ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, việc sử dụng thuốc từ dược liệu có xu hướng gia tăng trên phạm vi toàn cầu, không chỉ đối với phần đông dân số ở các nước đang phát triển mà còn cả ở những nước phát triển. Ở Mỹ, số đơn thuốc có sử dụng hoạt chất từ dược thảo chiếm 25% tổng số đơn thuốc pha chế tại cửa hàng; hàng năm Trung Quốc sử dụng khoảng 700.000 tấn dược liệu và sản xuất khoảng 6.266 mặt hàng; giá trị buôn bán dược liệu ở Ấn Độ hàng năm đạt hơn 60 tỷ Rupi. Ở nước ta, việc sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu tăng lên không ngừng. Theo thống kê của Cục quản lý dược Bộ Y tế, tính đến tháng 5 năm 2007, cả nước đã có hơn 3000 mặt hàng thuốc có nguồn gốc dược liệu đã được Bộ Y tế cấp số đăng ký, chiếm gần 1/3 tổng số thuốc sản xuất trong nước đã được cấp số đăng ký [24].
Thị trường dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu cũng vì thế rất đa dạng và phong phú về nguồn gốc và chủng loại. Do đó nhu cầu về dược liệu rất lớn, hàng năm nước ta tiêu thụ từ 30 - 50.000 tấn dược liệu các loại [25]. Trong khi đó, chất lượng dược liệu đang là vấn đề bức xúc không chỉ đối với các cơ quan quản lý mà còn của toàn ngành Y tế cũng như của cả cộng đồng. Dược liệu dùng làm thuốc được cung cấp từ nguồn thu hái hoang dại, trồng trọt và nhập khẩu.
Nguồn dược liệu sản xuất trong nước hiện nay mới đáp ứng được 46% nhu cầu của thị trường [6], còn khoảng 60% phải nhập khẩu. Nguồn nhập khẩu chủ yếu theo con đường tiểu ngạch, thiếu kiểm sóat. Do nguồn gốc dược liệu phức tạp, không rõ ràng, số lượng lại lớn khó kiểm sóat dẫn đến tình trạng dược liệu giả mạo, nhầm lẫn, kém chất lượng vẫn được tự do lưu thông trên thị trường gây ảnh hưởng không tốt đến độ an toàn, hiệu lực và chất lượng của các chế phẩm từ dược liệu Trước thực trạng trên, đã có nhiều đề tài, hội nghị, bài báo về vấn đề quản lý chất lượng dược liệu nhưng tình hình chất lượng dược liệu chưa có chuyển biến đáng kể [20]. Vì vậy, việc kiểm tra chất lượng dược liệu trong giai đoạn hiện nay cần phải được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Trong mấy năm gần đây,Bộ Y tế cũng đã quan tâm nhiều đến vấn đề này và đã cấp kinh phí cho dự án nâng cao năng lực phòng kiểm tra chất lượng đông dược, dược liệu. Song đối với việc kiểm tra chất lượng thuốc nói chung và kiểm tra chất lượng dược liệu nói riêng, bên cạnh trang thiết bị hiện đại, cần phải có chất chuẩn đối chiếu. ________________________________________________________________________ 4 BCKQ Đề tài cấp bộ 2006-2009 Mặt khác, đối với dược liệu,muốn áp dụng tiêu chuẩn DĐVN III để định tính, định lượng các hoạt chất hoặc chất đặc trưng, cần phải có chuẩn dược liệu hay chất đối chiếu hóa học là hoạt chất hay chất đặc trưng của dược liệu đó để so sánh mà những chuẩn này thực tế còn thiếu chưa đáp ứng được. Vì thế, việc kiểm tra chất lượng dược liệu ở nhiều nơi chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ cảm quan, dựa vào kinh nghiệm hay làm một số phản ứng hoa học thông thường nên kết quả đánh giá chất lượng còn hạn chế.
