Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan về cá rô phi 1. Phân loại khoa học và nguồn gốc Cá rô phi (Oreochromis spp.) thuộc bộ Perciformes, họ Cichlidae va là tên chung được dùng cho ba chi cá được phân loại dựa trên tập tinh sinh san va nuôi gitr con (Beveridge va McAndrew, 2012) gom: Oreochromis, Sarotherodon va Tilapia; bao gồm hơn 70 loài, trong đó có ít nhất tám loài được đưa vào nuôi (GISD, 2023). Hiện nay, cá rô phi chiếm khoảng 3,5% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu.
Cá rô phi van (Oreochromis niloticus) là loài được nuôi phổ biến nhất (Gupta va Acosta 2004), thịnh hành nhất vào năm 1960 - 1980. Cá rô phi van từ Nhat Ban được du nhập vào Thái Lan năm 1965, và từ Thái Lan, chúng được đưa đến Philippines; được đưa vào Brazil vào năm 1971, và từ Brazil được đưa đến Hoa Kỳ vào năm 1974. Năm 1978, cá rô phi vằn được đưa vào Trung Quốc (FAO, 2009). Ở Việt Nam, cá rô phi sẻ (Oreochromis mossambicus) là loài rô phi đầu tiên được người Pháp mang đến vào năm 1953, đến năm 1973 thì cá rô phi vằn được nhập vào từ Đài Loan và trở thành loài rô phi nuôi chính tại Việt Nam hiện nay (Đỗ Đoàn Hiệp và Lê Đình Xuân, 2006).
Bên cạnh cá rô phi van, cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) cũng là đối tượng nuôi phổ biến ở khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long sau khi được nhập từ Malaysia vào năm 1985 (Phạm Hồng Quân, 2013).2 Đặc điểm sinh học Cá rô phi tăng trưởng tối đa ở nhiệt độ từ 25 đến 30°C (Meyer 2002). Khả năng chịu nhiệt độ nước va độ mặn rất khác nhau giữa các loài. Cá rô phi van (O. niloticus) chịu lạnh kém nhất và thích khí hậu nhiệt đới hơn cận nhiệt đới.
Cá rô phi xanh (O. aureus) có thé chịu được nhiệt độ thấp tới 8-9°C nên có nhiều khả năng sinh sống ở các quốc gia có sự thay đối nhiệt độ theo mùa rõ rệt (Gupta và Acosta, 2004). Cá rô phi là loài ăn tạp, ăn thực vật phù du, thực vật thủy sinh, động vat không xương sống nhỏ, động vật đáy, mảnh vụn và màng vi khuẩn liên quan đến mảnh vụn. Cá nuôi ao thanh thục sinh dục sau 5-6 tháng và sinh sản bắt đầu khi nhiệt độ nước đạt 24°C.
Con cái trưởng thành đẻ trứng trong 6, sau khi được con đực thụ tinh, con cai lập tức thu trứng vào miệng dé ap cho đến khi túi noãn hoàng được hấp thụ (khoảng 1 đến 2 tuần tùy thuộc vào nhiệt độ nước). Số lượng trứng tỷ lệ thuận với trọng lượng cơ thể của con cái và ít hơn so với hầu hết các loài cá nuôi trong ao khác. Nếu quá trình sinh sản không bị kìm hãm (do thời tiết lạnh), con cái có thé sinh sản liên tục. Cá rô phi có thé sống lâu hơn 10 năm và dat trọng lượng trên 5 kg (FAO, 2009).
Tinh hình sản xuất cá rô phi trên thé giới va ở Việt Nam Cá rô phi thích nghĩ tốt với môi trường nuôi nhân tạo, tăng trọng nhanh ở điều kiện tối ưu và sinh sản trong trang trại mà không cần quản lý hoặc cơ sở hạ tầng đặc biệt (Meyer, 2002). Nuôi cá rô phi là loại hình phố biến nhất trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới, với sản lượng khoảng 3,5 triệu tấn và được báo cáo trong ít nhất 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tất cả các châu lục (FAO, 2014). Hơn 90% cá rô phi nuôi được sản xuất ở các nước đang phát triển, chủ yếu ở châu Á với hai loài chính là cá rô phi van (O. niloticus) và cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.
