Đồ án tốt nghiệp lựa chọn thức ăn để nhân nuôi sâu khoang spodoptera litura phục vụ sản xuất nuclear polyhedrosis virus

Khám phá đồ án tốt nghiệp về lựa chọn thức ăn cho sâu khoang Spodoptera litura nhằm sản xuất virus polyhedrosis hạt nhân hiệu quả.

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2015

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu sơ lược về sâu khoang (Spodoptera litura)

1.2. Đặc điểm sinh học, hình thái của sâu khoang

1.3. Biện pháp phòng trừ

1.4. Giới thiệu về virus NPV gây bệnh côn trùng

1.5. Cơ chế gây bệnh của virus diệt côn trùng

1.6. Triệu chứng của bệnh virus trên sâu khoang

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của virus và các hạn chế khi sử dụng chế phẩm virus

1.8. Ưu và nhược điểm của việc sử dụng chế phẩm NPV trong phòng trừ dịch hại

1.9. Nghiên cứu sử dụng thức ăn nhân tạo để nuôi sâu khoang Spodoptera litura

1.9.1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

1.9.2. Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Nội dung nghiên cứu

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu

2.1.3. Phương pháp nuôi sâu

2.1.4. Quy trình vệ sinh

2.2. Chỉ tiêu theo dõi

2.3. Ảnh hưởng của một số công thức thức ăn nhân tạo đến sự sinh trưởng của sâu khoang

2.3.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến kích thước của sâu

2.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến trọng lượng sâu khoang

2.3.3. Ảnh hưởng của các loại thức ăn nhân tạo đến khả năng sống sót của sâu khoang

2.3.4. Ảnh hưởng của các loại thức ăn nhân tạo đến khả năng sinh sản của bướm

2.3.5. Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sản xuất NPV sâu khoang

3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về sâu khoang Spodoptera litura

Sâu khoang Spodoptera litura là một loài côn trùng gây hại nghiêm trọng trong nông nghiệp, đặc biệt ở vùng nhiệt đới. Loài này có phổ ký chủ rộng, gây hại trên hơn 290 loại cây thuộc 90 họ thực vật. Spodoptera litura phân bố chủ yếu ở Châu Á, Châu Úc và các quần đảo Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, chúng gây hại trên các loại cây trồng như rau thập tự, cà chua, rau muống, đậu đũa và bầu bí. Đặc điểm sinh học của sâu khoang bao gồm các giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Sâu non có khả năng phá hoại mạnh, đặc biệt ở tuổi 3-5, khi chúng ăn lá và gân lá, gây thiệt hại lớn cho cây trồng.

1.1 Đặc điểm sinh học và hình thái

Sâu khoang Spodoptera litura có vòng đời gồm 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Trứng được đẻ thành ổ, có hình bán cầu và được phủ lớp lông màu vàng. Ấu trùng có 5-6 tuổi, dài từ 35-53 mm, với màu sắc thay đổi từ xanh sáng đến đen. Nhộng có màu nâu đỏ, dài 18-20 mm. Trưởng thành là bướm có sải cánh rộng 35-45 mm, hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Sâu khoang có khả năng sinh sản cao, với mỗi bướm cái có thể đẻ từ 300-2000 trứng tùy điều kiện môi trường.

1.2 Tác hại của sâu khoang

Sâu khoang Spodoptera litura gây hại trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây họ đậu, họ cải và cây công nghiệp. Sâu non ăn lá, gân lá và có thể ăn thịt lẫn nhau khi thiếu thức ăn. Chúng hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp. Sâu khoang còn có khả năng kháng thuốc hóa học, làm tăng chi phí phòng trừ và gây ô nhiễm môi trường.

II. Biện pháp phòng trừ sâu khoang

Để phòng trừ sâu khoang Spodoptera litura, các biện pháp canh tác, cơ giới, sinh học và hóa học được áp dụng. Biện pháp canh tác bao gồm vệ sinh đồng ruộng, cày ải phơi đất và ngắt bỏ ổ trứng. Biện pháp cơ giới sử dụng bẫy đèn để bắt trưởng thành. Biện pháp sinh học sử dụng thiên địch như ong ký sinh, nấm ký sinh và virus Nuclear Polyhedrosis Virus (NPV). Biện pháp hóa học sử dụng thuốc trừ sâu như Decis và Sherpa, nhưng cần luân phiên để tránh kháng thuốc.

