MỞ ĐẦU Ngành nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta đang phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hoá. Nghề nuôi tôm không chỉ góp phần lớn làm tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản mà còn có tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cho người nuôi thủy sản. Hiện nay để tăng sản lượng nuôi tôm, việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến như nuôi thâm canh năng suất cao và tăng diện tích nuôi đã có nhiều tác động đến môi trường sinh thái gây ô nhiễm môi trường và sự bùng phát dịch bệnh. Virus gây bệnh trên tôm là đối tượng gây thiệt hại đáng kể nhất cho người nuôi tôm, trong đó virus gây bệnh đốm trắng (WSSV) và virus gây bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV) là hai bệnh phổ biến trên tôm tại Việt Nam.
Do đó, việc phát hiện sớm các virus gây bệnh này, cũng như phân biệt các triệu chứng mắc bệnh trên tôm do virus gây ra hay do tác động từ yếu tố môi trường, hay vi khuẩn gây bệnh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống kịp thời giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh. Hiện nay chỉ có phương pháp PCR, realtime PCR và phương pháp LAMP (Loop-mediated isothermal amplification) có thể giúp chẩn đoán nhanh, phát hiện sớm virus gây bệnh trên tôm trong thời kỳ ủ bệnh. Tuy nhiên phương pháp PCR, realtime PCR đòi hỏi phải trang bị hệ thống thiết bị hiện đại và đắt tiền, nên phương pháp này chủ yếu sử dụng tại những phòng thí nghiệm đã được trang bị đầy đủ các máy móc thiết bị cần thiết cũng như được đào tạo về nguồn nhân lực. Trên thực tế tất cả các phòng thí nghiệm đều nằm ở thành phố, trong khi các vùng nuôi tôm chủ yếu ở các vùng nông thôn hay ngoại ô, việc vận chuyển mẫu xét nghiệm và chờ đợi kết quả tốn nhiều thời gian, dịch bệnh do virus lại bùng phát rất nhanh.
Phương pháp LAMP (Loop-mediated isothermal amplification) là một phương pháp đơn giản, có độ nhạy cao, dễ dàng thực hiện và chi phí thấp đã được nghiên cứu và áp dụng thực tiễn tại nhiều phòng thí nghiệm trong việc phát hiện các bệnh gây ra bởi vi khuẩn hay virus. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Ứng dụng kỹ thuật LAMP (Loop-mediated isothermal amplification) trong phát hiện nhanh virus WSSV và IHHNV gây bệnh trên tôm” giúp chẩn đoán nhanh 1 virus gây bệnh đốm trắng (WSSV) và virus gây bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV), đồng thời có thể áp dụng rộng rãi tại tất cả các phòng thí nghiệm cơ bản, cũng như người nuôi tôm có thể thực hiện được tại các trại tôm giống tại địa phương. Mục tiêu đề tài Thực hiện thành công phương pháp LAMP nhằm phát hiện WSSV và IHHNV. Tôi ưu hóa phương pháp LAMP để đạt độ nhạy và độ đặc hiệu tương đương với phương pháp PCR.
Phát hiện được WSSV và IHHNV có trong mẫu bệnh phẩm. Xây dựng được quy trình chẩn đoán dựa trên những thiết bị đơn giản nhất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về thực trạng nghề nuôi tôm ở Việt Nam.
Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam. Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Ngành nuôi tôm nước lợ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ngành thủy sản Việt Nam hơn 10 năm qua. Cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và chuyển đổi đất nông nghiệp, đất làm muối năng suất thấp chuyển sang nuôi tôm ở các tỉnh ven biển, nhờ vậy mà ngành tôm có sự tăng trưởng vượt bậc cả về diện tích, sản lượng và giá trị xuất khẩu.
Năm 2017, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước đạt 721,1 nghìn ha; tăng 3,8% so với năm 2016 trong đó diện tích tôm sú là 622,4 nghìn ha; tăng 3,7% và diện tích tôm chân trắng là 98,7 nghìn ha; tăng 4,7% so với năm 2016 (hình 1. Sản lượng tôm nước lợ năm 2017 đạt 683,4 nghìn tấn, tăng 4% so với năm 2016 trong đó sản lượng tôm sú 256,4 nghìn tấn; giảm 2,8% nhưng sản lượng tôm chân trắng đạt 427 nghìn tấn, tăng 8,5% so với năm 2016 (Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản năm 2017). Tình hình xuất khẩu tôm 5 tháng đầu năm 2017 của nước ta đạt kim ngạch 3,86 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2016 (Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản 2017). Có thể thấy, tôm nước lợ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực hàng đầu của ngành thủy sản Việt Nam với hai sản phẩm chính là tôm Sú và tôm Thẻ chân trắng [44].
3 Tổng diện tích nuôi tôm nước lợ hàng năm 740000 721000 720000 699725 700000 700000 691800 680000 660000 655255 640000 620000 2013 2014 2015 2016 2017 Diện tích nuôi tôm nước lợ (ha) Hình 1. Biểu đồ thống kê diện tích nuôi tôm nước lợ từ năm 2013-2017 (Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản năm 2017). Tổng sản lượng tôm hàng năm từ 2013-2017 800000 661074 683000 700000 650000 596000 600000 516378 500000 400000 300000 200000 100000 0 2103 2104 2015 2016 2017 Tổng sản lượng tôm (Tấn) Hình 1. Biểu đồ thống kê tổng sản lượng tôm nước lợ từ năm 2013-2017 (Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản năm 2017).
Tình hình dịch bệnh trên tôm. Theo thống kê từ cục thủy sản, trong năm 2016 tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại là 66.140,79 ha (tăng 16,99% so với cùng kỳ năm 2015 với tổng diện tích bị thiệt hại là 56.534,91 ha) chiếm 9,66% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước (bảng 1. Trong đó, diện tích nuôi thâm canh, bán thâm canh bị thiệt hại là 18.012,3 ha; diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến là 35.921,06 ha; còn lại các hình thức nuôi khác là 12. Nếu thống kê dựa vào các tác nhân gây bệnh, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại do các bệnh là 10.662,26 ha (giảm 40,54% so với cùng kỳ năm 2015 có tổng diện tích bị bệnh là 17.930,44 ha) chiếm 1,56% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước; không xác định nguyên nhân 13.116,54 ha, còn lại là do biến đổi môi trường, thời tiết là 42.
Trong 6 tháng đầu năm 2017 tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại là 11.430 ha, chiếm 1,89% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước. Trong đó, tổng diện tích tôm nuôi do các tác nhân sinh học gây bệnh là 4. Trong đó, các bệnh trên tôm nuôi bao gồm bệnh đốm trắng chiếm 14%, bệnh hoại tử gan tụy cấp chiếm 14%, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu, còi, phân trắng chiếm 8% trên tổng diện tích bị thiệt hại. Diện tích tôm nuôi bị bệnh không xác định nguyên nhân là 4.745 ha, chiếm 41,5,8%, và do biến đổi môi trường, thời tiết là 2.
Bảng thông kê dịch bệnh trên tôm từ năm 2014-2016 (Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản năm 2016). Năm 2104 2015 2016 Diện tích tôm bị thiệt hại 59.140 ha Diện tích tôm bị thiệt hại do bệnh 31.662 ha 5 Ghi nhận báo cáo dịch bệnh đốm trắng do virus gây bệnh đốm trắng (White spot syndrome virus - WSSV) trong nững năm gần đây, nhờ công tác phòng chống dịch bệnh được đẩy mạnh, nên tổng diện tích tôm bị nhiễm bệnh có dấu hiệu giảm, tuy nhiên diện tích nuôi trồng tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng vẫn còn rất lớn (bảng 1. Thống kê dịch bệnh đốm trắng từ năm 2014-2016 (Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản năm 2016). Năm Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Số tỉnh có dịch 23 23 25 Tổng diện tích bị bệnh (ha) 23.643,91 Mặc dù công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường nên qua những năm gần đây diện tích tôm bị thiệt hại do dịch bệnh có dấu hiệu giảm, tuy nhiên với tình hình nuôi tôm theo hướng công nghiệp hóa và các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng tăng thì những thiệt hại do bệnh trên tôm nuôi do virus gây bệnh đốm trắng (WSSV) còn lớn, đặt ra cho các nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp và nông dân cần phải có những giải pháp cụ thể khác nhau để phòng, trị và giảm dần thiệt hại bệnh do virus gây ra trên tôm.
Virus gây bệnh đốm trắng trên tôm (White spot syndrome virus - WSSV). Năm 1993, virus gây bệnh đốm trắng (White spot syndrome virus - WSSV) lần đầu tiên được phân lập và xác định là tác nhân gây bệnh đốm trắng trên tôm ở Đài Loan. Từ đó, virus này đã được phát hiện phân bố rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, bệnh đốm trắng vẫn là một trong các bệnh thường gặp do virus gây ra và nguy hiểm nhất đối với tôm nuôi hiện nay [4]. Phân loại và cấu tạo virus Virus gây bệnh đốm trắng trên tôm (White spot syndrome virus - WSSV) có dạng hình trứng, hình elipse, hay hình dạng như vi khuẩn bacillus.
Hình dạng virus thường đối xứng, đường kính 60 x 167 nm, có một đuôi phụ White spot syndrome virus [45] ở một đầu, và tổng chiều dài là 210 x 420 nm. Phân loại virus Nhóm: I (DNA bộ gene mạch đôi) Cấu trúc của virus WSSV bao gồm: màng Họ: Nimaviridae bao (envelope) và nucleocapsid chứa vật chất di Giống: Whispovirus truyền. Loài : White spot syndrome virus Màng bao: Màng bao của virus WSSV bao gồm ít nhất 35 protein khác nhau, trong đó VP28 và VP26 là hai protein phổ biến nhất, chiếm khoảng 60% màng bao. VP28, được mã hóa bằng khung đọc mở ORF 421 (wsv421), là protein màng bao chính.
Một số nghiên cứu cho rằng VP28 có vai trò quan trọng trong các bước xâm nhiễm ban đầu của WSSV vào tế bào. VP28 có vai trò như một protein tạo vị trí bám cho virus vào các tế bào tôm, và giúp virus thâm nhập vào tế bào chất [39]. VP26 là một sản phẩm protein được mã hóa bởi gen wsv311, lần đầu tiên được xác định là có liên quan đến nucleocapsid. Sau đó, VP26 được phát hiện có thể được mã hoá bởi một ORF khác là gene p22 do một phân tích so sánh trình tự bộ gene cho thấy gene p22 mã hoá protein có trình tự tương đồng với protein VP26.
Protein VP26 nằm trong khoảng trống giữa màng bao và nucleocapsid, hoạt động như một protein liên kết. VP26 có thể giúp WSSV di chuyển về phía nhân tế bào, nơi có nhiều hoạt đông phiên mã và sao chép diễn ra, bằng cách tương tác với actin hoặc protein liên kết với actin của tế bào [39].