Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nhanh chóng của các thành phần kinh tế và sự gia tăng số lượng doanh nghiệp đã thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh diễn ra sôi động. Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô và mật độ giao thương cũng kéo theo các tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về tính chất. Nhằm duy trì một môi trường đầu tư lành mạnh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, việc giải quyết các tranh chấp này trở thành đòi hỏi tất yếu của thực tiễn quản lý kinh tế và tư pháp.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận bốn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cơ bản gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Trong đó, Tòa án nhân dân là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán nhân danh quyền lực nhà nước. Hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt; phán quyết của Tòa án mang tính bắt buộc và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Trên thực tế, các bên đương sự thường coi Tòa án là giải pháp tài phán cuối cùng khi thương lượng hoặc hòa giải không đạt kết quả. Mặc dù vậy, quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại tại hệ thống Tòa án địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, xuất phát từ cả khoảng trống trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lẫn thực tiễn áp dụng của cơ quan xét xử. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án - Thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên".

Trước khi triển khai nghiên cứu, tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài:

  • Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Trang (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) với đề tài "Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng Tòa án ở Việt Nam hiện nay", tập trung phân tích thẩm quyền của Tòa án và những bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh.
  • Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Trọng Tuấn (Khoa Kinh tế Ngoại thương – Trường Đại học Ngoại thương, 2013) với đề tài "Giải quyết tranh chấp ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp", đề xuất giải pháp tiếp thu có chọn lọc các quy định quốc tế về thẩm quyền Tòa án.
  • Khóa luận tốt nghiệp của Hà Văn Hải (Khoa Luật – Trường Đại học Vinh, 2013) với đề tài "Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Nghệ An - Thực trạng và giải quyết", đi sâu vào thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn tỉnh Nghệ An.

Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các phân tích chung hoặc khai thác thực tiễn tại các địa bàn khác, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên trong bối cảnh các đạo luật mới như Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu được xác lập và cụ thể hóa thành ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng quy phạm pháp luật cùng thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
  3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ khung pháp lý tố tụng dân sự hiện hành kết hợp với hoạt động xét xử thực tiễn, từ đó tìm ra nguyên nhân của các vướng mắc và kiến nghị giải pháp hoàn thiện. Ba mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Đánh giá thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng thủ tục tố tụng Tòa án tại Việt Nam.
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết các tranh chấp này tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
  3. Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự đến năm 2022.

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:

  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh tranh chấp kinh doanh, thương mại và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sử dụng số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ ngày 01/10/2012 đến ngày 28/11/2017; các giải pháp và kiến nghị được định hướng đến năm 2022.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án và thực tiễn thi hành các quy định này tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết pháp lý về quan hệ thương mại, thẩm quyền tài phán và tố tụng dân sự. Về mặt khái niệm, tác giả căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005: Hoạt động thương mại được định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
  • Khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: Khái niệm kinh doanh bao gồm việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
  • Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Quy định cụ thể các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
  • Luật Trọng tài thương mại năm 2010: Phân định thẩm quyền giữa cơ quan trọng tài và Tòa án.

Nguồn văn bản pháp luật làm căn cứ nghiên cứu bao gồm: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004); Bộ luật Dân sự năm 2015 (so sánh với Bộ luật Dân sự năm 2005); Luật Thương mại năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các luật chuyên ngành liên quan như: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phân bổ phương pháp theo từng nội dung cụ thể:

  • Trong Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích các vấn đề lý luận pháp lý, kết hợp phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các quy định giữa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, đối chiếu các điều khoản luật với văn bản hướng dẫn thi hành).
  • Trong Chương 2: Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thực tế, phương pháp thống kê, phân tích và đánh giá tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên phạm vi cả nước và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
  • Trong Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp suy luận diễn dịch và quy nạp để khái quát các vấn đề tồn tại, từ đó xây dựng các định hướng và kiến nghị cụ thể.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất lý luận của tranh chấp kinh doanh, thương mại và phương thức giải quyết thông qua cơ quan tài phán nhà nước. Tranh chấp kinh doanh, thương mại được xác định là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Tác giả chỉ ra ba đặc điểm bản chất:

  1. Là mâu thuẫn đối xứng về quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ cụ thể (thường mang bản chất quan hệ tài sản, gắn với lợi ích kinh tế).
  2. Phát sinh trực tiếp từ hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi hoặc do hành vi vi phạm hợp đồng/pháp luật thương mại.
  3. Chủ thể tham gia chủ yếu là thương nhân (cá nhân, pháp nhân có đăng ký kinh doanh). Đối với các giao dịch hỗn hợp mà một bên không có mục đích sinh lợi, nếu bên đó chọn áp dụng Luật Thương mại thì quan hệ đó vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại.

