CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1. Giới thiệu sơ lược về sâu khoang (Spodoptera litura). Theo Feaking và Franz, (1977) sâu khoang là loài có phổ ký chủ rộng phân bố ở vùng Châu Á, Châu Úc và cả những quần đảo thuộc biển Thái Bình Dương.
Đây là loài côn trùng gây hại quan trọng trong nông nghiệp vùng nhiệt đới. Ở vùng Đông Nam Á, sâu khoang được xác định là loài gây hại quan trọng nhất, chúng xuất hiện nhiều ở Malaysia và Việt Nam. Đây là loài đa thực, ước tính phá hoại trên 290 loại cây của 90 họ thực vật. Ở nước chúng ta gây hại quan trọng trên các loại rau thập tự, cà chua, rau muống, đậu đũa, bầu bí.
Đặc điểm sinh học, hình thái của sâu khoang. Họ: Noctuidae Bộ: Lepidoptera Tên khoa học: Spodoptera litura Giai đoạn trứng: trứng được đẻ thành ổ có hình bán cầu, đường kính 0,4 - 0,5 mm. Ổ trứng có phủ lớp lông màu vàng từ bụng bướm mẹ. Trứng xếp với nhau thành ổ có lông màu vàng phủ bên ngoài (Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đáy trứng (36 – 39 đường) cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo nên những ô nhỏ. Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. Thời gian ủ trứng từ 4 – 7 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Giai đoạn phát triển của ấu trùng (Lava): kéo dài khoảng 9 – 14 ngày.
Sâu có 5 hoặc 6 tuổi tùy vào điều kiện môi trường, nếu điều kiện thuận lợi sâu có thể dài từ 35 – 53 mm. Sâu non mới nở có màu xanh sáng, dài khoảng 1mm, đầu màu đen, di chuyển như sâu đo, càng về sau màu sắc càng thay đổi và chuyển sang màu đen; trên cơ thể có một sọc vàng chạy ở 2 bên hông, từ đốt thứ nhất tới đốt cuối của bụng, dọc đường đó có những điểm hình bán nguyệt từ đốt thứ nhất đến đốt thứ 8 của bụng, mỗi đốt có chấm đen nhỏ nhưng 2 chấm đen ở đốt thứ nhất là rõ nét nhất. Sâu càng lớn thì 2 chấm đen càng lớn, thể hiện càng rõ và gần như giao nhau tạo thành khoang đen trên lưng, do đó chúng còn được gọi là sâu khoang. 3 Đồ án tốt nghiệp Giai đoạn nhộng: kéo dài 7 – 10 ngày, nhộng có kích thước dài từ 18 – 20 mm, có màu xanh nõn chuối, rất mềm ngay khi mới được hình thành, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh, cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ.
Khi sắp vũ hóa, nhộng có màu nâu đen, các đốt cuối của nhộng có thể cử động được. Mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh mép trước đốt bụng thứ 5 – 7 có nhiều chấm lõm, cuối bụng có một đôi gai ngắn. Giai đoạn trưởng thành: trưởng thành có chiều dài thân 20 - 25 mm, sải cánh rộng từ 35 – 45 mm. Cánh trước màu nâu vàng, phần giữa từ cạnh trước cánh tới cạnh sau cánh có một vân ngang rộng màu trắng.
Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh, khi đậu cánh xếp thành hình mái nhà, vân trắng thu lại giống hình chữ “ V ”. Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tuỳ điều kiện thức ăn. Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900 - 2000 trứng.
Thời gian đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5 - 7 ngày đôi khi 10 - 12 ngày. Bướm thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau của lá hoặc trong các bụi cỏ. Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm, có thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6 - 7 mét. Sau khi vũ hoá vài giờ, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đẻ trứng.
Bướm cái có màu nâu nhạt hơn bướm đực, con cái thường to hơn và phần bụng cũng to hơn trong khi con đực nhỏ hơn và phần bụng cũng hẹp hơn. 4 Đồ án tốt nghiệp Hình 1. Vòng đời sâu khoang ( Spodoptera litura). Tác hại Sâu mới nở gặm vỏ trứng và sống tập trung 1 - 2 ngày, nếu bị động sâu bò phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất.
