Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về cây mây nếp 1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đã được FAO quan tâm thống kê cũng như đầu tư phát triển ở một số các quốc gia. FAO cũng là cơ quan đầu tiên đưa ra khái niệm và phân loại LSNG trên phạm vi toàn cầu: “LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng” (FAO, 1995) [1].
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải là gỗ, được thu hoạch từ rừng, đất rừng và các cây đơn lẻ ngoài rừng (FAO, 1999) [1]. "Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng. Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa thông, quả hồi, vỏ quế hoặc sợi song mây là thực vật đặc sản rừng". Ở Việt Nam, LSNG được hiểu “bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng” [2].
Theo Phạm Văn Điển (2009) [8], LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự rừng, loại trừ gỗ ở tất cả các hình thái của nó. Với cách hiểu như vậy, có thể đưa ra một thuật ngữ khác: thực vật cho LSNG (vegetation producing non-wood forest products). Theo nghĩa hẹp, những thực vật (của rừng hoặc của hệ thống sử dụng đất tương tự rừng) cho sản phẩm không phải gỗ, hoặc ngoài việc cung cấp gỗ chúng còn cho các sản phẩm khác gỗ từ thực vật, như: quả, hạt, vỏ, nhựa, tinh dầu, tanin, thuốc nhuộm, thuốc chữa bệnh, v. được gọi chung là thực vật cho LSNG.
Theo nghĩa rộng, thực vật cho LSNG bao gồm mọi thực vật của hệ sinh thái rừng hoặc của hệ thống sử dụng đất tương tự rừng, có khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ (có nguồn gốc thực vật), loại trừ gỗ ở tất cả các dạng. Việc phát triển LSNG về thực chất nhằm làm tăng giá trị kinh tế của rừng, cũng như để kinh doanh tổng hợp tài nguyên rừng. Tuy nhiên, để tăng giá trị kinh tế của rừng có thể còn có nhiều con đường khác nhau như thực hiện nông lâm kết hợp 5 hay thâm canh rừng. Nhưng sử dụng con đường nào thì sự chọn lựa của người dân vẫn là quan trọng nhất.
Đã đến lúc chúng ta phải thực hiện nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái bền vững, và canh tác theo kiểu gần với tự nhiên là một cách làm có triển vọng. Phát triển LSNG để tận dụng ưu thế đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng, và sự đa dạng sản phẩm lại tạo ra sự cân bằng trên cơ sở bảo tồn có khai thác. Sức mạnh kinh tế và lợi thế sinh thái tiềm tàng của LSNG nếu được giải phóng sẽ thu hút người dân tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển LSNG vì cuộc sống của mình và cộng đồng. Nó là một phần hiệu quả của chiến lược phát triển toàn vẹn tài nguyên rừng, tham gia vào việc cải thiện kinh tế địa phương, khích lệ quản lý tài nguyên dài hạn và bền vững [6].
Trong phạm vi báo cáo, Đề tài chỉ nghiên cứu sự phát triển loài Mây nếp ở xã Lâm Thượng và xã Tô Mậu, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Qua đó, đưa ra một số thông tin phản ánh vị trí, vai trò của cây Mây nếp đối với bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng, đất rừng vùng nghiên cứu; làm cơ sở cho việc nâng cao nhận thức và thay đổi quan niệm về cây Mây nếp, nhằm thúc đẩy các giải pháp phát triển bền vững loài cây Mây nếp; góp phần xóa đói giảm nghèo cho hộ nông dân và bảo vệ môi trường sinh thái ở khu vực. Trên thế giới 1. Những nghiên cứu về tính đa dạng và phân bố cây mây nếp Trong những năm qua ngành công nghiệp đồ gia dụng từ song mây phát triển thì tài nguyên này trong tự nhiên bị khai thác ngày càng kạn kiệt, nhiều giống có nguy cơ tuyệt chủng, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành kinh tế song mây trên thế giới.
Tổ chức tre mây trên thế giới (INBAR) đã được thành lập nhằm hỗ trợ nghiên cứu về song mây quốc tế. Các nước Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Ấn Độ, v.v… Đã điều tra hiện trạng tài nguyên, xây dựng được vườn sưu tập gen, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và thâm canh, thúc đẩy ngành song mây phát triển. Các chi song mây là quần thể loài thực vật ở vùng nhịêt đới, phân bố thiên nhiên ở Đông bán cầu và các vùng phụ cận. Toàn thế giới có 13 chi, 600 loài, trong đó ở Châu Á có 10 chi khoảng 300 – 400 loài, miền Bắc Châu Đại Dương có 1 chi, 8 loài, vùng nhiệt đới Châu Phi có 4 chi, trong đó có 3 chi đặc hữu, 24 loài.
Ước đoán, trên toàn cầu có 6 khoảng trên 3,5 triệu ha rừng tự nhiên có phân bố song mây, trong đó vùng Đông Nam Á có 2,9 triệu ha. Có tới 20 – 30 giống mây thương phẩm nổi tiếng tập trung chủ yếu ở các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, v. Những năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học về song mây đã có nhiều tiến triển, nhất là nghiên cứu về nhân giống và công nghệ thâm canh. Từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở lại đây, các nước đều áp dụng thành thạo phương pháp sinh sản hữu tính nâng cao tỉ lệ hạt nảy mầm đạt trên 75%, tỷ lệ cây con xuất vườn đạt trên 80%.