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu của Viện Dược liệu, Kiểm nghiệm thuốc trung ương, Trường Đại học dược [4,16,22]. nhằm cung cấp những dữ liệu chuẩn về dược liệu khắc phục phần nào những khó khăn về chuẩn. Song các công trình nghiên cứu này mới chỉ khảo sát trên một số dược liệu với một số khía cạnh nhất định như vi phẫu, bột, TLC hoặc HPLC và còn hàng trăm dược liệu khác chưa được khảo sát hoặc khảo sát chưa đầy đủ. Ngoài ra, đã có không ít đề tài nghiên cứu chiết xuất và phân lập được các chất đặc trưng từ dược liệu, một số ít trong đó có thể dùng làm chất đối chiếu trong kiểm nghiệm thuốc nhưng nhìn chung việc nghiên cứu chiết xuất, phân lập hoạt chất từ dược liệu nhằm đạt yêu cầu làm chuẩn vẫn còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu về chất chuẩn trong kiểm nghiệm thuốc có nguồn gốc từ dược liệu.
Để góp phần phát triển, bổ sung thêm nguồn dữ liệu chuẩn của các dược liệu thường dùng và chất đối chiếu từ dược liệu phục vụ việc kiểm tra giám sát chất lượng dược liệu và thuốc đông dược, trên cơ sở kết quả đạt được của đề tài cấp cơ sở đã được nghiệm thu 2003-2005, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu phát triển bộ dữ liệu chuẩn của một số dược liệu thường dùng phục vụ công tác kiểm tra giám sát chất lượng dược liệu và thuốc đông dược”. Mục tiêu của đề tài : − Xây dựng bộ dữ liệu chuẩn của 30 dược liệu thường dùng ở Việt Nam mà chưa có hoặc thiếu các dữ liệu tin cậy về chất lượng phục vụ công tác kiểm tra giám sát chất lượng dược liệu và thuốc đông dược. − Chiết xuất, phân lập ít nhất 3 chất đối chiếu từ các dược liệu nghiên cứu đạt yêu cầu làm chất đối chiếu. − Đưa ra quy trình thiết lập bộ dữ liệu chuẩn từ dược liệu.
Nội dung nghiên cứu: − Thu thập, định danh 30 dược liệu nghiên cứu − Phân tích các đặc điểm hình thái, vi học của 30 dược liệu nghiên cứu − Phân tích các đặc điểm hóa học đặc trưng của 30 dược liệu trên bằng phương pháp TLC,HPLC và /hoặc GC-MS. Từ các sắc ký đồ thu được lựa chọn các đặc điểm đặc trưng làm dấu vân tay sắc ký cho các dược liệu. − Tập hợp các dữ liệu phân tích thành file dữ liệu cho mỗi dược liệu nghiên cứu. − Lưu trữ và bảo quản cơ sở dữ liệu thu thập được vào đĩa CD.
________________________________________________________________________ 5 BCKQ Đề tài cấp bộ 2006-2009 − Đóng gói, theo dõi, bảo quản các mẫu dược liệu nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm, đưa ra nhận xét về thời hạn bảo quản thích hợp ở điều kiện phòng thí nghiệm đối với dược liệu nghiên cứu. − Từ kết quả nghiên cứu đưa ra quy trình thiết lập dữ liệu chuẩn cho một dược liệu. − Chiết xuất, phân lập và tinh chế 3 chất hesperidin, emodin và geniposid từ trần bì, đại hoàng và dành dành để làm chất đối chiếu sử dụng trong kiểm nghiệm đông dược dược liệu. Xác định cấu trúc các chất phân lập được.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu xây dựng dữ liệu chuẩn của các dược liệu Để tiến hành nghiên cứu tiêu chuẩn hóa dược liệu, vấn đề đầu tiên có tính chất quyết định là phải đảm bảo tính đúng của dược liệu, có nghĩa là dược liệu đó phải được định danh đúng tên, đúng loài, đúng bộ phận dùng [24]. Cần tiêu chuẩn hóa và ghi lại các đặc điểm về hình thái bên ngoài, vi phẫu, bột, các đặc điểm hóa học đặc trưng để thể hiện tính đúng đó. Tập hợp những đặc điểm thể hiện tính đúng của dược liệu được coi là dữ liệu chuẩn của dược liệu. Dữ liệu chuẩn có thể góp phần làm căn cứ để định tính, phòng chống giả mạo, nhẫm lẫn, tiêu chuẩn hóa, kiểm tra, giám sát chất lượng dược liệu và chế phẩm của chúng.