Sâu tuổi 1 - 2 thường sống tập trung, ăn hết thịt lá, chừa lại biểu bì và gân. Ở tuổi 3 – 4, sâu phân tán và ăn phá mạnh, cắn thủng lá và gân lá. Ở tuổi 4 - 5, sâu có khả năng phá hại mạnh, ăn những mảng lá lớn, chừa lại gân chính, đôi khi chừa lại cuống lá. Có phản ứng với ánh sáng rất mạnh.
Khi thiếu thức ăn, sâu còn tập quán ăn thịt lẫn nhau. Tuổi 6 sâu hoạt động ít, ăn ít, cơ thể ngắn lại. Cuối tuổi 6 sâu không ăn, chui xuống đất, hóa nhộng, đôi khi hóa nhộng trong lá khô hoặc tàn dư thực vật. Sâu khoang phá nhiều loại cây nên có mặt quanh năm trên đồng ruộng.
Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nắp. Chiều mát sâu bắt đầu hoạt động trở lại và phá hại suốt đêm. Sâu khoang gây hại trên nhiều loại cây trồng như: cây họ đậu, họ cải, khoai tây, các cây công nghiệp như cây bông,… và thường gây hại vào đầu vụ (Phạm Thị Thùy Dương, 2012). Biện pháp phòng trừ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng trước và sau khi trồng, cày ải phơi đất.
Đất trước khi trồng cần phải được cày, phơi và xử lý thuốc trừ sâu hoặc cho ruộng ngập nước 2 - 3 ngày để diệt nhộng, sâu non có trong đất. Phải thường xuyên đi thăm ruộng để kịp thời phát hiện sâu, ngắt bỏ ổ trứng hoặc tiêu diệt sâu non mới nở khi chưa phân tán đi xa. Biện pháp cơ giới vật lý: Diệt ổ trứng và sâu non bằng tay. Dùng bẫy đèn để bắt trưởng thành.
Biện pháp sinh học: Sâu khoang thường bị 4 nhóm ký sinh sau: côn trùng ký sinh (Ong thuộc họ Braconidae và ruồi thuộc họ Tachinidae), nấm ký sinh (Beauveria sp. và Nomurea sp.), NPV, vi khuẩn Bt. Dùng bẫy pheromone hoặc bả chua ngọt để thu hút bướm khi chúng phát triển rộ. Bả chua ngọt gồm: 4 phần giấm + 1 phần mật + 1 phần rượu + 1 phần nước.
Sau đó, đem bả mồi vào chậu rồi đặt ở ngoài ruộng vào buổi tối nơi thoáng gió có độ cao 1 mét so với mặt đất. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc Decis, Sherpa theo chỉ dẫn; Atabron được dùng làm nền phối hợp với các loại thuốc còn lại hoặc với các loại thuốc Cúc tổng hợp sẽ cho hiệu quả phòng trị rất tốt. Sâu ăn tạp cũng rất dễ kháng thuốc, nên luân phiên nhiều loại thuốc để phun. Giới thiệu về virus NPV gây bệnh côn trùng NPV thuộc nhóm Baculovirus, họ Baculoviridae, nên nó mang những đặc điểm cấu tạo đặc trưng của họ này.
Hình thái: NPV có cấu trúc hình học, 5 - 6 đến 20 cạnh với nhiều nhóm virus khác nhau. Các axit nucleic (ADN, ARN) gồm dạng sợi đơn và sợi đôi. 6 Đồ án tốt nghiệp 7 Đồ án tốt nghiệp 1. Cấu trúc Theo Phạm Thị Thùy (2004), virus thuộc nhóm này có dạng hình que, kích thước từ 40 - 70 nm x 250 - 400 nm, bên ngoài là một lớp vỏ có cấu tạo từ GP6 4 Vỏ ngoài Thể vùi từ màng DNA virus tế bào vật Vỏ bọc chủ Nuleocapsid ngoài virion e Vỏ bọc calyx của polyhedra Virus nảy chồi Virus nằm trong cấu trúc polyhedra Hình 1.
