấu nhóm huyết thanh gây bệnh có sự thay đổi. Nhóm C giảm từ 83% (2005) xuống còn 40% (2010), nhóm B có xu hướng gia tăng. Trước năm 2006 chỉ có nhóm A, B, C nhưng hiện nay xuất hiện thêm nhóm W.
Tại Đài Loan, tỷ lệ mắc mới 2 khoảng 0,013 - 0,034 trường hợp/ 100.000 dân, với 3 nhóm huyết thanh chủ yếu là B (67%), C (11%) và Y (3%). Tỷ lệ viêm màng não do NMC ở Nhật Bản rất thấp, khoảng 7-21 trường hợp được thông báo hằng năm giai đoạn 1999 - 2012. Nhóm huyết thanh gây bệnh là Y, C và B. Khu vực Tây Thái Bình Dương, New Zealand, Mông Cổ được xem là khu vực dịch lưu hành cao.
Nhóm huyết thanh gây bệnh chủ yếu là nhóm B, A và C, gần đây nhóm Y, W xuất hiện tại Nhật Bản, Đài Loan và Singapore [2].3: Tỷ lệ nhiễm NMC các khu vực khác nhau trên thế giới [2]. Sự lưu hành của bệnh nhiễm NMC có sự khác nhau trên toàn cầu: theo mùa khí hậu, tuổi mắc bệnh. Ở Châu Phi dịch bùng phát vào mùa khô, thời gian này khí hậu biểu hiện đặc trưng: độ ẩm, bụi, mưa rào và gió thay đổi, dẫn đến thay đổi về hành vi hoạt động của con người, sau các đợt gió khô, bụi ở vùng cận Saharan là đến mùa mưa. Đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và xâm nhập vào cơ thể.
Ở Châu Âu và Bắc Mỹ tỷ lệ mắc bệnh cao trong các tháng mùa đông và thấp ở các tháng mùa thu. Bệnh viêm màng não tác động chủ yếu đến trẻ dưới 5 tuổi: đỉnh cao ở trẻ 6 tháng tuổi và suy giảm ở nhóm lứa tuổi cao hơn [5]. Người mang mầm bệnh không triệu chứng cao hơn tỷ lệ mắc bệnh. Tỷ lệ người mang mầm bệnh ở Mỹ và Châu Âu khoảng 10%.
Tuy nhiên nếu sống trong nhà khép kín hoặc một cộng đồng sinh hoạt khép kín thì tỷ lệ mang mầm bệnh còn cao hơn: các đơn vị quân đội, trường học, nhà tù thì tỷ lệ người mang mầm bệnh có thể đến 50%. Mô hình người mang mầm bệnh liên quan tới cường độ bệnh, phân vùng địa lý, ảnh hưởng của khí hậu và lứa tuổi cảm nhiễm. Mùa viêm màng não ở Châu Á và Châu Phi thường xuất hiện liên quan tới sự thay đổi mùa khí hậu. Tỷ lệ người mang mầm bệnh cao phản ánh nguy cơ dịch lớn, có thể lên tới 70% trong một số bệnh gây dịch.
Theo thống kê ở Anh có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi mang mầm bệnh không triệu chứng: thấp ở lứa tuổi nhỏ, cao đến 25% ở độ tuổi từ 13 - 19 tuổi nhưng tỷ lệ tử vong quan sát thấy cao ở trẻ dưới 5 tuổi và thấp hơn ở tuổi trưởng thành [6] .2 Trong nước Tại miền Bắc, năm 1939 - 1940 có một vụ dịch lớn nhiễm trùng huyết và viêm màng não do NMC lan từ Trung Quốc sang. Sau năm 1941, miền Bắc vẫn còn thấy một số vụ dịch nhỏ. Ở miền Nam dịch xảy ra năm 1973 tại một trại tân binh. Năm 1977 – 1978, một trận dịch lớn đã xảy ra trên nhiều tỉnh ở phía Nam do NMC nhóm C gây nên.
Não mô cầu có khả năng gây các vụ dịch nhỏ và ca bệnh rãi rác khắp tỉnh trên cả nước, nguy cơ dịch lây lan trong cộng đồng là rất lớn. Theo số liệu thống kê tính từ năm 2011 tới nay, cả nước có 610 ca nhiễm bệnh và năm 2011 có số người mắc bệnh cao nhất (272 ca)[7]. Nhóm A thường gây bệnh dịch lớn xảy ra theo chu kỳ 20 - 30 năm hoặc dịch nhỏ có chu kỳ 8 - 12 năm. Nhóm B và C thường gây các trường hợp riêng lẽ giữa thời gian có dịch lớn, tuy nhiên vẫn có khả năng gây thành dịch lớn.
Kết quả điều tra 45 ca bệnh được chẩn đoán lâm sàng là nhiễm NMC tại các Bệnh viện Quân y từ năm 2008 - 2014 cho thấy có 29 ca nhiễm khuẩn NMC. Nhóm huyết thanh gây bệnh trên bệnh nhân chủ yếu là B (25/29 ca), ngoài ra còn có nhóm C (01 ca), nhóm W-135 (02 ca đồng nhiễm với nhóm B) và 01 nhóm không xác định. Tỷ lệ tử vong là 17% (5/ 29 ca), chủ yếu do nhóm huyết thanh B (04 ca) và 01 ca không xác định[7]. Kết quả điều tra 946 quân nhân ở một số đơn vị quân đội khu vực miền Bắc từ 2008-2014 cho thấy tỷ lệ người lành mang vi khuẩn là 29%.
Trong đó, ở trong vụ dịch là 33%, ngoài vụ dịch là 26%. Tỷ lệ người lành mang vi khuẩn thuộc nhóm huyết thanh gây bệnh chiếm 92%. Cơ cấu nhóm huyết thanh trên người mang mầm bệnh gồm: nhóm B (83%), nhóm C (10%), nhóm W-135 (1%) và 6% không xác định. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ xảy ra dịch ở một số đơn vị là rất cao.
Trong số 184 chủng N. meningitidis phân lập được từ những tân binh khỏe mạnh tại khu vực phía Nam (giai đoạn 2012-2014) cho thấy N. meningitidis thuộc nhóm huyết thanh B, C chiếm tỷ lệ lần lượt 35,87% và 9,24%, còn lại 54,89% các chủng không thuộc 6 nhóm gây bệnh phổ biến A, B, C, X, Y và W-135. Não mô cầu nhóm B đang là nhóm huyết thanh lưu hành phổ biến hơn tại một số tỉnh thành khu vực phía Nam trong các địa điểm khảo sát[7].
Trong quân đội, NMC là tác nhân phổ biến gây dịch tại những đơn vị huấn luyện tân binh.