Để làm rõ vị thế của phương thức Tòa án, tác giả so sánh chi tiết giữa tố tụng Tòa án và tố tụng Trọng tài thương mại qua 6 tiêu chí cơ bản:

Tiêu chí so sánh Giải quyết bằng phương thức Tòa án Giải quyết bằng Trọng tài thương mại
Tính chất pháp lý Cơ quan tư pháp thuộc bộ máy nhà nước; nhân danh quyền lực nhà nước để xét xử và duy trì trật tự công cộng. Tổ chức phi chính phủ, mang tính chất xã hội - nghề nghiệp; hoạt động độc lập theo sự thỏa thuận của các bên.
Thẩm quyền theo vụ việc và lãnh thổ Thẩm quyền vụ việc rộng; thẩm quyền theo lãnh thổ được phân định chặt chẽ theo luật định (nơi bị đơn cư trú, nơi có bất động sản...). Thẩm quyền do các bên thỏa thuận lựa chọn theo quy chế của từng trung tâm trọng tài; không bị ràng buộc bởi thẩm quyền lãnh thổ.
Các cấp độ và giai đoạn tố tụng Thực hiện qua nhiều cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm; có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Xét xử một lần duy nhất; phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực ngay, không bị kháng cáo hay kháng nghị.
Nguyên tắc xét xử Xét xử tập thể theo Hội đồng xét xử (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân). Không áp dụng nguyên tắc tập thể bắt buộc; các bên tự do thỏa thuận chọn một hoặc nhiều trọng tài viên lập Hội đồng trọng tài.
Tính công khai Phiên tòa xét xử công khai, bản án được công bố rộng rãi (ngoại trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục). Các phiên họp giải quyết tiến hành kín; bảo mật nghiêm ngặt thông tin vụ việc và bí mật kinh doanh của các bên.
Hiệu lực và cơ chế thi hành phán quyết Bản án, quyết định có hiệu lực đương nhiên được bảo đảm thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự. Phán quyết có tính ràng buộc nhưng việc cưỡng chế phải thông qua thủ tục đăng ký, yêu cầu cơ quan thi hành án theo quy định pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phân định thành 5 nhóm vụ việc:

  • Nhóm 1: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
  • Nhóm 2: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (nếu một bên không có mục đích lợi nhuận thì xác định là tranh chấp dân sự theo khoản 4 Điều 26).
  • Nhóm 3: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, hoặc giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
  • Nhóm 4 (Điểm mới của BLTTDS 2015): Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty hoặc thành viên công ty.
  • Nhóm 5: Các tranh chấp kinh doanh, thương mại khác mà pháp luật có quy định.

Về phân định thẩm quyền theo cấp Tòa án, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý sơ thẩm các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 30; các tranh chấp còn lại (khoản 2, 3, 4 Điều 30 hoặc có yếu tố nước ngoài, ủy thác tư pháp) thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại mà thực hiện chức năng phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Về điều kiện thụ lý, nếu các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì Tòa án phải từ chối thụ lý (Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Tòa án chỉ thụ lý khi thỏa thuận trọng tài rơi vào trường hợp vô hiệu (Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010; Điều 3 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP) hoặc không thể thực hiện được (Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP).

Quy trình giải quyết sơ thẩm tại Tòa án bao gồm các mốc thời gian chặt chẽ: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, Chánh án phân công Thẩm phán; trong thời hạn 05 ngày làm việc Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định xử lý đơn; trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý phải gửi thông báo bằng văn bản cho các bên và Viện kiểm sát; thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là 02 tháng (được gia hạn không quá 01 tháng đối với vụ án phức tạp).

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên

Chương 2 phản ánh tình hình áp dụng pháp luật và hoạt động thụ lý, xét xử trên thực tế. Tác giả khảo sát các nhân tố tác động đến quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, bao gồm nhân tố quy phạm pháp luật, cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan xét xử, năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán và ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh doanh.

Đánh giá thực trạng quy định pháp luật, tác giả chỉ ra các khoảng trống và điểm mâu thuẫn trong hệ thống văn bản:

  • Quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ tại điểm a khoản 1 Điều 36 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho phép nguyên đơn khởi kiện tại nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở cuối cùng khi không biết nơi cư trú của bị đơn. Tuy nhiên, pháp luật chưa có hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định thế nào là "nơi cư trú cuối cùng" và các trường hợp nào đủ điều kiện coi là "không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn", dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các Thẩm phán.
  • Việc phân định giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại còn gặp vướng mắc, đặc biệt đối với các trường hợp chủ thể không có đăng ký kinh doanh nhưng tham gia giao dịch vì mục đích sinh lợi, hoặc trường hợp một bên là tổ chức hành nghề luật sư cung ứng dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp.
  • Về cơ cấu tổ chức, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nhiều vụ án kinh doanh, thương mại, nhưng tại cấp huyện chưa thành lập Tòa Kinh tế chuyên biệt mà việc giải quyết vẫn do các Thẩm phán thuộc Tòa Dân sự hoặc Thẩm phán chung đảm nhiệm, gây ảnh hưởng đến tính chuyên sâu trong xét xử.

Tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, thực tiễn xét xử giai đoạn 2012 - 2017 cho thấy các loại án kinh doanh, thương mại thụ lý chủ yếu tập trung vào các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng tín dụng ngân hàng, hợp đồng dịch vụ và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Hoạt động áp dụng pháp luật tại địa phương gặp khó khăn khi phải đồng thời xử lý mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự (luật chung) và Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng (luật chuyên ngành), đặc biệt là các quy định về mức phạt vi phạm, giới hạn bồi thường thiệt hại và lãi suất quá hạn.

Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án

Từ những bất cập lý luận và vướng mắc thực tiễn đã khảo sát, Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể:

Về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật:

  • Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc xác định "nơi cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng" và các điều kiện chứng minh "không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn" để tạo cơ sở áp dụng thống nhất thẩm quyền theo lãnh thổ.
  • Rà soát, xử lý các điểm chồng chéo, xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và các đạo luật chuyên ngành (Luật Thương mại năm 2005, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010), làm rõ thứ tự ưu tiên áp dụng đối với các chế tài phạt vi phạm và cách tính lãi suất trong hợp đồng kinh doanh thương mại.
  • Hoàn thiện các tiêu chí hướng dẫn phân định tranh chấp kinh doanh thương mại với tranh chấp dân sự đối với các chủ thể không có đăng ký kinh doanh nhưng thực tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận.

Về hoàn thiện mô hình và cơ cấu tổ chức Tòa án:

  • Xem xét thành lập Tòa Kinh tế chuyên trách tại các Tòa án nhân dân cấp huyện có khối lượng thụ lý án thương mại lớn (như Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên) nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng xét xử.
  • Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về pháp luật kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng và chứng khoán cho đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án cấp huyện.
  • Đẩy mạnh việc tổng kết thực tiễn xét xử, phát triển và áp dụng án lệ về tranh chấp thương mại nhằm khắc phục kịp thời các khoảng trống pháp luật.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý: Luận văn đã phân tích và đối chiếu có hệ thống các văn bản cốt lõi gồm Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010, làm rõ tiêu chí xác định tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền Tòa án theo Điều 30.
  • Làm rõ các điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Khóa luận chỉ ra điểm mới tại khoản 4 Điều 30 (bổ sung thẩm quyền đối với tranh chấp chuyển nhượng phần vốn góp của người chưa phải thành viên công ty) và quy định mới tại Điều 39 về thẩm quyền Tòa án nơi có bất động sản đối với đối tượng tranh chấp là bất động sản, khắc phục bất cập hiểu khác nhau trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
  • Xác định các mâu thuẫn trong thực thi: Khóa luận phát hiện các vướng mắc thực tế tại TAND thành phố Thái Nguyên liên quan đến quy định xác định nơi cư trú cuối cùng của bị đơn (Điều 36 BLTTDS), sự lúng túng khi phối hợp giữa Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành, cũng như tình trạng thiếu Tòa chuyên trách tại Tòa án cấp huyện.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khác với công trình của Đinh Thị Trang (2013) nghiên cứu chung trên toàn quốc hay Hà Văn Hải (2013) khảo sát tại Nghệ An dựa trên luật cũ, khóa luận này đã cập nhật toàn bộ khung pháp lý mới sau năm 2015 (BLTTDS 2015, BLDS 2015, Luật Tổ chức TAND 2014) và đánh giá trực tiếp trên dữ liệu xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2017.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực tiễn mới chỉ giới hạn tại một đơn vị xét xử cấp huyện (Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên) trong giai đoạn từ ngày 01/10/2012 đến ngày 28/11/2017. Các dữ liệu và nhận định chưa bao quát toàn bộ hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên cũng như các địa phương có mật độ tranh chấp thương mại cao khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, theo dõi thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015 trong giai đoạn định hướng đến năm 2022; tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức Tòa chuyên trách tại các Tòa án cấp huyện và giải pháp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Kinh tế - Luật tại các trường đại học; luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp và các cán bộ đang công tác tại Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần phân tích so sánh 6 tiêu chí giữa Tòa án và Trọng tài thương mại tại Chương 1.
    • Hệ thống hóa các căn cứ pháp lý về trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu (Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, Điều 3 NQ 01/2014/NQ-HĐTP) và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được (Điều 4 NQ 01/2014/NQ-HĐTP) để Tòa án thụ lý vụ việc.
    • Các phân tích về trình tự, thủ tục sơ thẩm (các thời hạn phân công Thẩm phán 03 ngày, xem xét đơn 05 ngày, thông báo thụ lý 03 ngày, chuẩn bị xét xử 02 tháng).

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung loại tranh chấp mới nào về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án?
Theo phân tích tại Chương 1 của khóa luận, điểm mới được bổ sung tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là quy định về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty hoặc thành viên công ty. Quy định này giúp lấp lỗ hổng pháp lý so với các văn bản trước đây.

2. Khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài, trong trường hợp nào Tòa án vẫn có thẩm quyền thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại?
Căn cứ Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP, Tòa án thụ lý giải quyết khi thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu (thuộc các trường hợp quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại và Điều 3 Nghị quyết 01/2014) hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được (thuộc các trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị quyết 01/2014, ví dụ trung tâm trọng tài đã chấm dứt hoạt động, trọng tài viên từ chối hoặc người tiêu dùng không đồng ý chọn trọng tài).

3. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại được pháp luật quy định là bao lâu?
Căn cứ theo quy định từ Điều 203 đến Điều 221 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được trích dẫn trong văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không quá 01 tháng.

4. Khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ, đối tượng tranh chấp là bất động sản được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định giải quyết tại Tòa án nào?
Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được trích dẫn trong khóa luận, nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết. Quy định này nhằm khắc phục sự thiếu rõ ràng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 khi bị đơn cư trú một nơi và bất động sản ở một nơi khác.

5. Vì sao Tòa án nhân dân cấp huyện gặp khó khăn về mô hình tổ chức khi giải quyết án kinh doanh, thương mại?
Khóa luận chỉ ra rằng dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trao thẩm quyền sơ thẩm các tranh chấp tại khoản 1 Điều 30 cho Tòa án nhân dân cấp huyện, nhưng cơ cấu tổ chức của TAND cấp huyện hiện chưa có Tòa Kinh tế chuyên biệt, việc lập tòa chuyên trách phải phụ thuộc vào quyết định của Chánh án TAND tối cao dựa trên yêu cầu thực tế, dẫn đến việc thiếu tính chuyên sâu trong xét xử án thương mại tại địa phương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức Tòa án theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các luật liên quan. Thông qua việc phân tích thực tiễn xét xử giai đoạn 2012 - 2017 tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong quy định xác định nơi cư trú cuối cùng, phân loại tranh chấp và tổ chức Tòa chuyên trách cấp huyện. Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng hệ thống kiến nghị đồng bộ về sửa đổi hướng dẫn pháp luật và hoàn thiện bộ máy xét xử, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tố tụng thương mại định hướng đến năm 2022.