Cấu trúc của thể vùi (Kalmakoff et al, 2003). lipoprotein bao quanh một lớp protein nằm trong lõi DNA (Nucleocapsid), trong có chứa các virion, các virion bao gồm 11 - 25 polypeptide. Trong số polypeptide đó thì có khoảng 4 - 11 polypeptide được kết hợp với nucleocapsid và số polypeptide còn lại kết hợp với capside. DNA ở dạng sợi vòng gồm hai sợi, với trọng lượng phân tử từ 50 - 10 x 106 các virion được bao quanh bởi một tinh thể protein và được gọi là thể vùi.
Kelly (1985) cho rằng, virus có dạng hình que có một hoặc nhiều nucleocapsid được bao bọc bởi một lớp vỏ, nucleocapsid là một phức hợp gồm DNA và protein (gọi tắc là Deoxyribo Nucleo Protein - DNP) và chúng cũng được bao quanh bởi một lớp vỏ capsid (bên trong lớp vỏ capsid này chỉ có một hoặc nhiều nucleocapsid), nếu là một nucleocapsid thì gọi là NPVs Nucleocapsid đơn - Single Nucleocapsid (NPV - SNPV); nếu có nhiều nucleocapsid trong vỏ capsid thì gọi là NPVs Nucleocapsid - Multiple 8 Đồ án tốt nghiệp Phân tử DNA gồm hai sợi có dạng vòng, dài khoảng 40 µm (Burgess, S. Mỗi nucleocapsid chỉ chứa một phân tử DNA, phân tử DNA có chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều dài nucleocapsid (Skuratovskaya et al, 1977). Cấu tạo deoxyribo nucleo protein (DNP): Theo kết quả nghiên cứu của Bud, H.M et al (1977) DNP được tạo thành do sự kết hợp giữa DNA và protein, sự kết hợp này không đồng nhất. Đường kính DNP đo được 32 nm.
DNP ở trong capsid được sắp xếp chắc chắn, gọn gàng. Cấu tạo của nucleocapsid: nucleocapsid có dạng hình que, dáng hơi cong, đường kính 40 nm, dài 350 nm, có màng bọc bên ngoài (capsid). Nucleocapsid bao gồm hai loại protein, đó là một lõi DNP protein và màng capsid protein và từ 3 - 8 polypeptid nhỏ (Summer, M. Cấu tạo của thể virus: thể virus hình gậy gồm các nucleocapsid được bao bọc, mỗi vỏ bao có thể có một hoặc nhiều nucleocapsid, có loại có tới 30 nucleocapsid.
Lớp vỏ bao gồm có lipid, trong vỏ còn có 8 - 10 polypeptid (Harrap, K. Cấu tạo của khối đa diện (polyhedra): Theo Crook, N. et al (1982) thì polyhedra là những khối kết tinh lớn, kích thước từ 1 - 4 µm, có dạng hình vuông hoặc gần như hình cầu, bên trong có chứa nhiều hạt virus, có khi lên tới 100 hạt, bao quanh các virus đó là mạng lưới kết tinh hình mắt cáo. Polyhedra còn bao gồm nhiều polypeptide.
Protein polyhedron có trọng lượng phân tử thay đổi từ 27.000 million , phụ thuộc vào loại virus (Bergold, G. Polyhedra có đặc điểm là ổn định ở pH trung tính. pH kiềm 9,5 trở lên sẽ làm nó bị hòa tan (Faust, R. et al (1979) còn cho biết polyhedra hoàn thiện được một lớp vỏ có hình thái riêng biệt vây quanh, chức năng của lớp vỏ này chưa được xác định.
Bệnh lý Khi sâu mới nhiễm bệnh NPV, chromatin tụ tập và các hạt rất nhỏ chuyển động mạnh ở vùng quanh nhân, gọi là propolyhedra có đường kính 0.4 µm, đó là những hạt trong giai đoạn tiền phát triển của polyhedra.