Một số quốc gia có sản lượng nuôi cá rô phi lớn có thê kê đên như: Trung Quoc (quôc gia nuôi trông và chiêm hơn 30% sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2015), Indonesia, Ai Cập, Philippines, Thai Lan và Việt Nam (FAO, 2017). Cá rô phi là một trong 15 loài nuôi thủy san chính trên toàn thế giới cả trong nước ngọt và nước mặn/lợ; sản lượng nuôi nước ngọt toan cầu tăng từ 1.001,5 ngàn tan (2000) lên 4. Việt Nam là nước sản xuất nuôi trồng thủy sản lớn thứ 4 thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Tại Việt Nam, diện tích nuôi cá rô phi ngày càng mở rộng và gia tăng về sản lượng.
Năm 2015, diện tích nuôi cá rô phi khoảng 25.400 ha với sản lượng 182.000 tan sản phẩm (Boerlage va ctv, 2017). Theo quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi định hướng đến năm 2030, cá rô phi được xác định là sản phẩm chủ lực sau tôm nước mặn, lợ và cá tra (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016) với diện tích nuôi cá rô phi cả nước đạt 40.000 ha (tăng 1,6 lần so với năm 2015 là 25.400 ha) và 1,8 triệu m lồng nuôi trên hệ thống sông và hồ chứa lớn; sản lượng đạt 400.000 tan (tăng 2,2 lần so với năm 2015 là 182.000 tan) trong đó 45 - 50% san lượng đủ tiêu chuẩn xuất khâu. Bên cạnh đó, Việt Nam là nước xuất khâu thủy sản lớn thứ ba thế giới ké từ năm 2014 (FAO, 2018 và 2022). Năm 2020, giá trị hàng hóa thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đạt 8,5 tỷ USD, chiếm 5,6% tổng giá trị toàn cau (FAO, 2022).
Thời gian qua, từ một loài cá chủ yếu tiêu thụ nội địa, cá rô phi đã trở thành một trong các đối tượng xuất khâu với số lượng thị trường tăng từ 8 lên 68 nước, chủ yêu gồm Mỹ, Colombia và EU (Boerlage và ctv, 2017). Tống quan về vi khuẩn S. Đặc điểm hình thái, sinh hóa Streptococcus agalactiae (hay liên cầu nhóm B — Group B Streptococcus, GBS) là một loài thuộc chi Streptococcus, lần đầu tiên được phân biệt với các liên cầu khuẩn khác bởi Lancefield (1933) sau khi được phân lập từ sữa và bò bị viêm vú. Đây là một loại vi khuân Gram đương, có dạng hình cầu hoặc hình trứng với kích thước đường kính từ 0,5 đến 2,0 um, không di động, không sinh nha bao, ky khí tùy tiện, âm tính với oxidase và catalase (Amal và Zamri-Saad, 201 1).
agalactiae (Nguồn: https://www.gov/streplab/groupb-strep/index. Triệu chứng lam sang va bệnh tích Vi khuan S. agalactiae được truyền từ cá bệnh sang cá khỏe thông qua con đường hấp thụ lại qua đường miệng phân có chứa vi khuẩn được cá bệnh thải ra môi trường (Amal và Zamri-Saad, 2011) hoặc tiếp xúc trực tiếp với cá bệnh hoặc cá chết, cũng như tiếp xúc gián tiếp qua nước trong các hệ thống nuôi (Boerlage và ctv, 2017). Bệnh liên cầu khuẩn ở cá do S.
agalactiae gây ra có đặc điểm là nhiễm trùng huyết và viêm mang não (Mian và ctv, 2009). Khi cá bị nhiễm vi khuẩn S. agalactiae sẽ xuất hiện một số dấu hiệu như: cơ thể sam mau, giảm ăn, khả năng bắt môi kém, phản ứng chậm với tiếng động, boi mat phương hướng, bất thường (xoắn ốc, xoay vòng) và tập trung trên mặt nước, tuy nhiên không phải tất cả cá bị nhiễm bệnh đều có biểu hiện bất thường (Yanong, 2002); mắt lồi, đục và xuất huyết, những trường hợp bệnh nặng mắt có thể bị rơi ra khỏi hốc mắt, bên trong có chứa dịch màu vàng; xuất huyết trên thân hoặc ở gốc vây, xương nắp mang; các nội quan gan, thận và tỳ tạng sưng to, mềm nhũng và xuất huyết; bụng trương to (Musa và ctv, 2009). san sinh các loại enzyme ngoại bao (fibrinolysin, hyaluronidase, DNase,.) và các độc tố ngoại bao (streptolysine O, streptolysine S,.) giúp vi khuân xâm nhập vao hệ thống máu va các cơ quan bên trong cơ thé.
