CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 1.1 Khái niệm góp vốn Trước khi nghiên cứu các quy chế về góp vốn, chúng ta cùng tìm hiểu các quan điểm về vốn trong sản xuất kinh doanh đã được đề cập từ trước tới nay: Theo quan điểm của lý thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển: Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (máy móc, thiết bị, phương tiện, nhà xưởng sản xuất, văn phòng, nguyên vật liệu…. Nghĩa là vốn được nhìn nhận dưới góc độ tài sản là hiện vật là chủ yếu. [31; Tr518-520] Đứng trên quan điểm của nền kinh tế thị trường: Coi doanh nghiệp cũng là hàng hoá. Giá trị của doanh nghiệp gồm giá trị hữu hình và giá trị vô hình.
[65] Như vậy, các quan niệm trên về vốn chỉ thể hiện được vai trò của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể, với các yêu cầu nghiên cứu cụ thể. Nhưng đứng trên phương diện pháp lý về quản lý vốn hiện nay, các quan điểm này chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý và hoạch toán vốn đối với doanh nghiệp. Chúng ta có thể xây dựng hoặc quan niệm về vốn trong nền kinh tế thị trường theo xu thế hội nhập thì vốn phải được hiểu bao hàm cả phương diện pháp lý và phương diện kinh tế. Về phương diện pháp lý: Vốn được hiểu và gắn liền với quyền và trách nhiệm của chủ thể góp vốn, vốn có thể là một điều kiện bắt buộc để thành lập và kinh doanh trong một số ngành nghề kinh doanh nhất định.
Về phương diện kinh tế: Vốn là một yếu tố không thể thiếu tham gia vào quá trình kinh doanh dưới dạng tài sản để mang lại giá trị thặng dư; Vốn là một trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những nhân tố quan trọng hàng đầu trong kinh doanh và sản xuất. Nếu không gắn kết vốn với các yếu tố khác của công ty thì công ty mới không thể kinh doanh và sản xuất tốt được. Khi tiếp cận nghiên cứu từ góc độ tài chính, vốn là tổng số tiền hay tổng số tài sản do các cổ đông, thành viên đóng góp và họ được nhận cổ tức chia theo tỷ lệ góp vốn hoặc cổ phiếu mà họ đầu tư. Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế bao cấp, vốn không được phân biệt theo tính chất pháp lý và nhìn nhận ở phương diện kinh tế một cách rõ nét, vốn được hiểu và được gọi theo cách gắn liền với chủ thể quản lý và cung cấp như: Vốn ngân sách nhà nước, vốn vay ngân hàng, vố tự có,.
Bước sang thời kỳ kinh tế mở cửa (sau năm 1986), với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến nền kinh tế tư nhân. Song nhìn chung trong thời gian đầu vẫn mang màu sắc quan điểm về vốn như thời kỳ bao cấp. Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1991 ra đời đề ra vốn pháp định cho mọi ngành nghề kinh doanh. Vốn là điều kiện và phương tiện bắt buộc để kinh doanh.
Không có vốn, doanh nghiệp không thể thành lập. Việc pháp luật quy định như vậy cũng xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu như đã có nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp ra đời mà không có đồng vốn nào, chỉ có tên gọi và con dấu để hoạt động, ký kết rất nhiều hợp đồng rồi lâm vào tình trạng nợ nần, phá sản, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều người. Luật Công ty năm 1991 ra đời đã quy định vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh nhằm ngăn ngừa hành vi lừa đảo trong kinh doanh. [13; tr124-126] Quan niệm coi đồng vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh như vậy dẫn đến hạn chế quyền tự do kinh doanh cũng như nhu cầu kinh doanh của người dân trong đời sống dân sự.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999 ra đời đã bãi bỏ vốn pháp định. Việc bãi bỏ quy định này đã đáp ứng được lòng dân, phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng. Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 vẫn giữ nguyên quan điểm đó ngoại trừ một số ngành nghề bắt buộc phải có vốn pháp định để bảo đảm sự an toàn đối với xã hội như ngành kinh doanh vàng, chứng khoán…Người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành lập công ty chỉ cần khai báo sẽ có bao nhiêu vốn chứ không bị bắt buộc phải có một số vốn nhất định như trước. Từ khái niệm về vốn, có thể hiểu một cách chung nhất góp vốn là sự đóng góp của hai hay nhiều đối tác để tạo nên số vốn nhất định.
