CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu Tên đối tượng nghiên cứu: Bồ đề Tên khoa học: Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich, 1913 Tên khác: Cánh kiến trắng, Bồ đề trắng, An tức bắc bộ, Thoán hương… Họ: Bồ đề (Styracaceae) Hình thái: Cây gỗ to, cao 15-20m. Vỏ thân nhẵn, màu xám bóng. Cành hình trụ, khi non có lông tơ, sau nhẵn màu nâu.
Lá mọc so le, mềm, hình trứng hoặc hình bầu dục, gố và đầu thuôn nhọn, mặt trên nhẵn, mùa lục, mặt dưới phủ lông trắng mịn, hình sao, gân lá nổi rõ, mép nguyên hoặc có răng rất nhỏ ở phía đầu lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành và kẽ lá thành chùm dài, phủ nhiều lông hình sao, lá bắc rụng sớm, hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm nhẹ; đài hình chén có 5 – 6 răng nhỏ; tràng có 5 cánh hàn liền gốc, mặt ngoài có lông tơ vàng; nhị 10 rời, có lông hình sao; bầu hình trứng, cuống có lông, 3 ô chứa nhiều noãn. Quả hình trứng hoặc hình cầu, mở thành ba mảnh; hạt có vỏ cứng, dày và nhăn nheo. Mùa hoa tháng 4 - 6; vụ tháng 7-10.
Mùa hoa quả: tháng 5 – 8 3 Hình 1.Hình thái loài Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich. 1913) Nguồn: http://tropical.php?id=Styrax+tonkinensis Đặc tính sinh thái Bồ đề thường mọc tự nhiên sau nương rẫy hoặc sau lúc rừng vừa mới bị phá để phơi đất trống, đất còn tốt, trên hầu hết các đất khác nhau về đá mẹ, trừ đất đá vôi. Ở đó, Bồ đề mọc thuần loại hoặc xen lẫn với nứa, cây gỗ. Bồ đề là loài cây tiên phong, đòi hỏi nhiều ánh sáng, chịu rét tương đối khỏe, nhưng không chịu được nhiệt độ cao (nhất là cây non) và khô hạn.
Vì vậy chỉ thấy chúng có ở các vùng ẩm còn mang tính chất đất rừng rõ rệt. Bồ đề là loài cây mọc nhanh, chu kỳ khai thác ngắn 10-12 năm. Bồ đề có thời kỳ rụng hết lá, ngừng sinh trưởng vào khoảng từ tháng 11- 12 đến tháng 1-2 năm sau. Đặc điểm rụng lá, tán thưa thảm mục ít là các nhược điểm cơ bản của rừng Bồ đề để phòng hộ bảo vệ môi trường.
Có 2 loại Bồ đề, loại nhiều nhựa mọc ở vùng cao, loại ít nhựa mọc ở vùng thấp là loại thường được trồng để lấy gỗ. 4 Bồ đề thích hợp với nhiệt độ trung bình năm 19-23oC, lượng mưa 1500- 2000 mm/năm, số tháng khô không quá 3 tháng, không bị ảnh hưởng của gió Lào và phơn khô nóng. Trồng thích hợp trên các loại đất feralit vàng, đỏ vùng đồi, núi thấp, có tầng phong hóa dày và thành phần cơ giới tương đối nặng phát triển trên các đá mẹ gnai, phiến thạch mica, philit, trầm tích nêôgen, pocphiarit, phù sa cổ. Có thể mở rộng trồng trên đất feralit phát triển trên các đá mẹ riôlit, acgilit, phiến thạch sét.
Cây mọc khỏe nơi đất sâu ẩm; không ưa đất đá vôi, đất đọng nước, đất bị glây; sinh trưởng kém nơi đất đã thoái hóa, đất cát và đất đá ong. Phân bố, Việt Nam: Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thường xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xen Tre, Vầu, Nứa. Phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Tây Bắc, Việt Bắc xuống đến miền Tây Thanh Hóa và còn lác đác tới biên giới Nghệ An – Lào. Thường gặp nhiều nhất ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, song cũng có mặt ở Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, dọc theo phần trên của các lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Mã.
