CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khí nhà kính và hiệu ứng ấm lên toàn cầu Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang trở thành một vấn đề “thời sự” trong khoa học và chính trị hiện nay. Có rất nhiều tranh luận về nguyên nhân gây ra BĐKH là do hoạt động của con người hay vận động của tự nhiên.
Tuy nhiên, qua các quan trắc và nghiên cứu lâu dài trên phạm vi toàn cầu, các kết quả đã chứng minh rằng: sự thay đổi khí hậu đương đại (ví dụ như tăng nhiệt độ) chủ yếu là do sự phát thải các khí nhà kính (KNK) từ các hoạt động của con người, bao gồm: gồm hơi nước (H2O), cácbon điôxít (CO2), mê-tan (CH4), ôxit-nitơ (N2O), ôzôn(O3), các khí chlorofluorocacbon (CFC)… [IPCC, 2007]. Đây là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được mặt trời chiếu sáng. Các KNK trong khí quyển cho phép bức xạ sóng ngắn (< 0,7µm) từ mặt trời đi qua, nhưng hấp thụ bức xạ song dài (≥ 0,7µm) đi từ bề mặt trái đất. Nhiệt độ trung bình toàn cầu được xác định bởi sự cân bằng giữa năng lượng từ mặt trời và năng lượng nhiệt từ mặt đất.
Hiện tượng các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất, được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài, tiếp đó được các KNK trong bầu khí quyển hấp thụ và phân tán nhiệt trở lại trái đất và làm nóng bầu khí quyển, được gọi là “hiệu ứng nhà kính tự nhiên” [IPCC, 2007]. Hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân chính làm tăng nhiệt độ bề mặt trái đất và thay đổi hình thái khí hậu [IPCC, 2007]. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng sự gia tăng nồng độ CH4 và N2O trong khí quyển do các hoạt động của con người có liên quan đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Môi trường đất được coi là một nguồn lưu giữ KNK trong hầu hết các hệ sinh thái trên cạn.
Theo tính toán của IPCC năm 2007, mức đóng góp vào hiệu ứng nhà kính của CO2 khoảng 36-70% (trung bình 60%), CH4 khoảng 9-26% (trung bình 15%), N2O khoảng 3-7% (trung bình 5%), O3 khoảng 4 - 9% (trung bình 6%). Khí CH4 và N2O liên quan đến sự suy giảm lớp ôzôn (O3) ở tầng bình lưu của bầu khí quyển [IPCC, 1996]. Tác động của hiệu ứng nhà kính đã làm tăng nhiệt độ toàn cầu trung bình trong khoảng 0,3-0,6°C trong thế kỷ trước và dự đoán sẽ tăng từ 1,1°C đến 6,4°C vào năm 2100 trong đó nhiệt độ ở vùng có vĩ độ trung và cao tăng lên càng nhiều [IPCC, 2007]. Các nhà khoa học dự đoán rằng: nếu nồng độ CO2 tiếp tục tăng lên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì sau 100 năm nữa hoặc trong thời gian ngắn hơn, mức độ hiệu ứng nhà kính giống như kỷ Jura sẽ tái xuất hiện.
Lúc đó băng ở hai cực của trái đất sẽ tan ra, đất liền sẽ bị thu hẹp, nhiệt độ tăng cao và một lượng lớn sinh vật sẽ bị huỷ diệt. Vùng Bắc cực nóng lên nhanh gấp 2 lần mức nóng trung bình trên toàn cầu. Diện tích của Biển Bắc cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang thu nhỏ lại. Tính từ năm 1980, vùng Bắc Âu đã mất khoảng 20-30% lượng băng trên biển.
Trong vòng 100 năm qua, mực nước biển trên phạm vi toàn cầu đã tăng từ 1-2 mm mỗi năm. Nếu tính từ năm 1993, mực nước biển tăng khoảng 3,1 mm/năm. Mực nước biển tăng, cư dân sống ở các đảo thấp và các thành phố ven biển đối mặt với tình trạng ngập lụt [Church và White, 2011]. Nồng độ KNK tương đối ổn định trong khoảng một nghìn năm trước cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó đã tăng lên đáng kể: nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gần 30%, nồng độ CH4 tăng hơn 200%, và nồng độ N2O đã tăng khoảng 15% [IPCC, 2001].
Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng từ giá trị tiền công nghiệp khoảng 280 ppm đến 379 ppm, CH4 từ 0,715 ppm lên 1,775ppm và N2O từ 0,270 ppmlên 0.1: Một số đặc trưng của các KNK chính Thời gian tồn tại Nồng độ thời tiền Nồng độ năm Khí nhà kính trong khí quyển công nghiệp (ppm) 2005 (ppm) (năm) CO2 280 379 5-200 CH4 0,715 1,775 12 N2 O 0,270 0,319 114 [Nguồn: IPCC, 2007] Các KNK khác nhau về khả năng hấp thụ nhiệt trong khí quyển. Tác động của phát thải KNK lên khí quyển không chỉ liên quan đến tính chất bức xạ, mà còn liên quan đến thời gian chất khí tồn tại trong khí quyển, yếu tố chính trong việc xác định hiệu ứng gây nóng bầu khí quyển. Ví dụ, khí CO2 có thể tồn tại trong khí quyển khoảng 120 năm và tiếp tục đóng góp vào quá trình bức xạ nhiệt (với tác động giảm dần) trong nhiều thập kỷ; một số khí CFCs có thời gian tồn tại rất dài và có thể góp phần làm nóng trái đất trong nhiều thế kỷ [IPCC, 2001]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiềm năng gây ấm toàn cầu (Global Warming Potential – GWP) của một chất KNK nào đó được định nghĩa là tỉ số đo khả năng bẫy nhiệt của một đơn vị khối lượng của chất khí đó với một đơn vị khối lượng khí CO2 trong cùng một thời gian (năm) so sánh (ngắn có thể là 20 năm, thông thường là 100 năm hoặc dài hơn đến 500 năm).