Do các giống tốt rất hiếm, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu phương pháp sinh sản vô tính như giâm cành, tách rễ, v.v… nhưng đều không thành công. Theo Ucali – Garcia đã thông báo kết quả sơ bộ về nuôi cấy mô 13 giống mây, mở ra triển vọng nhân giống bằng nuôi cấy mô. Vào năm 90 của thế kỷ XX, kết quả nghiên cứu của Trung Quốc, Malaysia đã có bước đột phá lớn về công nghệ nuôi cấy mô song mây. Malaysia đã nhân thành công các giống Calamus caesuis, Calamus manan bằng công nghệ nuôi cấy mô.
Theo Manokaran (1985) [26], 100 năm trước đây ở Sumatra của Indonesia, đã bắt đầu trồng Calamus caesuis. Từ những năm 70 – 80 của thập kỷ XX, Trung Quốc, Malaysia đã bắt đầu thử nghiệm tạo rừng mây. Ở Malaysia, vùng rừng vừa khai thác đã kiến tạo 4.000ha rừng mây Calamus caesuis và Calamus trachycoleus. Năm 1993 INBAR đã mở hội nghị chuyên đề xác định được 10 giống mây tốt như Calamus manan, Calamus caesuis, Calamus tetradatylus (mây nếp, mây trắng, mây mật), v.v… Các nước Đông Nam Á đã trồng hàng vạn ha, trong đó Indonesia trồng được 40.000ha, Malaysia trồng được 3.
Diện tích trồng đã sớm cho thu hoạch. Trong điều kiện lập địa và quản lý tốt, giống Calamus caesuis cho năng suất 7,5 tấn/ha. Trung Quốc đã tổng kết được hệ thống công nghệ hoàn chỉnh về trồng mây, gây trồng được 1.200ha rừng mây. Trải qua 25 năm thử nghiệm, lợi nhuận thu được của mây với mức thấp nhất gần 7 triệu VND/ha, mức cao nhất là 33,6 triệu VND/ha, thời gian thu hồi vốn nhanh nhất là 1,71năm, dài nhất là 10,3 năm.
Mây phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á, ngoài ra còn một số ít loài mây ở phía Bắc châu Đại Dương và châu Phi nhiệt đới. Toàn thế giới có 14 chi và gần 600 loài song mây. Riêng Đông Nam Á có 9 chi, 316 loài; Chi mây nếp (Calamus) lớn nhất 7 với 133 loài. Vùng tập trung là: Indonêsia, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đông Bắc Ấn Độ, Đông Dương và New Guinea; nước sản xuất nhiều mây nhất là Indonesia chiếm 80% tổng sản lượng song mây trên thế giới, tiếp sau là Malaixia chiếm 10%, 10% còn lại thuộc các nước Philippine, Thái Lan, ba nước Đông Dương.
Giá trị hàng mây xuất khẩu của Indonesia đạt tới 83 triệu USD mỗi năm, Philippine 30 triệu USD, Thái Lan 7 triệu USD. Trước đây nhiều nước Đông Nam Á xuất khẩu hàng song mây qua chế biến và cả dạng thô chưa qua chế biến, nhưng từ thập kỷ 70 trở lại đây việc xuất khẩu mây thô đã bị đình chỉ ở hầu hết các nước. Đến nay nguồn song mây vẫn khai thác chủ yếu trong rừng tự nhiên; khoảng 50 loài mây có giá trị kinh tế và được sử dụng nhiều ở các nước. Nghề trồng mây ở Đông Nam Á mới bắt đầu khoảng 100 năm về trước ở Indonesia và Malaixia, số lượng mây trồng còn quá ít.
Ở Indonesia trồng 3 loài mây: Calamus caesius, C. Malaixia trồng 2 loài: C. Philippin trồng 1 loài: C. Trung Quốc đang trồng thử loài C.
tetradactylus ở đảo Hải Nam và Quảng Đông; Các loài trên hầu hết có đường kính thân nhỏ trên dưới 1cm, chỉ có 2 loài C. merrillii có đường kính thân trên 3cm. Mây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, là nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước nhiệt đới. Đã từ lâu, ở các nước có Mây, người dân đã biết sử dụng loài cây này để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày và cho xuất khẩu.
Như vậy có thể thấy mây phân bố rộng khắp trên thế giới, mang lại lợi ích cho nhiều nước kinh doanh và sử dụng chúng. Từ những nguồn lợi to lớn mà nguồn tài nguyên này mang lại thì rất cần có thêm những nghiên cứu ứng dụng hơn nữa về gây trồng và sử dụng loài lâm sản ngoại gỗ này. Những nghiên cứu về kỹ thuật gieo ươm, nhân giống song mây Phương pháp ngâm hạt trong nước ấm hay dung dịch hóa chất được sử dụng trong xử lý nảy mầm hạt giống nhiều loài song mây cho tỷ lệ nảy mầm cao như với loài C. latifolius được xử lý ở 400C trong 48 giờ đạt tỷ lệ nảy mầm 89% (Mohd và 8 cs, 1994).
Phương pháp xử lý tách vỏ quả với loài C. pergrinus cho tỷ lệ nảy mầm sau 12 – 35 ngày đạt 91%. Phương pháp cạy nắp rốn hạt rút ngắn thời gian nảy mầm đang được xem xét (Lapis A. Ở Lào, quả được ngâm trong nước lạnh từ 7 – 10 ngày, thay nước hàng ngày để tránh tình trạng nấm mốc phát triển.
Vỏ và cùi quả cũng sẽ được cắt bỏ trước hoặc sau khi ngâm nước (Southone K.