Do việc góp vốn liên quan đến quyền lợi riêng hoặc quyền lợi chung của các thành viên góp vốn nên việc góp vốn có nhiều vấn đề phức tạp dễ dẫn tới nguy cơ như đồng vốn không sinh lời, thâm hụt thậm chí mất vốn và nghiêm trọng hơn còn dẫn tới tranh chấp về đồng vốn góp. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta vẫn thường thấy có rất nhiều hình thức góp vốn từ buôn bán nhỏ lẻ cho đến mở công ty kinh doanh hoặc là “hùn vốn” buôn bán, “khoán trắng” vốn cho người khác hoặc góp vốn vào công ty hay góp vốn để thành lập Công ty. Có thể thấy “góp vốn” là một khái niệm rất thông dụng trong đời sống dân sự cũng như trong quy định pháp lý. Từ khi Luật Công ty năm 1991 ra đời, khái niệm này đã được nghi nhận một cách rõ nét và cụ thể hơn.
Tại Điều 9 Luật Công ty năm 1991 đã quy định:“Phần vốn góp của mỗi thành viên có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp. Phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp phải được đại hội đồng thành lập xem xét, chấp thuận, định giá và được ghi vào điều lệ công ty; Phần vốn góp này phải được nộp đầy đủ ngay sau khi công ty chính thức thành lập” Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” Theo Điều 4 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu chung của Công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên công ty góp để tạo thành vốn của Công ty”.
Như vậy, so với Luật Công ty năm 1991, LDN năm 1999 và LDN năm 2005 đã quy định khái niệm góp vốn một cách sắc nét hơn. Luật Công ty năm 1991 không chỉ ra góp vốn là gì mà chỉ quy định hình thức “phần vốn góp” của mỗi thành viên. LDN năm 1999 và LDN năm 2005 đã chỉ ra bản chất của việc góp vốn là một hành vi pháp lý.2 Bản chất pháp lý của góp vốn Để hình thành một công ty, việc góp vốn của các chủ thể là nội dung quan trọng có tính chất quyết định trong các vấn đề thủ tục thành lập công ty. Việc góp vốn nhằm tạo ra cơ sở đầu tiên cho bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, khi có vốn doanh nghiệp mới có thể thuận lợi hơn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp tiến hành khởi sự các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc góp vốn này là nguồn gốc của mọi quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các thành viên trong công ty sau này. Có thể nói, trong các quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp thì các quy định về vốn, góp vốn quan trọng nhất, thậm chí có ý nghĩa quyết định. Góp vốn có thể nói là “linh hồn” của một hợp đồng thành lập công ty.
Về bản chất, góp vốn là hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của mình vào một hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Trong mối quan hệ góp vốn, có các bên góp vốn và tài sản góp vốn. Về phương diện kinh tế thì góp vốn là sự đóng góp của các các thành viên tạo ra khối tài sản chung cho Công ty nhằm đảm bảo cho những chi phí đối với hoạt động của công ty và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ khi công ty lâm vào tình trạng phá sản. Xét về phương diện pháp lý, thì góp vốn là hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản hay đưa tài sản riêng của mình vào công ty sử dụng chung nhằm mục đích 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiếm lời.
Hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản này không phải là hành vi cho thuê tài sản hay bán tài sản. Khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng, thì người chuyển giao có được một quyền lợi từ việc bán hoặc cho thuê là một khoản tiền nhất định từ giá bán hay giá thuê. Còn trong hành vi góp vốn thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc góp vốn đó. 49-52] Như vậy, góp vốn là việc một người thông qua hành vi chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng của mình cho công ty để đổi lấy một số quyền lợi nhất định từ công ty hay trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp của mình vào công ty đó.
Góp vốn phải được phân biệt với phần vốn góp. Phần vốn góp là tổng giá trị các tài sản của chủ thể góp vào công ty.2 Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn 1.1 Khái niệm tài sản góp vốn Tài sản là một khái niệm khá phổ biến trong đời sống hàng ngày.