2.1 Biện pháp sinh học

Biện pháp sinh học sử dụng Nuclear Polyhedrosis Virus (NPV) là một giải pháp hiệu quả để phòng trừ sâu khoang. NPV là một loại virus gây bệnh trên côn trùng, đặc biệt là sâu khoang. Khi sâu ăn phải thức ăn nhiễm NPV, virus sẽ xâm nhập vào cơ thể, gây chết sâu trong vòng 3-5 ngày. NPV không gây hại cho con người và môi trường, là một biện pháp an toàn và bền vững.

2.2 Biện pháp hóa học

Biện pháp hóa học sử dụng thuốc trừ sâu như Decis và Sherpa để diệt sâu khoang. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hóa học cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh gây kháng thuốc và ô nhiễm môi trường. Luân phiên các loại thuốc trừ sâu là cần thiết để duy trì hiệu quả phòng trừ.

III. Sản xuất Nuclear Polyhedrosis Virus NPV

Nuclear Polyhedrosis Virus (NPV) là một loại virus gây bệnh trên côn trùng, đặc biệt là sâu khoang Spodoptera litura. Quá trình sản xuất NPV bao gồm việc nhân nuôi sâu khoang trong điều kiện nhân tạo và nhiễm virus vào cơ thể sâu. Sâu khoang được nuôi bằng các loại thức ăn nhân tạo để đảm bảo sức khỏe và đồng đều. Sau khi nhiễm virus, sâu sẽ chết và NPV được thu hoạch từ cơ thể sâu. NPV sau đó được sử dụng làm chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu khoang.

3.1 Thức ăn nhân tạo cho sâu khoang

Thức ăn nhân tạo là yếu tố quan trọng trong quá trình nhân nuôi sâu khoang Spodoptera litura. Các công thức thức ăn nhân tạo được nghiên cứu để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của sâu. Các thành phần chính của thức ăn nhân tạo bao gồm đậu xanh, casein, đậu nành và mầm lúa mì. Thức ăn nhân tạo cần đảm bảo dinh dưỡng và giá thành hợp lý để sản xuất NPV hiệu quả.

3.2 Quy trình sản xuất NPV

Quy trình sản xuất NPV bao gồm các bước: nhân nuôi sâu khoang, nhiễm virus, thu hoạch và tinh chế NPV. Sâu khoang được nuôi trong điều kiện nhân tạo, sau đó được nhiễm NPV qua thức ăn. Sâu chết sau 3-5 ngày và NPV được thu hoạch từ cơ thể sâu. NPV sau đó được tinh chế và sử dụng làm chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu khoang.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1. Giới thiệu sơ lược về sâu khoang (Spodoptera litura). Theo Feaking và Franz, (1977) sâu khoang là loài có phổ ký chủ rộng phân bố ở vùng Châu Á, Châu Úc và cả những quần đảo thuộc biển Thái Bình Dương.

Đây là loài côn trùng gây hại quan trọng trong nông nghiệp vùng nhiệt đới. Ở vùng Đông Nam Á, sâu khoang được xác định là loài gây hại quan trọng nhất, chúng xuất hiện nhiều ở Malaysia và Việt Nam. Đây là loài đa thực, ước tính phá hoại trên 290 loại cây của 90 họ thực vật. Ở nước chúng ta gây hại quan trọng trên các loại rau thập tự, cà chua, rau muống, đậu đũa, bầu bí.

Đặc điểm sinh học, hình thái của sâu khoang. Họ: Noctuidae Bộ: Lepidoptera Tên khoa học: Spodoptera litura Giai đoạn trứng: trứng được đẻ thành ổ có hình bán cầu, đường kính 0,4 - 0,5 mm. Ổ trứng có phủ lớp lông màu vàng từ bụng bướm mẹ. Trứng xếp với nhau thành ổ có lông màu vàng phủ bên ngoài (Nguyễn Đức Khiêm, 2006).

Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đáy trứng (36 – 39 đường) cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo nên những ô nhỏ. Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. Thời gian ủ trứng từ 4 – 7 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Giai đoạn phát triển của ấu trùng (Lava): kéo dài khoảng 9 – 14 ngày.

Sâu có 5 hoặc 6 tuổi tùy vào điều kiện môi trường, nếu điều kiện thuận lợi sâu có thể dài từ 35 – 53 mm. Sâu non mới nở có màu xanh sáng, dài khoảng 1mm, đầu màu đen, di chuyển như sâu đo, càng về sau màu sắc càng thay đổi và chuyển sang màu đen; trên cơ thể có một sọc vàng chạy ở 2 bên hông, từ đốt thứ nhất tới đốt cuối của bụng, dọc đường đó có những điểm hình bán nguyệt từ đốt thứ nhất đến đốt thứ 8 của bụng, mỗi đốt có chấm đen nhỏ nhưng 2 chấm đen ở đốt thứ nhất là rõ nét nhất. Sâu càng lớn thì 2 chấm đen càng lớn, thể hiện càng rõ và gần như giao nhau tạo thành khoang đen trên lưng, do đó chúng còn được gọi là sâu khoang. 3 Đồ án tốt nghiệp Giai đoạn nhộng: kéo dài 7 – 10 ngày, nhộng có kích thước dài từ 18 – 20 mm, có màu xanh nõn chuối, rất mềm ngay khi mới được hình thành, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh, cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ.

Khi sắp vũ hóa, nhộng có màu nâu đen, các đốt cuối của nhộng có thể cử động được. Mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh mép trước đốt bụng thứ 5 – 7 có nhiều chấm lõm, cuối bụng có một đôi gai ngắn. Giai đoạn trưởng thành: trưởng thành có chiều dài thân 20 - 25 mm, sải cánh rộng từ 35 – 45 mm. Cánh trước màu nâu vàng, phần giữa từ cạnh trước cánh tới cạnh sau cánh có một vân ngang rộng màu trắng.

Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh, khi đậu cánh xếp thành hình mái nhà, vân trắng thu lại giống hình chữ “ V ”. Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tuỳ điều kiện thức ăn. Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900 - 2000 trứng.

Thời gian đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5 - 7 ngày đôi khi 10 - 12 ngày. Bướm thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau của lá hoặc trong các bụi cỏ. Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm, có thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6 - 7 mét. Sau khi vũ hoá vài giờ, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đẻ trứng.

Bướm cái có màu nâu nhạt hơn bướm đực, con cái thường to hơn và phần bụng cũng to hơn trong khi con đực nhỏ hơn và phần bụng cũng hẹp hơn. 4 Đồ án tốt nghiệp Hình 1. Vòng đời sâu khoang ( Spodoptera litura). Tác hại Sâu mới nở gặm vỏ trứng và sống tập trung 1 - 2 ngày, nếu bị động sâu bò phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất.

Sâu tuổi 1 - 2 thường sống tập trung, ăn hết thịt lá, chừa lại biểu bì và gân. Ở tuổi 3 – 4, sâu phân tán và ăn phá mạnh, cắn thủng lá và gân lá. Ở tuổi 4 - 5, sâu có khả năng phá hại mạnh, ăn những mảng lá lớn, chừa lại gân chính, đôi khi chừa lại cuống lá. Có phản ứng với ánh sáng rất mạnh.

Khi thiếu thức ăn, sâu còn tập quán ăn thịt lẫn nhau. Tuổi 6 sâu hoạt động ít, ăn ít, cơ thể ngắn lại. Cuối tuổi 6 sâu không ăn, chui xuống đất, hóa nhộng, đôi khi hóa nhộng trong lá khô hoặc tàn dư thực vật. Sâu khoang phá nhiều loại cây nên có mặt quanh năm trên đồng ruộng.

Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nắp. Chiều mát sâu bắt đầu hoạt động trở lại và phá hại suốt đêm. Sâu khoang gây hại trên nhiều loại cây trồng như: cây họ đậu, họ cải, khoai tây, các cây công nghiệp như cây bông,… và thường gây hại vào đầu vụ (Phạm Thị Thùy Dương, 2012). Biện pháp phòng trừ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng trước và sau khi trồng, cày ải phơi đất.

Đất trước khi trồng cần phải được cày, phơi và xử lý thuốc trừ sâu hoặc cho ruộng ngập nước 2 - 3 ngày để diệt nhộng, sâu non có trong đất. Phải thường xuyên đi thăm ruộng để kịp thời phát hiện sâu, ngắt bỏ ổ trứng hoặc tiêu diệt sâu non mới nở khi chưa phân tán đi xa. Biện pháp cơ giới vật lý: Diệt ổ trứng và sâu non bằng tay. Dùng bẫy đèn để bắt trưởng thành.

Biện pháp sinh học: Sâu khoang thường bị 4 nhóm ký sinh sau: côn trùng ký sinh (Ong thuộc họ Braconidae và ruồi thuộc họ Tachinidae), nấm ký sinh (Beauveria sp. và Nomurea sp.), NPV, vi khuẩn Bt. Dùng bẫy pheromone hoặc bả chua ngọt để thu hút bướm khi chúng phát triển rộ. Bả chua ngọt gồm: 4 phần giấm + 1 phần mật + 1 phần rượu + 1 phần nước.

Sau đó, đem bả mồi vào chậu rồi đặt ở ngoài ruộng vào buổi tối nơi thoáng gió có độ cao 1 mét so với mặt đất. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc Decis, Sherpa theo chỉ dẫn; Atabron được dùng làm nền phối hợp với các loại thuốc còn lại hoặc với các loại thuốc Cúc tổng hợp sẽ cho hiệu quả phòng trị rất tốt. Sâu ăn tạp cũng rất dễ kháng thuốc, nên luân phiên nhiều loại thuốc để phun. Giới thiệu về virus NPV gây bệnh côn trùng NPV thuộc nhóm Baculovirus, họ Baculoviridae, nên nó mang những đặc điểm cấu tạo đặc trưng của họ này.

Hình thái: NPV có cấu trúc hình học, 5 - 6 đến 20 cạnh với nhiều nhóm virus khác nhau. Các axit nucleic (ADN, ARN) gồm dạng sợi đơn và sợi đôi. 6 Đồ án tốt nghiệp 7 Đồ án tốt nghiệp 1. Cấu trúc Theo Phạm Thị Thùy (2004), virus thuộc nhóm này có dạng hình que, kích thước từ 40 - 70 nm x 250 - 400 nm, bên ngoài là một lớp vỏ có cấu tạo từ GP6 4 Vỏ ngoài Thể vùi từ màng DNA virus tế bào vật Vỏ bọc chủ Nuleocapsid ngoài virion e Vỏ bọc calyx của polyhedra Virus nảy chồi Virus nằm trong cấu trúc polyhedra Hình 1.

Cấu trúc của thể vùi (Kalmakoff et al, 2003). lipoprotein bao quanh một lớp protein nằm trong lõi DNA (Nucleocapsid), trong có chứa các virion, các virion bao gồm 11 - 25 polypeptide. Trong số polypeptide đó thì có khoảng 4 - 11 polypeptide được kết hợp với nucleocapsid và số polypeptide còn lại kết hợp với capside. DNA ở dạng sợi vòng gồm hai sợi, với trọng lượng phân tử từ 50 - 10 x 106 các virion được bao quanh bởi một tinh thể protein và được gọi là thể vùi.

Kelly (1985) cho rằng, virus có dạng hình que có một hoặc nhiều nucleocapsid được bao bọc bởi một lớp vỏ, nucleocapsid là một phức hợp gồm DNA và protein (gọi tắc là Deoxyribo Nucleo Protein - DNP) và chúng cũng được bao quanh bởi một lớp vỏ capsid (bên trong lớp vỏ capsid này chỉ có một hoặc nhiều nucleocapsid), nếu là một nucleocapsid thì gọi là NPVs Nucleocapsid đơn - Single Nucleocapsid (NPV - SNPV); nếu có nhiều nucleocapsid trong vỏ capsid thì gọi là NPVs Nucleocapsid - Multiple 8 Đồ án tốt nghiệp Phân tử DNA gồm hai sợi có dạng vòng, dài khoảng 40 µm (Burgess, S. Mỗi nucleocapsid chỉ chứa một phân tử DNA, phân tử DNA có chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều dài nucleocapsid (Skuratovskaya et al, 1977). Cấu tạo deoxyribo nucleo protein (DNP): Theo kết quả nghiên cứu của Bud, H.M et al (1977) DNP được tạo thành do sự kết hợp giữa DNA và protein, sự kết hợp này không đồng nhất. Đường kính DNP đo được 32 nm.

DNP ở trong capsid được sắp xếp chắc chắn, gọn gàng. Cấu tạo của nucleocapsid: nucleocapsid có dạng hình que, dáng hơi cong, đường kính 40 nm, dài 350 nm, có màng bọc bên ngoài (capsid). Nucleocapsid bao gồm hai loại protein, đó là một lõi DNP protein và màng capsid protein và từ 3 - 8 polypeptid nhỏ (Summer, M. Cấu tạo của thể virus: thể virus hình gậy gồm các nucleocapsid được bao bọc, mỗi vỏ bao có thể có một hoặc nhiều nucleocapsid, có loại có tới 30 nucleocapsid.

Lớp vỏ bao gồm có lipid, trong vỏ còn có 8 - 10 polypeptid (Harrap, K. Cấu tạo của khối đa diện (polyhedra): Theo Crook, N. et al (1982) thì polyhedra là những khối kết tinh lớn, kích thước từ 1 - 4 µm, có dạng hình vuông hoặc gần như hình cầu, bên trong có chứa nhiều hạt virus, có khi lên tới 100 hạt, bao quanh các virus đó là mạng lưới kết tinh hình mắt cáo. Polyhedra còn bao gồm nhiều polypeptide.

Protein polyhedron có trọng lượng phân tử thay đổi từ 27.000 million , phụ thuộc vào loại virus (Bergold, G. Polyhedra có đặc điểm là ổn định ở pH trung tính. pH kiềm 9,5 trở lên sẽ làm nó bị hòa tan (Faust, R. et al (1979) còn cho biết polyhedra hoàn thiện được một lớp vỏ có hình thái riêng biệt vây quanh, chức năng của lớp vỏ này chưa được xác định.

Bệnh lý Khi sâu mới nhiễm bệnh NPV, chromatin tụ tập và các hạt rất nhỏ chuyển động mạnh ở vùng quanh nhân, gọi là propolyhedra có đường kính 0.4 µm, đó là những hạt trong giai đoạn tiền phát triển của polyhedra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Cách lựa chọn thức ăn nhân nuôi sâu khoang Spodoptera litura để sản xuất Nuclear Polyhedrosis Virus" cung cấp những thông tin quan trọng về việc lựa chọn thức ăn phù hợp cho việc nuôi sâu khoang Spodoptera litura, một loài sâu bướm có vai trò quan trọng trong sản xuất virus polyhedrosis hạt nhân. Bài viết nhấn mạnh các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn thức ăn, từ thành phần dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng của sâu, nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất virus. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ cách thức nuôi dưỡng và quản lý sâu, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến công nghệ sinh học và ứng dụng trong nông nghiệp, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học chuyển gen tổng hợp astaxanthin vào giống đậu tương thông qua vi khuẩn agrobacterium tumefaciens", nơi bạn sẽ khám phá cách chuyển gen có thể cải thiện năng suất cây trồng. Ngoài ra, bài viết "Luận án nghiên cứu chế tạo và khảo sát hiệu quả phòng trừ nấm colletotrichum truncatum gây bệnh thán thư trên cây đậu nành glycine max của phức oligochitosan zn2" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp bảo vệ cây trồng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học ứng dụng kỹ thuật lamp loopmediated isothermal amplification trong phát hiện nhanh virus wssv và ihhnv gây bệnh trên tôm" để hiểu thêm về các phương pháp phát hiện virus trong nuôi trồng thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ sinh học.