Đặt vấn đề Khoai lang là cây lương thực thiết yếu trong đời sống, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, được trồng nhiều ở các châu lục như Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latinh.Theo số liệu của FAO (2010) thì trên thế giới 77% khoai lang sử dụng làm lương thực, 13% làm thức ăn gia súc, 6% làm nguyên liệu chế biến, phần bỏ đi chỉ còn 4%. Theo số liệu của FAO năm 2019, sản lượng khoai lang của Châu Á chiếm 64,8% sản lượng khoai lang thế giới trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng khoai lang lớn nhất. Toàn bộ phan thân lá, ngọn của cây khoai lang được sử dụng làm rau xanh cho người và có thé làm thức ăn cao cấp cho gia súc. Ở Việt Nam, khoai lang được coi là cây lương thực đứng thứ 3 chỉ sau lúa và ngô.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, sản lượng khoai lang ở nước ta đạt 1,4 triệu tấn và diện tích trồng khoai lang là 20,4 nghìn ha, tăng hơn so với năm 2018. Tuy nhiên, khoai lang đang gặp khó khăn với các bệnh về virus làm sản lượng giảm rõ rệt, thường hơn 50% (Loebenstein, 2015). Các bệnh virus khoai lang được phát hiện phan lớn ở Châu phi và đến nay bệnh đã gây hại trên nhiều vùng trồng khoai lang chủ yếu do các loại virus Sweet potato feathery mottle virus (SPFMV), Sweet potato vein mosaic virus (SPVMV), Sweet potato latent virus (SPLV), Sweet potato mild mottle virus (SPMMV), Sweet potato caulimo virus (SPCV), Sweet potato yellow dwarf virus (SPYDV) (Man, 2007). Sweet potato feathery mottle virus (SPFMV) là loài virus gay bệnh phô biến nhất trên thé giới, thường xuất hiện ở những nơi trồng khoai lang và là loài gây thiệt hại nhất.
Chính vì thế, cần phải có một quy trình phát hiện kịp thời virus SPFMV để có biện pháp phòng trừ sớm. Hiện nay, một số kỹ thuật đã được sử dụng dé chân đoán virus như: kính hiển vi, kỹ thuật ELISA nhưng có độ nhạy thấp, thời gian lâu. Vì vậy, một giải pháp mới đã được đề ra là sử dụng phương pháp Multiplex RT-PCR có độ nhạy cao, chính xác cho kết quả tối ưu dé phát hiện virus SPFMV. Qua đó, giảm thời gian, công sức cho việc phát hiện, nhận dạng virus gây bệnh.
Từ thực tế trên, dé tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện Sweer Potato Feathery Mottle Virus (SPFMV) gây bệnh chân chim trên cây khoai lang bằng kỹ thuật Multiplex RT-PCR” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng được quy trình phát hiện Sweet Potato Feathery Mottle Virus (SPFMV) gây bệnh chân chim trên cây khoai lang bằng kỹ thuật Multiplex RT-PCR có độ nhạy và độ chính xác cao, giúp chân đoán và phát hiện virus SPFMV nhanh chóng và hiệu qua. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xây dựng quy trình phát hiện SPFMV bằng kỹ thuật Multiplex RT-PCR. Nội dung 2: Áp dụng quy trình trên trên mẫu thực địa.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Téng quan vé khoai lang (Ipomoea batatas) 2. Nguồn gốc va lịch sử phat triển Khoai lang có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ thông qua các bằng chứng về khảo cô học, ngôn ngữ học, sử học và di truyền học (Trịnh Xuân Ngọ và Định Thế Lộc, 2004) và nó đã được thuần hóa ở Trung Mỹ hơn 5000 năm trước (Mu va Li, 2019; Gobena va ctv, 2022). Các nhà khảo cé đã đưa ra giả thuyết thuyết rằng người Polynesia cổ đại có thé trao đối với những người sống ở bờ biển phía Tây Nam Mỹ (Roullier và ctv, 2013) nên khoai lang đã được đưa đến các nơi có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới và phổ biến ở các đảo Thái Bình Dương (Nishiyama, 1971; Bovell-Benjamin, 2014).
Trong thế kỷ 16, các thương nhân và khách du lịch Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã mang khoai lang đến Philippines và Indonesia (Srisuwan và ctv, 2006) bat đầu quá trình du nhập vào Châu A (Mu và Li, 2019): tai Phúc Kiến, Trung Quốc năm 1594 (Woolfe, 1992), đến Nhật Bản vào khoảng năm 1735 (Takekoshi, 2022) và Hàn Quốc vào khoảng năm 1764 (Kim, 2012).Tuy nhiên, ngày nay, Trung Quốc lại là nước sản xuất và có sản lượng khoai lang lớn nhất thế giới. Về sự xuất hiện khoai lang ở Việt Nam vào thời điểm nào tại đâu đầu tiên là một khó khăn to lớn vì gần như không có tư liệu cụ thể nào đề cập tới và các nghiên cứu về khoai lang cũng không nhiều. Theo các nghiên cứu của Vũ Đình Hòa (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã khang định cây khoai lang du nhập vào Việt Nam cuối thé kỷ 16 từ đảo Luzon, Philippines hoặc có thể từ vùng Phúc Kiến. Vị trí, phan loại 2.
Vị trí Khoai lang thuộc Giới : Plantae Ngành :Mangrolyophyta Lớp :Magnoliopsida Bộ : Solanales Họ : Convolvulaceae Chi : Ipomoea Loài Ipomoea batatas L. Khoai lang Upomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp có củ chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt nên còn được gọi với cái tên khoai tây ngọt. Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có nguồn gốc Nam Mỹ va quan hệ họ hàng rat xa với khoai mỡ (một số loài trong chi Dioscorea) là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và chau A. Còn là loài duy nhất thuộc họ Convolvulaceae 50 chi va hơn 1000 loài (Woolfe, 1992; Mu và Zhang, 2019) có tầm quan trọng kinh tế (Hall và Phatak, 1993; Pitrat, 2012), lá va ngọn được sử dung như một loại rau (Hall và Phatak, 1993).
Chi Jpomoea có khoai lang, rau muống (Ipomoea aquatica) va một s6 loai hoa dai được gọi bằng một số tên như bim bìm (chung với các chi khác), mặc du từ nay không được dùng dé chỉ khoai lang, rau muống. Khoai lang là loài cây thân thảo dang dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le hình tim hay xẻ thùy chân vịt, các hoa có tràng hợp và kích thước trung bình. Rễ củ ăn được có hình dáng thuôn dai và thon, lớp vỏ nhan nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu hay trắng. Lớp cùi thịt có màu từ trắng, vàng, cam hay tím (Mu va Singh, 2019).
Phan loai khoai lang Sự đa dang của các giống cây khoai lang chủ yếu được phân biệt bởi mau thịt của chúng (màu vàng, trắng, đỏ, cam, tím), tính chất vật lý và thành phần hóa học (Qin va ctv, 2022). Ví dụ, khoai lang có thịt cam có nhiều carotenoids và khoai lang tím chứa lượng anthocyanin cao (Alam và ctv, 2016; Laurie và ctv, 2018). Ở Việt Nam chủ yếu có 3 loại khoai lang chính: khoai lang Hoàng Long, khoai lang Lệ Cần và khoai lang Nhật tím Bình Tân. Khoai lang Hoàng Long: Khoai lang Hoàng Long là loại cây đặc sản của tỉnh Ninh Bình nói chung và vùng Nho Quan - Gia Viễn vốn nằm bên sông Hoàng Long nói riêng.
Khoai Hoàng Long có thịt củ bở, màu vàng nhạt, bùi, ngọt và có mùi thơm đặc trưng. Hiện nay, Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp công nghệ cao thuộc Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm và phục tráng thành công giống khoai lang Hoàng Long cho năng suất, chất lượng cao trên diện tích 3 ha tại các xã Yên Quang và Phú Sơn huyện Nho Quan. Khoai lang Lệ Cần là đặc sản của vùng Lệ Cần, xã Tân Bình, Dak Đoa, Gia Lai. Khoai lang Lệ Cần có thân dây to, cứng, lá mọc dài, tán có nhiều thùy màu nâu tím, củ màu đỏ, dài, thuôn.
Ruột có màu vàng nghệ nên khi luộc bở vàng ươm, ăn ngọt lim và bùi. Đặc biệt, giông khoai này chỉ trồng ở vùng Lệ Cần mới có đủ đặc điểm trên. Khoai lang Nhật tím Bình Tân cho năng suất cao về chất lượng cũng như số lượng. Dinh dưỡng Củ khoai lang là nơi chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất ở khoai lang, nó cung cấp calo là chủ yếu và cho lựng calo cao hơn khoai tây.
Thành phần dinh dưỡng chính của khoai lang là đường và tinh bột; bên cạnh đó còn có một số chất như protein (Mu và ctv, 2017), các vitamin (de Brauw va ctv, 2019), chat khoang, sat (Jongstra va ctv, 2020). Trong 100 gam khoai lang thì bao gồm: năng lượng: 119 Keal, protein: 0,8 gam, lipid: 0,2 gam, glucid: 28,5 gam, chất xơ: 1,3 gam, vitamin: A, C, B.chat khoang: kali, mangan, đồng, niacin,. Vi vậy khoai lang được ứng dụng nhiều trong thực phẩm như làm bánh (Kolawole và ctv, 2020). Màu sắc và hương vị ngọt ngào cũng góp phần vào khả năng chấp nhận ăn khoai lang, thường được nấu và chuẩn bị bằng cách đun sôi, chiên, hap và nướng ở các nước phương Tây (Hadero, 2018).
Ngoài ra, một số sản phẩm thực phẩm mới đã được phát triển bằng khoai lang như: hỗn hợp với lúa mì và đậu tương, mì và bánh quy (Hadero, 2018; Kolawole và ctv, 2020). Thành phần dinh dưỡng trong khoai lang góp phần tích cực vào sức khỏe của con người, chẳng hạn như chống oxy hóa, bảo vệ gan, chống viêm, chống ung thư, chống đái tháo đường, kháng khuẩn, chống co thắt, tác dụng chống ung thư (Wang và ctv, 2016). Một số loại bệnh virus trên cây khoai lang Theo Loebenstein năm 2015 về kiểm soát các loại bệnh virus khoai lang đã chia có 5 loại virus gây bệnh chính. Sweet potato chlorotic stunt virus Chỉ Crinivirus gầy bệnh lõm gần lá Việc nhiễm virus SPSVV được cho là có triệu chứng giống với nhiễm SPCSV và là một biến đổi khác của virus này.
Các triệu chứng nhẹ của bệnh như là gân vàng nhẹ, một số gân nhỏ thì trũng ở các mặt bên trên của lá. Thường nhiễm cùng với một số loại virus khác dé gây ra tôn hại cao hơn, làm giảm diép lục (Njeru và ctv, 2004) dẫn đến cây không quang hợp tốt. SPVD được gây ra bởi sự tương tác của SPFMV va SPCSV/SPSVV. Các triệu chứng đặc trưng của bệnh SPVD bao gồm làm sạch tĩnh mach, clo va còi cọc.
Bệnh được mô tả bởi Schaefers và Terry (1976) ở Nigeria va là 5 bệnh virus quan trọng nhất (phức tạp) ở EA, trong đó khoai lang thường là món ăn chính (Karyeya va ctv, 1998). Bệnh được mô tả ở Israel bởi (Loebenstein và Harpaz, 1960), Hoa Kỳ (Abad và ctv, 2007), Tây Ban Nha (Trenado và ctv, 2007), và có thể xay Ta Ở Ý (Parrella và ctv, 2006). Nó có thể gây ra ton thất trên 50%, đặc biệt là ở Uganda và Kenya, mặc dù trong một nghiên cứu khác từ Uganda, tôn thất nhỏ hơn nhiều, có lẽ là do mức độ kháng virus tương đối cao trong vùng đất đó (Gibson và ctv, 1997). Sweet potato leaf curl virus Chỉ Begomovirus Virus có chiều dai.
18 x 30nm với bộ gen 2828 nt. DNA bộ gen có tô chức tương tự như của Monopartite Begomovirus.