CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cây đậu tương 1. Đặc điểm sinh học Cây đậu tương Glycine max (L.
thuộc: Ngành Hạt kín: Angiospermatophyta Lớp Hai lá mầm: Dicotyledoneae Phân lớp Hoa hồng: Rosidae Bộ Đậu: Fabales Họ Đậu: Fabaceae Chi Glycine Wild. là một trong số những chi lớn của họ Fabaceae, với 285 loài đã được biết đến. Trong đó, đáng chú ý trong chi này có cây đậu tương (Glycine max (L.) được sử dụng làm đối tượng cây trồng phục vụ con người (Singh và cộng sự, 2006) [137]. Cây đậu tương (Glycine max (L.) (Nguồn: IITA Image Library, 1997) Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương (Iowa State University, 2009) [78]: 6 Tuỳ thuộc vào từng giống và điều kiện ngoại cảnh khác nhau mà các giai đoạn phát triển của đậu tương có thể kéo dài từ 80 đến 140 ngày, được chia thành các giai đoạn sau: Giai đoạn nảy mầm đến mọc (VE-VC): Giai đoạn này bắt đầu khi hạt hút nước, mầm phôi phát động sinh trưởng, kết thúc khi xoè 2 lá đơn mọc đối trên 2 lá mầm.
Giai đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào giống có thể kéo dài 10 - 12 ngày mới mọc (vụ xuân); hoặc chỉ 4 - 5 ngày đã mọc (vụ hè). Trong giai đoạn này, nước cần có sẵn cho hạt hấp thụ, nhiệt độ thích hợp để hạt nảy mầm và trụ mầm dưới phát triển là 25 – 30oC, độ ẩm 65 – 75 % trong đất. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương (Theo: Iowa State University, 2009) [78] Giai đoạn cây non (giai đoạn sinh trưởng thân lá, V1 đến V5): Giai đoạn này bắt đầu từ khi có một lá kép và kết thúc căn bản vào thời kỳ nở hoa (giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng), đây là thời kỳ phát triển của thân và lá. Giai đoạn này kéo dài 20 ÷ 40 ngày.
Vào thời kỳ đầu của giai đoạn này, cây con sinh trưởng rất chậm, trong khi đó bộ rễ của nó lại phát triển nhanh, các nốt sần trên rễ được hình thành và phát triển. Đến thời kỳ cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa thì tốc độ sinh trưởng của cây tăng nhanh lên. Đây cũng là thời điểm cây đậu tương chịu hạn khá nhất. 7 Giai đoạn nở hoa (R1 đến R3): Thời gian ra hoa kéo dài 15 ÷ 20 ngày, có trường hợp kéo dài đến 40 ngày.
Khác với các cây trồng khác, đồng thời với ra hoa, cây đậu tương vẫn phát triển mạnh về thân, lá, rễ. Đây cũng là thời kỳ cây đậu tương mẫn cảm nhất với điều kiện ngoại cảnh. Thời tiết thuận lợi cho việc nở hoa là lúc nhiệt độ đạt 25 ÷ 280C, độ ẩm không khí khoảng 75 ÷ 80%. Giai đoạn hình thành quả và hạt (R3 đến R5): Giữa thời gian ra hoa và hình thành quả hạt không có ranh giới rõ ràng (thường thấy cả nụ, hoa, quả trên cùng một cây).
Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dưỡng trong thân, lá được vận chuyển về làm cho hạt mảy dần, lúc này sự sinh trưởng của cây bắt đầu chậm lại. Tốc độ tích luỹ chất hữu cơ của hạt tăng nhanh đều cho đến khi hạt chắc. Giai đoạn hạt chín (R5 đến R6): Đây là giai đoạn có thời gian ngắn trong đời sống cây đậu tương và chịu ảnh hưởng nhiều của nhiệt độ. Hạt đạt tốc độ chín sinh lý khi hạt đã cứng lại và có màu sắc điển hình của giống, vỏ quả đã chuyển sang màu vàng hoặc xám đen.
Đậu tương chín cần thời tiết khô ráo, cây có khả năng chịu hạn. Giai đoạn già và chết (R7 đến R8): Cây đậu tương kết thúc vòng đời trong giai đoạn này với khoảng thời gian giao động từ 5 - 7 ngày. Giá trị kinh tế của cây đậu tương Đậu tương là cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Khó có thể tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương.
Sản phẩm của nó làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt. Vì thế cây đậu tương được gọi là "Ông hoàng trong các loại cây họ đậu” Sở dĩ cây đậu tương được đánh giá như vậy bởi lẽ cây đậu tương có giá trị rất toàn diện (Trần Văn Điền, 2007) [2]. Giá trị về mặt thực phẩm: Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5 – 40,0 %, lipid từ 15 – 20 %, hydrat carbon từ 15 - 16 % và nhiều loại muối khoáng quan trọng cho sự sống. Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng.
Lipid của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các acid béo không no (khoảng 60 - 70 %) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như linoleic acid chiếm 8 52 – 65 %, oleic acid từ 25 – 36 %, linolenolic acid khoảng 2 – 3 %. Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg. Hiện nay, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm thực phẩm được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi, khô và lên men. Giá trị về mặt công nghiệp: Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương được dùng để ép dầu.
Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Đặc điểm của dầu đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao: 120 - 127; đông đặc ở nhiệt độ: - 15oC đến -18oC. Từ dầu này người ta chế ra hàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phòng, ni lon…(Trần Văn Điền, 2007) [2]. Giá trị về mặt nông nghiệp: Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc (1 kg hạt đậu tương tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi).
Toàn cây đậu tương (thân, lá, quả, hạt) có hàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân lá tươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp của gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh dưỡng khá cao: N: 6,2 %, P2O5: 0,7 %, K2O: 2,4 %, vì thế làm thức ăn cho gia súc rất tốt. Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu tương nếu sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30 - 60 kg N.
Thân lá đậu tương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm 0,05 %, trong lá: 0,19 % (Trần Văn Điền, 2007) [2]. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương được con người biết đến từ rất lâu và được trồng tại nhiều châu lục ở các vùng sinh thái khác nhau. Diện tích đậu tương tăng lên trong vòng 10 năm qua (giai đoạn 2008 - 2018) và tương đối ổn định đến nay.
Tính đến năm 2018 diện 9 tích đậu tương của thế giới là 124,92 triệu ha (gấp 1,29 lần so với năm 2008), tập trung nhiều nhất tại châu Mỹ (76,47%), tiếp đến là châu Á (16,86 %), châu Âu (4,52 %), châu Phi (1,72 %), riêng châu Đại dương chiếm diện tích không đáng kể. Trong số đó, các nước có diện tích đậu tương lớn nhất thế giới lần lượt là Mỹ (35,65 triệu ha, chiếm 28,53 % diện tích đậu tương thế giới), tiếp đến là Brazil (27,83 %), Acgentina (13,05 %), Ấn Độ (9,12 %) và Trung Quốc (6,38 %) (Theo số liệu tổ chức Nông lương Thế giới, 2022) [169]. Năng suất đậu tương trên thế giới biến động theo từng năm, tuy nhiên chúng có xu hướng tăng lên trong vòng 10 năm, đạt 27,91 tạ/ha năm 2018 và gấp 1,16 lần so với năm 2008. Năng suất đậu tương của châu Mỹ (năm 2018) đạt cao nhất (31,65 tạ/ha) và đạt cao hơn 1,13 lần so với trung bình chung của thế giới (bảng 1.
Trong đó, Mỹ là quốc gia có năng suất đậu tương cao nhất thế giới đạt 34,68 tạ/ha (cao gấp 1,24 lần trung bình chung của thế giới) (bảng 1. Sản xuất đậu tương trên thế giới theo khu vực (năm 2020) TT Diện tích (triệu Năng suất Sản lượng (triệu Vùng ha) (tạ/ha) tấn) 1 Thế giới 124,92 27,91 348,71 2 Châu Mỹ 95,53 31,65 302,42 3 Châu Á 21,07 14,52 30,60 4 Châu Âu 5,65 21,30 12,05 5 Châu Phi 2,61 13,60 3,55 6 Châu Đại dương 0,03 17,02 0,06 (Nguồn: Tổ chức nông lương thế giới, 2022) [169] Sản lượng đậu tương thế giới cũng biến động theo từng năm và đạt 348,71 triệu tấn (năm 2018). Tuy nhiên, sản lượng tăng lên 1,5 lần trong vòng 10 năm qua (giai đoạn 2008 – 2018). Châu Mỹ có sản lượng đậu tương lớn nhất thế giới (302,42 triệu tấn chiếm 86,72 %), tiếp đến là châu Á (8,77 %), các châu lục còn lại sản lượng không đáng kể (bảng 1.
Mỹ là quốc gia có sản lượng lớn nhất với 123,66 triệu tấn chiếm 35,46 % sản lượng của thế giới, các quốc gia có sản lượng lớn lần lượt là Brazil (33,8 10 %), Acgentina (10,83 %), Trung Quốc xếp thứ 4 về sản lượng (4,06 %) và Ấn Độ xếp thứ 5 (chiếm 3,95 %) (bảng 1. Một số quốc gia sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới (năm 2020) TT Diện tích (triệu Năng suất Sản lượng Quốc gia ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1 Mỹ 35,65 34,68 123,66 2 Brazil 34,77 33,90 117,88 3 Acgentina 16,31 23,15 37,78 4 Trung Quốc 7,97 17,80 14,19 5 Ấn Độ 11,40 12,09 13,78 6 Nga 2,74 14,69 4,02 (Nguồn: Tổ chức nông lương thế giới, 2022) [169] 1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Hiện nay nhu cầu của các ngành chế biến, chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm ngày càng tăng nên hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương. Cụ thể năm 2015, số lượng nhập khẩu là 1.707,19 ngàn tấn, trị giá 764,74 triệu USD và đến năm 2020 là 1.870,00 ngàn tấn, trị giá 773 triệu USD (bảng 1.
Nhập khẩu đậu tương của Việt Nam qua các năm Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Số lượng 1. Về năng suất, cũng có sự dao động trong khoảng 14,90 - 16,10 tạ/ha, nhìn chung năng suất đậu tương của Việt Nam thấp hơn nhiều so với bình quân chung của thế giới.