Bồ đề được trồng ở vùng Trung tâm Bắc Bộ nhiều năm nay. Thế giới: Lào, Trung Quốc (Quảng Đông, Hà Tây) 1. Trên thế giới Thành phần hóa học: Gỗ Bồ đề mềm, thớ mịn, màu sáng, không có lõi; được dùng sử làm diêm, làm đũa và nguyên liệu giấy. Indonesia là nước sản xuất nhựa Bồ đề (benzoin) từ loại Bồ đề nam dương (Styrax paralleloneurum Perkins) với khối lượng rất lớn, đạt tới 4000 tấn/năm (thời kỳ 1990 - 1993) với giá trị khoảng 4,8 triệu USD.
Ba phần tư sản lượng được sử dụng trong nước, còn lại để xuất khẩu, chủ yếu là sang Singapore. Tại đây nhựa Bồ đề chủ yếu được sử dụng làm hương, làm chất thơm, làm thuốc và hương thơm trong công nghiệp thuốc lá.Các kết quả phân tích của Feng Wang và cộng sự (2006) đã cho biết trong nhựa Bồ đề ở miền 5 Nam Trung Quốc có chứa các triterpenoit như: 6β -hydroxy-3- oxo-11α, 12α- epoxyolean 28,13β -olid; 3β,6β-dihydroxy-11α, 12α-epxyolean- 28, 13-olid; 3β, 6β- dihydroxy-11-oxo-olean; 12-en-28-oic acid; 3β-hydroxy-12-Oxo-13 Ha- olean-12-en-olid; 19α -hydroxy-3-oxo-olean-12-en; 28-oic acid; 68-hydroxy-3- oxo-olean-12-en-28-oic acid; sumaresinolic acid; siaresinolic acid và oleanolic acid. Những thử nghiệm ban đầu đã cho biết nhiều triterpenoids từ nhựa Bồ đề có hoạt tính ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào Leukemia HL-60 ở người. Nhựa Bồ đề có tác dụng kháng khuẩn in vitro trên một số vi khuẩn thông thường và có tác dụng lợi đờm (thực nghiệm trên thỏ).
Nhựa Bồ đề được dùng làm thuốc chữa viêm phế quản mãn tính, hen suyễn, ho, đau bụng lạnh, thổ tả, phụ nữ đẻ máu xấu, bị ngất. Dùng ngoài, nhựa làm vết thương mau lành, chữa nẻ vú, xua đuổi côn trùng, làm chậm ôi thiu. Nhựa Bồ để được phối hợp với các vị thuốc khác làm cao xoa. Nhựa Bồ đề là chất định hương, nên được sử dụng nhiều trong công nghiệp hóa mỹ phẩm và công nghiệp thực phẩm.
Nhân dân nhiều tộc Lào cũng có tập quán khai thác nhựa Bồ để (S.tonkinensis) từ rất lâu đời. Bồ đề thường được chích nhựa lần đầu ở giai đoạn khoảng 8 tuổi. Cây có thể cho nhựa liên tục trong khoảng 6 - 7 năm tiếp theo. Nhưng càng về sau năng suất nhựa càng giảm.
Đến giai đoạn cây được 14 – 15 năm tuổi thì cần tiến hành khai thác gỗ và trồng lại rừng. Tại Indonesia, dân địa phương có kinh nghiệm tạo nhựa cánh kiến trúc trắng trên cây Bồ đề Nam dương (Styrax paralleloneurum Perkins) mọc ở vùng Bắc đảo Sumatra từ hàng trăm năm nay. Cây được chọn để chích nhựa phải đạt ít nhất 8 năm tuổi và bắt đầu ra hoa, sau đó có thể chích nhựa liên tục trong khoảng 60 năm tiếp theo. Người chích nhựa phải leo lên cây cao 5-6m, dùng một loại dao đặc biệt để cắt vỏ cây.