Trên bề mặt Streptococcus spp. tồn tại chất gọi là protein M liên quan đến sự dé kháng quá trình thực bao của bạch cầu trung tính (Phạm Hồng Sơn, 2008). Ở giai đoạn cấp tính, vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống máu và tất cả các cơ quan nội tạng (Chang và Plumb, 1996), do đó khi tiến hành mồ cá bệnh sẽ thấy bên trong cơ thể xuất hiện nhiều vùng bị hoại tử, tỳ tạng tăng lên về thể tích, gan nhạt, xuất huyết não (Wanman và ctv, 2005). Trên cá rô phi van nhiễm S.
agalactiae mãn tính, quan sát trong phần cơ nằm sát phần xương sống thấy có sự xuất hiện của các khối u (màu vàng nâu hoặc màu đỏ sam) (Siti-Zahrah và ctv, 2004). Phân nhóm và độc lực của vi khuẩn S. Phần nhóm Phương pháp phân tích kiểu hình (kiểu huyết thanh, serotype) bằng cách dựa vào cấu trúc lớp vỏ capsular polysaccharide (CPS) được dùng dé phân nhóm va đánh giá độc lực của vi khuẩn S. Cho đến nay, vi khuẩn S.
agalactiae có tổng số 10 kiểu huyết thanh được công nhận gồm Ia, Ib và II đến IX (Delannoy và ctv, 2021), mỗi kiểu huyết thanh có đặc tính độc lực khác nhau (Imperi và ctv, 2010). Trên động vật thủy sản, hiện có 6 kiểu huyết thanh được xác định gồm: Ia, Ib, II, II, IX (Zhang va ctv, 2018) và IV (Delannoy và ctv, 2021); trong đó các kiểu Ia, Ib, II và III là phố biến nhất trong nhiễm trùng trên cá rô phi (Zhang, 2021) và kiêu huyết thanh IX có khả năng trở thành một chủng truyền nhiễm chính đối với cá rô phi (Zhang, 2018). Bên cạnh đó, vi khuẩn S. agalactiae còn có thé phân nhóm theo kiểu gen (sequence types, ST, kiểu trình tự gen), bằng cách xác định phân loại nhỏ hơn đưới loài bằng giải trình tự gen đa điểm (multi-locus sequence typing, MLST) (Kannika và ctv, 2017).349 loại trình tự trên toàn thế giới (PubMLST, 2019) nhưng các ST được tìm thấy từ S.
agalactiae được phân lập từ cá chỉ bao gồm sáu loại: ST7, ST260, ST261, ST283, ST491 và ST500 (Delannoy và ctv, 2013; Kayansamruaj và ctv, 2019). Cho đến nay, các chủng phân lập được từ cá luôn được phát hiện thuộc về ba phức hợp chủng riêng biệt (clonal complex, CC), mỗi phức hợp còn liên kết với một kiêu huyết thanh khác nhau, gồm CC7 với kiểu huyết thanh Ia (CC7/Ia), CC283 với kiểu huyết thanh II (CC283/II) và CC552 với kiểu huyết thanh Ib 10 (CC552/Ib) (Delannoy va ctv, 2021). Chung có kiểu huyết thanh Ia (thuộc CC7) có thể được tìm thấy ở cá và ếch, với phạm vi phân bố từ Tây Châu Á đến Đông Nam A và Trung Quốc; trong khi đó chủng có kiểu huyết thanh Ib (thuộc CC552) cũng được tìm thấy ở cá và ếch nhưng phân bồ rộng rãi trên toàn cầu và xuất hiện ở châu Mỹ, Châu Phi, Trung Đông, Châu Âu và Úc. Kiểu huyết thanh III là duy nhất liên quan đến CC283, tìm thấy cả ở người và các loài biến nhiệt, chủ yếu xảy ra ở Đông Nam Á (Phuoc và ctv, 2021).
Ngoài ra, năm 2021, Delannoy và ctv đã ghi nhận nhiều đợt bùng phát bệnh do S. agalactiae CC2/IV ở cá rô phi nuôi tại Bắc Phi.