Nói cách khác, GWP là một chỉ số được sử dụng để ước lượng các tác động tiềm tàng trong tương lai của các loại KNK khác nhau đối với khí hậu toàn cầu theo nghĩa tương đối (IPCC, 2001). Ví dụ: Tính trên một đơn vị khối lượng cơ sở của chất khí và trong một khoảng thời gian 100 năm, GWP (hay khả năng giữ nhiệt trong khí quyển) của CH4 cao gấp 25 lần so với CO2 và GWP của N2O cao gấp 298 lần so với CO2 [IPCC, 2007].2: Giá trị tiềm năng gây ấm lên toàn cầu (GWP) của các KNK chính Khí nhà kính Giá trị tiềm năng gây ấm lên toàn cầu (CO2tđ) 20 năm 100 năm 500 năm CO2 1 1 1 CH4 62 25 7 N2 O 275 298 156 CFC 7900 8500 4200 HCFC 4300 1700 520 [Nguồn: Báo cáo thường niên lần 4, IPCC, 2007] Nếu như sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi sử dụng đất, thì CH4 và N2O phát thải chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp [IPCC, 2007]. Khí CH4 hình thành từ sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ, các xác bã thực vật và động vật ở đất ngập nước và ruộng lúa, sự lên men đường ruột trong dạ dày của các loài đại gia súc móng guốc [Maunder, 1992]. Các hoạt động sinh nhiều khí CH4 gồm canh tác lúa nước, chăn nuôi, chôn lấp rác thải và sự phân hủy tự nhiên của tàn dư thực vật trong hệ sinh thái đầm lầy.
Khí CH4 còn bị rò rỉ từ trong lòng địa quyển ra khí quyển qua các hoạt động khai khoáng hoặc chế biến khoáng sản (than đá, dầu khí…). Đất lúa ngập nước là một trong những nguồn phát thải CH4 đáng kể do môi trường kị khí trong đất ngập nước là điều kiện lý tưởng cho quá trình sản sinh và phát thải khí CH4 (methanogenesis) [Corton và nnk, 2000]. Theo Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA, 2016), hoạt động của con người đóng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góp khoảng 50% lượng CH4 trong khí quyển, còn lại là từ sự rò rỉ ở các lớp thổ nhưỡng và đại dương. Tổng lượng khí CH4 phát thải hàng năm trên toàn cầu ước tính khoảng 30 – 60 tỉ tấn hằng năm, tương đương khoảng 750 – 1.250 tỉ tấn CO2tđ [Soyez và Graßl, 2008], trong đó khoảng 60% liên quan đến hoạt động của con người như nông nghiệp, sử dụng nhiên liệu hoá thạch và xử lý chất thải.
Khí CH4 được xem là khí gây hiệu ứng nhà kính quan trọng thứ hai. Từ năm 1750 đến năm 1998, nồng độ khí CH4 tăng khoảng 150%, lên mức 1745 ppb [IPCC, 2001]. Theo quan sát của Dlugokencky và nnk (2003), từ năm 1985 đến năm 2000 nồng độ khí CH4 trong không khí gia tăng liên tục nhưng trong khoảng vài năm sau đó, sự gia tăng này dường như diễn ra chậm lại. Theo báo cáo của NOAA (2008), nồng độ CH4 trong khí quyển đã đạt đến mức 1.
Khí N2O sản sinh từ nguồn gốc tự nhiên và từ nhân tạo (hoạt động nông nghiệp và công nghiệp). Nguồn thải N2O chủ yếu hiện nay từ sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp, do đốt các nhiên liệu hóa thạch, phân giải các hợp chất hữu cơ, sản xuất các chất nylon, đốt sinh khối, phá rừng [Li và nnk, 2000]… Theo kết quả công bố bản Báo cáo Đánh giá thứ hai của IPCC [1996] về Tiềm năng gây nóng toàn cầu (GWP), khí N2O có khả năng giữ nhiệt trong khí quyển gấp 298 lần so với khí CO2 trong thời gian 100 năm. Khí N2O có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại nhưng lại kém hoạt động (khí trơ) trong tầng bình lưu. Trong tầng đối lưu N2O bị phá huỷ bởi các nguyên tử ôxy (O) hình thành NO.
Chất khí này sẽ phản ứng với O3 dẫn đến làm phá huỷ tầng ôzôn (O3) trong khí quyển. Vì thời gian tồn tại của N2O trong khí quyển vào khoảng hơn 100 năm nên có ảnh hưởng lâu dài đối với nhiệt độ trái đất. Khí N2O là loại khí tham gia khoảng 6-8% thành phần gây hiệu ứng nhà kính. Nồng độ N2O trong khí quyển năm 2005 là 0,319 ppm, tăng gần 1,2 lần so với thời kỳ tiền công nghiệp (Bảng 1.
Hàng năm, tổng lượng N2O được thải vào bầu khí quyển khoảng 17,7 Gg N [Mosier và nnk, 1998]. Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 1. Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp trên thế giới Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hơn 60% dân số thế giới sống ở nông thôn và các sản phẩm nông nghiệp giúp duy trì an ninh lương thực.
Tuy nhiên, các hoạt động nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu thông qua các tác 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động đến khí quyển, môi trường đất, nước và các hệ sinh thái tự nhiên. Liên quan đến sự ấm lên toàn cầu, nhiều nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng nông nghiệp chính là một trong những nguồn phát thải KNK chính và là bể chứa các-bon.