Mỗi năm chỉ chích nhựa một lần.2020 – Đã đề cập “Tiêu chuẩn thương mại đa dạng sinh học có đạo đức.” Trong đó có đề tới các nguyên tắc như: BẢo tồn đa dạng sinh 6 học – Sử dụng bền vững đa dạng sinh học – chia sẻ công bằng và hợp lí các lợi ishc có được từ việc sử dụng đa dạng sinh học – bền vững kinh tế xã hội ( quản lý sản xuất tài chính và thị trường) – tuân thủ luật pháp quốc gia và quốc tế - tôn trọng quyền của các tác nhân tham gia vào các hoạt động BioTrade – Rõ ràng về quyền sử dụng đất, quyền sử dụng và tiếp cận tài nguyên thiên nhiên.(1999) – Đã đề cập trong “Benzoin: Production, Uses and International Trade” rằng: Về hóa học- ứng dụng:” Thành phần hóa học của hai loại benzoin giải thích các đặc điểm cảm quan của chúng và xác định sử dụng mà chúng được đặt. Có cả hai điểm tương đồng và sự khác biệt về thành phần và điều này có nghĩa là mặc dù chúng đều được sử dụng cho mục đích tạo hương và thơm, chúng thường đáp ứng các phần khác nhau của thị trường. Cả hai đều chứa hỗn hợp của axit hữu cơ và este cùng với nhiều các thành phần khác, chủ yếu là phụ. Cả hai đều có thể được mô tả là balsamic trong mùi.3 Tuy nhiên, ở Siam benzoin, thủ lĩnh thành phần cấu tạo là axit benzoic và các este của nó (chẳng hạn như coniferyl cinnamate và cinnamyl cinnamate).
Có thể dễ dàng phân biệt hai loại bằng sắc ký lớp mỏng, cũng phát hiện sự hiện diện của damar trong khối benzoin.4 Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở Lào đã chỉ ra rằng việc sử dụng giải pháp "nhúng" để hình dung các đốm trên tấm TLC cho kết quả vượt trội hơn nhiều so với phun thông thường. Vanillin có trong cả hai loại benzoin và tạo ra mùi vani quen thuộc của nó, dễ dàng nhất phát hiện trong loại Siam. Các nhà xuất khẩu hiếm khi đưa ra các thông số kỹ thuật phân tích cho benzoin. Họ bán theo hạng, mà trình giải nén hoặc người dùng cuối biết từ trải nghiệm (đã sao lưu bằng cách phân tích thích hợp), sẽ phù hợp với mục đích của nó.
Giác quan đặc điểm không dễ định lượng trong phòng thí nghiệm và mũi của người làm nước hoa vẫn là phương tiện tốt nhất để đánh giá chất lượng mùi. Tuy nhiên, những đặc tính vượt trội của Siam benzoin hơn benzoin Sumatra được công nhận và tính đến giá cao hơn của cái cũ. Siam benzoin có mùi tròn hơn, giống vani hơn Sumatra benzoin, nặng hơn đối với mũi. Để sử dụng bởi hương vị, hương thơm và dược phẩm các ngành công nghiệp, nhựa 7 cây, cồn thuốc hoặc các loại chiết xuất khác là được điều chế.5 Siam benzoin tạo ra các chất chiết xuất có màu sáng hơn hơn Sumatra benzoin.
Rượu thường được sử dụng cho chiết xuất, mặc dù chiết xuất thường được hòa tan lại trong một dung môi khác như benzyl benzoat, rượu benzyl hoặc propylene glycol, theo yêu cầu của khách hàng. Mặc dù có một số ứng dụng nhỏ của benzoin, chẳng hạn như chất tráng men trong chất đánh bóng và hoàn thiện gỗ, nó là được sử dụng chủ yếu cho mục đích hương liệu và trong các ngành công nghiệp hương liệu, hương thơm và dược phẩm. - Về hương liệu “ Vai trò chính của Benzoin trong thực phẩm là như một chất tạo hương vị. Các sự hiện diện của một lượng đáng kể cinnamates ở Sumatra benzoin được sử dụng để sản xuất hương vị sô cô la.
Các cinnamate này cũng có trong ca cao và khả năng tương thích của chúng tạo điều kiện cho việc sản xuất hương vị và cải thiện các đặc tính của nó. Các hương vị được sử dụng trong sô cô la thanh, kem, sản phẩm sữa, xi-rô và các sản phẩm khác. Mức độ kết hợp trong hương liệu là khoảng 0,1%, trong khi hương vị có thể chiếm tới 4% thành phẩm. Benzoin được sử dụng như một chất tạo mùi trong bánh nướng, đặc biệt là những loại có chứa vani hoặc cassia.
Ở Đan Mạch và Thụy Điển cho mục đích này. Nó cũng được sử dụng như một chất tráng men. Hình ảnh của benzoin được sử dụng để tạo độ bóng cho trứng sô cô la. Trong Ở Nhật Bản, benzoin được sử dụng làm chất làm kẹo cao su.