CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Khái niệm về hàng hóa, mua bán hàng hóa. Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội.
Nhu cầu của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển phong phú và đa dạng. Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3 - khoản 2 - LTM năm 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Theo cách hiểu phổ biến thì mua bán hàng hóa là những hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ dựa trên cơ sở thuận mua vừa bán. Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, khi nói đến hành vi mua bán chính là nói đến hoạt động giao dịch buôn bán liên quan đến việc mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất (thương mại đầu vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm (thương mại đầu ra).
Đối với doanh nghiệp, mỗi sản phẩm được sản xuất ra là nhằm để bán cho người tiêu dùng. Hoạt động mua bán hàng hóa là một bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại và được định nghĩa tại Khoản 8 - Điều 3 - LTM 2005 thì: Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận". Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. Về cơ bản, hoạt động thương mại ở tất cả các nước đều diễn ra dưới hai hình thức: mua bán nội địa và mua bán quốc tế, về bản chất đều là những hoạt động mà trong đó người bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua.
Còn người mua có nghĩa vụ chuyển cho người bán một khoản ngang bằng với giá trị hàng hóa, dịch vụ được trao đổi. Như vậy dựa vào khái niệm tại khoản 8 - Điều 3 LTM 2005 thì hành vi mua bán hàng hóa thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, các đơn vị kinh doanh hợp pháp có khả năng và nhu cầu về hàng hóa và đồng thời đó cũng là quan hệ pháp luật ràng buộc trách nhiệm giữa người mua và người bán. Mối quan hệ này có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa. Có thể nói, hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng xuất hiện từ rất lâu đời; nó được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản luật khác nhau theo sự phát triển của đất nước 1. Lịch sử hình thành pháp luật về hợp đồng. - Những quy định của pháp luật về hợp đồng ở giai đoạn trước 1995: Trong những năm đầu dành được chính quyền, pháp luật của Việt Nam dân chủ cộng hoà còn sử dụng nhiều hình thức pháp luật cũ, do vậy pháp luật hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều văn bản pháp luật của giai đoạn Pháp thuộc để lại.
Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL cho phép tạm sử dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban hành những bộ luật duy nhất cho toàn quốc nếu "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chỉnh thể dân chủ cộng hòa". Đồng thời, các Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu 1883; Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật) 1936 được tiếp tục thi hành. Như vậy, tại ba miền Bắc - Trung - Nam tồn tại ba bộ dân luật 1883, 1931, 1936. Tiếp đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 97/SL "Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật", việc này có ý nghĩa đặc biệt trong sự phát triển của luật dân sự.
Sắc lệnh này một mặt không hủy bỏ nhưng quy định của các bộ dân luật cũ, mặt khác nó bổ sung, thay đổi làm cho các bộ luật của "đế quốc phong kiến" có nội dung mới, đáp ứng yêu cầu hiện tại của các vấn đề luật dân sự và đặc biệt là các vấn đề về hợp đồng, đem đến những biến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng của nhân dân Việt Nam; đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển của luật dân sự - pháp luật dân sự của một nhà nước độc lập, có chủ quyền. "Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể bị coi là vô hiệu" (Điều 13)… Đây cũng là giai đoạn các đơn vị kinh tế cơ quan, xí nghiệp nhà nước, kinh tế thị trường tiến hành song song với hoạt động kinh tế tư nhân. Để thu hút mọi hoạt động kinh tế và xây dựng quan hệ sản xuất mới – qun hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Thủ tướng đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957, kèm theo nghị định là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh.
Nội dung chính của bản điều lệ quy định tính chất các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế kinh doanh hợp tác xã, công ty hợp doanh, tư doanh Việt Nam và ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam. Nội dung chính của điều lệ kèm theo Nghị định 735/TTg đã đề cập tới hợp đồng kinh doanh, hợp đồng kinh doanh được thiết lập trên phương thức hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện ký kết với nhau để thực hiện các mục đích nhất định, nhằm phát triển kinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh công nghiệp và thương nghiệp, góp phầm thực hiện những công việc của nhà nước giao cho. Hợp đồng kinh doanh được xây dựng trên nguyên tắc các bên tự nguyện ký kết, cùng có lợi và đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân. Nội dung của điều lệ còn quy định thêm một bên tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh là tư doanh, tuy nhiên các hợp đồng kinh doanh có tư doanh tham gia phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường là cơ quan công thương tỉnh hay Ủy ban hành chính cấp huyện).
Điều lệ tạm thời về hợp dòng kinh doanh của Nghị định 735/TTg ngày 10/04/1975 đã đóng góp một phần nhất định trong viẹc khai thác các thành phần kinh tế vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước, cải tạo quan hệ cũ và từng bước xây dựng quan hệ mới Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp Việt Nam, Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hòa, Hiến pháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã đặt ra yêu cầu "xoá bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện phương pháp quản lý theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, … xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đưa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". Ngày 10/3/1975 Chính phủ đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của hội đồng chính phủ). Nội dung chính của Nghị định 54/CP chủ yếu gồm các vấn đề: Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc ký kết, và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng … Đặc điểm chính của hợp đồng theo Nghị định 54/CP là khi ký kết hợp đồng phải bảo đảm hai yêu cầu: bảo đảm yếu tố trao đổi tài sản và bảo đảm tính kế hoạch của nhà nước.
Việc quy định hợp đồng phải bảo đảm yếu tố kế hoạch của nhà nước đã làm cho bản chất của hợp đồng bị thay đổi và hợp đồng trở thành công cụ của nhà nước để can thiệp vào các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nội dung quy định Nghị định 54/CP về hợp đồng cũng đã đáp ứng yêu cầu của công việc của công cuộc cải cách kinh tế, đưa quan hệ hợp đồng trở thành nề nếp. Từ đầu những năm 80, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để áp dụng các quan hệ hợp đồng. Đặc trưng của các quy định pháp luật áp dụng các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ, biện pháp hành chính được sử dụng phổ biến làm sai lệch bản chất của các quan hệ hợp đồng với những đặc trưng của nó bình đẳng, tự định đoạt giữa các chủ thể.
Phương pháp áp dụng của luật hành chính đã phổ cập trong các quan hệ dân sự. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các văn bản ban hành trong giai đoạn này có tính hiệu lực tương đối cao thể hiện dưới dạng Luật, Pháp lệnh và các Nghị định hướng dẫn thi hành, các Luật và Pháp lệnh được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ban hành. Các văn bản pháp luật, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988): nội dung chính của pháp lệnh là quy định các điều kiện của các dây chuyền công nghệ khi chuyển vào Việt Nam, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (1991). Đối với pháp lệnh hợp đồng kinh tế ở Việt Nam, nó đã thể chế hoá được những quan điểm và tư tưởng về đổi mới trong quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tính chất bình đẳng và tự nguyện khi ký kết hợp đồng kinh tế, tách các quan hệ hợp đồng kinh tế thành một loại hợp đồng độc lập và nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.