Do đó, việc nghiên cứu xây dựng dữ liệu chuẩn của dược liệu đã và đang được chú ý nhiều không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước trên thế giới. Trước kia, trong các chuyên luận dược liệu, để định tính dược liệu, dược điển các nước chỉ đưa ra yêu cầu về đặc điểm hình thái bên ngoài, vi phẫu, bột của dược liệu và một số phản ứng hóa học đặc trưng bằng phản ứng trong ống nghiệm hoặc bằng kỹ thuật TLC. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,việc sử dụng kỹ thuật số để chụp lại ảnh của dược liệu hay đặc điểm vi phẫu, bột dược liệu dưới kính hiển vi làm dữ liệu chuẩn về mặt thực vật của dược liệu đã trở nên phổ biến. Để ghi lại các đặc điểm đặc trưng của dược liệu, người ta sử dụng kỹ thuật điểm chỉ dấu vân tay (fingeprint) như dấu vân tay hóa học, dấu vân tay ADN bằng các phương pháp phân tích hiện đại như phương pháp sắc ký, điện di, quang phổ, nhiễu xạ tia X, phân tích gen [33,36,41,42,67,73,99].
hoăc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau.Trong những phương pháp trên, sắc ký như TLC, HPTLC, HPLC, GC hoặc sắc ký kết hợp phương pháp đo phổ như LC-MS, GC-MS, FTIR, HPLC-DAD. là phương pháp hay được sử dụng nhất để định tính và kiểm tra chất lượng dược liệu [44,45,46,53,58,115]. Các dấu vân tay sắc ký là các sắc ký đồ chỉ ra các đặc trưng hóa học đa thành phần của dược liệu. Vì vậy, trong những năm gần đây, bên cạnh TLC,dược điển các nước như USP, BP, CP, JP.
đã có nhiều chuyên luận dược liệu và chế phẩm đông dược áp dụng phương pháp HPLC, GC hay HPTLC trong định tính, định lượng hoạt chất hay nhóm chất đặc trưng của dược liệu. ________________________________________________________________________ 6 BCKQ Đề tài cấp bộ 2006-2009 Trên thế giới, đã có nhiều tác giả tiến hành thu thập mẫu dược liệu và nghiên cứu về các mặt thực vật học, hóa học và đưa ra các dữ liệu dưới dạng atlas. Ở Đức và Ấn Độ, việc nghiên cứu thiết lập dữ liệu chuẩn của dược liệu nhằm tiêu chuẩn hóa và kiểm tra chất lượng dược liệu và các thuốc từ dược liệu đã sớm được quan tâm. Tính đến năm 2002, cuốn sách “Herbal Drugs and Phytopharmaceuticals” của Max Wichtl đã được xuất bản 4 lần bằng tiếng Đức, trong đó đưa ra các ảnh chụp về đặc điểm hình thái và sắc ký đồ TLC [102].
Năm 1996, 2 tác giả người Đức là H. Bladl đã cho ra mắt lần thứ nhất Atlas TLC của 170 dược liệu và đến năm 2001 xuất bản lần 2 với 230 dược liệu [93]. Năm 2002, Pulok K Mukhejee, khoa Công nghệ Dược phẩm, trường Đại học Jadavpur, Kolkata, Ấn Độ đã nghiên cứu đưa ra các hình ảnh về đặc điểm hình thái và sắc ký đồ TLC của các chất đặc trưng của 25 vị dược liệu ở Ấn Độ [78]. Trung Quốc là một nước đóng góp nhiều công trình khoa học nghiên cứu về dược liệu, đặc biệt về lĩnh vực phân tích đặc điểm hóa học, đặc điểm di truyền, thiết lập dấu vân tay hóa học, dấu vân tay ADN.
coi đó là phương tiện hữu hiệu để so sánh, phân loại, định tính và đánh giá chất lượng dược liệu [33,71,105,106]. Năm 2005, Hồng Kông Trung Quốc đã xuất bản tập 1 bản tiêu chuẩn của 8 dược liệu trồng tại Hồng Kông, tiếp đó 7/2008 tập 2 ra đời với 24 chuyên luận dược liệu.