CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Một số khái niệm cơ bản về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 1.1 Khái niệm mua bán hàng hóa Hàng hoá là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản. Theo Từ điển Việt Nam: Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được.
Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai” (khoản 2 điều 3 Luật thương mại 2005). Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán các loại hàng đó. Theo kinh tế chính trị Mac-Lenin: Trong kinh tế chính trị Mac-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Các Mác định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: tính ích dụng đối với người dùng;giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động; sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm Trước hết ta cần hiểu hàng hóa là sản phẩm của lao động để thỏa mãi nhu cầu nào đó của con người thông qua mua ban và trao đổi. Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, quần áo, đồ ăn; cũng có thể ở dạng vô hình như: các loại hình dịch vụ, giao thông vận tải.
Nhưng dù ở hình thức nào đi nữa thì hàng hóa đều phải đảm bảo các thuộc tính đó là phải đảm bảo có giá trị và có giá trị sử dụng. Dưới góc độ Triết học, mua bán hàng hóa là hoạt động đã được diễn ra từ rất lâu. Việc trao đổi các sản phẩm do tự mình tạo ra đã xuất hiện cùng với sự ra đời của sản xuất hàng hoá (nhưng lúc đầu chỉ mang tính giản, thô sơ theo công thức hàng-hàng (H- H) nghĩa là hàng hoá chỉ được thực hiện dưới hình thức trao đổi hiện vật. Đến khi tiền 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tệ làm phương tiện lưu thông xuất hiện công thức của trao đổi đó là hàng-tiền-hàng (H-T-H) và đó chính là quá trình lưu thông hàng hoá.Vậy lưu thông hàng hoá gồm hai giai đoạn là giai đoạn Hàng-Tiền (H-T) và giai đoạn Tiền-Hàng (T-H).trong giai đoạn hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, đó chính là việc bán hàng.
Thực chất bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền (H-T) nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị sử dụng nhất định, là khâu cuối cùng có tính chất quyết định của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. (Theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lenin) Dưới góc độ Kinh tế thương mại, theo Khoản 8 điều 3 L TM 2005: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Ta có thể hiểu mua bán hàng hóa là sự đầu tư tiền của, công sức của một cá nhân hay một tổ chức vàoviệc trao đổi hàng hóa để kiếm lời. Đó là hoạt động cốt lõi để doanh nghiệp có thể duy trì và phát triển.
Hoạt động này không những tạo ra dòng tiền luân chuyển thường xuyên cho doanh nghiệp mà còn là cơ sở để doanh nghiệp có thể đảm bảo bộ máy hoạt động được diễn ra tục nhờ nguồn doanh thu mà việc mua bán hàng hóa mang lại, đồng mở ra các cơ hội kinh doanh mới với các bạn hàng mới.Về cơ bản hoạt động mua bán hàng hóa được diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu đó là mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế. Trong bài nghiên cứu này em sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu vào hoạt động mua bán hàng hóa dưới góc độ kinh tế thương mại, được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật Thương mại hiện hành. Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa Thứ nhất,chủ thể của hành vi mua bán hàng hóa là bất cứ cá nhâ, tổ chức, đơn vị kinh doanh nào có nhu cầu về hàng hóa. Mỗi cá nhân, tổ chức đều có quyền thực hiện hành vi mua bán hàng hóa với cá nhân, tổ chức nào khác trong khuôn khổ năng lực pháp lý và năng lực hành vi của họ không phân biệt về địa lý hay thành phần kinh tế.
Hoạt động mua bán hàng hóa luôn được hình thành bởi tối thiểu hai bên tham gia là bên mua và bên bán.Bên bán là chủ sở hữu ban đầu của hàng hóa, bên mua là bên mong muốn và có nhu cầu sở hữu hàng hóa.Trong hoat động mua bán hàng hóa cũng có thể xuất hiện bên thứ ba là trung gian giữa bên mua và bên bán. Trung gian này có thể là bên cung cấp kho hàng, bên vận chuyển hoặc nhà phân phối của bên bán… Hàng hóa sẽ được chuyển giao từ bên bán sang bên mua sau khi có sự thỏa thuận và bên mua trao cho bên bán một lượng giá trị tương đương với giá trị của hàng hóa đó. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quy định của LTM, hoạt động mua bán hàng hóa phải phát sinh giữa hai bên là thương nhân với nhau hoặc ít nhất một bên là thương nhân. Như vậy chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa là thương nhân, cá nhân, tổ chức hoạt động có liên quan đến thương mại hoặc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh.
Trong quan hệ mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay ít nhất một bên phải là thương nhân có nghĩa là các cá nhân, tổ chức phải có đầy đủ các điều kiện của một thương nhân còn bên kia có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân nhưng phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Thứ hai, đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa: Đối tượng trong hoạt động mua bán hàng hóa luôn phải đảm bảo hai điều kiện đó là giá trị và giá trị sử dụng. Theo quy định của Luật Thương mại hàng hóa được quy định tại khoản 2điều 3 LTM 2005 bao gồm: “ Tất cả các loại động sản, kể cả là hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”. Theo quy định của LTM 2005 thì hàng hóa đươc hiểu ở nghĩa khá hẹp, nó chỉ bao gồm vật chất ở dưới dạng nhất định và được pháp luật quy định cụ thể.
Phân loại mua bán hàng hóa Mua bán hàng hóa trong nướclà quá trình mua bán trao đổi hàng hóa không có sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực hải quan riêng biệt có quy chế riêng như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan. Mua bán hàng hóa quốc tế, được thực hiện dưới các hình thức: Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa làviệc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Tạm nhập, tái xuất: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa đựơc đưa từ nước ngoài hoặc từ những khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Tạm xuất, tái nhập: Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyển khẩu: Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Trong phạm vi bài nghiên cứu này sẽ chỉ đi sâu vào hoạt động mua bán hàng hóa trong nước.2 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa.1 Lịch sử của hợp đồng mua bán hàng hóa Khi xã hội mới hình thành đã xuất hiện khái niệm về phân công lao động. Đó là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn. Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu. Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, những nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau, sự chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm.