Đặt vấn đề Bến Tre là tỉnh trọng điểm về cây trồng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nổi tiếng bởi vùng đất phù sa trù phú, sản sinh ra vựa lúa lớn và nhiều loại nông sản mang hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, do bat lợi thời tiết và biến đôi khí hậu dẫn đến hệ qua xâm nhập mặn diễn ra phức tap phá hủy cấu trúc đất, giảm kha năng phát triển cây, khiến cây bị stress mặn ảnh hưởng nhiều diện tích lúa, cây ăn quả,. Dé tăng năng suất, người nông dân đã sử dụng biện pháp hóa học nhưng việc lạm dụng phân bón vô cơ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, vi sinh vật trong đất cũng như chất lượng nông sản làm mat cân bằng sinh thái. Lượng phospho trong đất có tới 95 - 99% ở dạng không hòa tan và kết tủa mà thực vật không thể sử dụng theo Hayman (1975) được tồn lại phosphate hữu cơ và phosphate vô cơ.
Hàm lượng phosphat trung bình ở nhiều loại đất thường từ 0,02 - 0,08%. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng phospho bởi cây trồng không quá 25%, trong khi đó một lượng lớn lại bị cô định trong dat và chuyền thành dạng khó tan, cây trồng khó có thé hap thụ. Sử dụng phân vô cơ lâu ngày với liều lượng cao sẽ làm giảm sự đa dang của quan thé sinh vật đất, làm cho đất trồng dần bị thoái hóa, độ phì nhiêu của đất giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đó phytate có nhiều trong đất ở dạng phosphate hữu cơ.
Giải phóng enzyme phytase giúp tăng khả năng cung cấp phospho cho sự hấp thụ của cây trồng và giảm lượng sử dụng phân bón. Nhưng vì thực vật không có quá trình đó trong hệ thống rễ nên giảm khả năng hấp thụ phytase - P từ đất (Singh và Satyanarayana, 2011; Mohsin và ctv, 2017) nên cây trồng cần có sự phân giải các vi sinh vat để tạo dang dé tan hơn. Việc lựa chọn các chủng vi khuẩn vừa có khả năng phân giải lân vừa thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt cũng là yếu tố quan trọng. Vi khuẩn vùng rễ thúc day tăng trưởng thực vật (PGPR - plant growth promoting rhizobacterium) là các chủng từ các chi như Bacillus, Pseudomonas, Actinobacteria, Acetobacter, Azospirillum, Paenibacillus, Serratia, Burkholderia, Herbaspirillum và Rhodococcus (Rodriguez va Fraga, 1999).
Trong số đó Pseudomonas spp. có kha năng chịu mặn, kích thích sinh trưởng thực vật, giảm tác động xấu tới môi trường và lượng phân bón hóa học nhưng vẫn đảm bảo năng suất cây trồng. Vì vậy, dé tài nghiên cứu “Phân lập, tuyên chọn chủng Pseudomonas spp. chịu mặn có khả năng chuyên hóa lân từ đất canh tác nông nghiệp tỉnh Bến Tre” nhằm phân lập được chủng vi khuẩn bản địa chịu mặn, có khả năng phân giải lân, cải tạo đất, kích thích cây trồng sinh trưởng phát triển tốt trên nền đất nhiễm mặn, góp phan cải thiện hiệu quả sử dụng lân, tăng năng suất, chất lượng và ứng dụng sản xuất phân bón vi sinh hoặc bổ sung vào đất góp phan phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu Phân lập và tuyên chọn chủng vi khuan Pseudomonas chịu được ở nồng độ muối cao, có khả năng phân giải lân vô cơ với hiệu suất cao và sinh tổng hợp phytase từ đất canh tác nông nghiệp tỉnh Bến Tre. Nội dung thực hiện Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn Pseudomonas từ đất canh tác nông nghiệp ở tỉnh Bến Tre. Khao sát khả năng chịu mặn của các chủng vi khuẩn phân lập được qua các nồng độ muối khác nhau. Khảo sát khả năng phân giải lân của các chủng vi khuẩn.
Khao sát khả năng sinh tong hop phytase của các chủng vi khuẩn. Định danh bằng sinh học phân tử. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Điều kiện tự nhiên và tinh hình xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre 2.
Điều kiện tự nhiên Bến Tre là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.360 km’, được hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh va do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiên, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên). Tỉnh Bến Tre được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Bến Tre va 8 huyện: Mỏ Cay Bac, Mỏ Cay Nam, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Chợ Lách, Thạnh Phú, với 164 xã, phường và thị tran. Nguồn tai nguyên chủ yếu và quan trọng của tinh là tài nguyên đất nông nghiệp. Năm 2010, diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 179.672 ha, chiếm 76,11% diện tích đất tự nhiên, trong đó diên tích trồng cây ăn trái là 32.023 ha, với sản lượng là 318.469 tan, diện tích trồng mía là 5.865 ha, sản lượng đạt 460.056 tấn, diện tích trồng cây dừa là 51.560 ha, sản lượng đạt 420 triệu trái/năm và lớn nhất nước.
Tình hình xâm nhập mặn Độ mặn là một trong những trở ngại và căng thắng hàng đầu trong việc hấp thu chất dinh đưỡng của cây, yếu tố phô biến nhất ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và sản lượng cây trồng. Theo báo Điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến tháng 3/2020 xâm nhập trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến phức tạp. Độ mặn 4%o đã xâm nhập cách cửa sông 60 km; trên các tuyến sông nhánh, nội đồng, ké cả các đập tạm trữ nước đều bị nhiễm mặn trung bình trên 2%o ở hầu hết các huyện, thành phố. Qua thống kê, Bến Tre hiện có trên 5.200 ha diện tích lúa bị thiệt hại; khoảng 20.000 ha cây ăn trái, 72.000 ha dừa và hơn 1.000 ha cây giống, hoa kiểng có nguy cơ bị ảnh hưởng; tình hình nuôi thủy sản đang gặp khó khăn, có 722 ha diện tích nuôi tôm càng xanh bị ảnh hưởng, xảy ra hiện tượng nghêu chết với số lượng khoảng 1.100 tan, ước thiệt hại khoảng 23 tỷ đồng.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, hạn mặn của năm nay diễn biến rất phức tạp, không theo quy luật. Năm 2023, ngoài xâm nhập mặn còn gắn theo triều cường, triều cường lên rất cao thì đây là tác động kép. Mùa khô 2022 - 2023, nhận định xâm nhập mặn ở mức sớm hơn trung bình nhiều năm. Từ nửa cuối tháng 12 năm 2022, mặn bắt đầu xâm nhập vào khu vực gần cửa sông.
Xâm nhập mặn sâu nhất ở mức xấp xi và thấp hơn mùa khô 2021 - 2022. Độ mặn cao nhất và xâm nhập sâu nhất xuất hiện vào tháng 2 và tháng 3 năm 2023. Dự báo độ mặn 4%o có thể xâm nhập cách các cửa sông khoảng từ 45 - 57 km; độ mặn I%o có thể xâm nhập cách cửa sông khoảng từ 54 - 68 km. Bên cạnh đó, việc lạm dụng quá nhiều phân bón vô cơ diễn ra liên tục trong nhiều năm đã góp phan làm cho đất bị nhiễm mặn.
Dat bị nhiễm mặn có hàm lượng muối tan cao, dẫn đến áp suất thâm thấu của dung dịch đất tăng cao, natri trao đổi ở mức độ cao, dẫn đến tính chat vật lý của đất ngày càng xấu và cũng vì vậy hàm lượng dễ tiêu của một số chất dinh dưỡng cần thiết rất thấp. Tổng quan về vi khuẩn Pseudomonas 2. Đặc điểm phân loại Vi trí phân loại của chi Pseudomonas trên NCBI: Giới: Vi khuẩn Ngành: Proteobacteria Lớp: Gammaproteobacteria Bộ: Pseudomonadales Chi: Pseudomonas 2. Đặc điểm hình thái, sinh ly, sinh hóa Theo Lương Đức Phẩm (2002), Pseudomonas là trực khuẩn gram âm, chuyên động do có các tiên mao mọc ở một đầu.
Trực khuẩn có thể là hình que thăng hoặc hơi cong, không tạo bào tử và phát triển ở điều kiện hiếu khí. Nhiều loại của chi này ưu lạnh, nhiệt độ tối thiểu là - 2 °C đến 5 °C và cũng có khả năng chịu được nhiệt độ cao 35 - 38 °C được tìm thấy nhiều nơi trong nước, đất và các khu vực ẩm ưới. Trong môi trường phân lập đặc hiệu cho Pseudomonas là King B có chứa glycerol, khoáng Mg?' và K2HPOu, kích thích Pseudomonas sinh ra sắc tố màu xanh, nhận điện khuẩn lạc màu xanh lá do sinh sắc t6 làm xanh môi trường, bắt màu huỳnh quang dưới tia UV (Mansoor và ctv, 2007). sản sinh một loạt các sắc tố có thể tan trong nước và khuếch tán vào môi trường nuôi cấy hoặc liên kết với tế bào vi khuẩn như pyoverdine mau vàng xanh (fluorescein) là các siderophore có vai trò sinh lý quan trọng trong việc hấp thu Fe ở vi khuẩn.
Các sắc tố khác được tạo ra bởi các loài 4 Pseudomonas spp. bao gồm pyocyanin (P. aeruginosa, màu xanh da trời), pyorubin (P. aeruginosa, màu đỏ), chlororaphin (P.
chlororaphis, màu xanh lục), pyomelanin (P. aeruginosa, mau den hoặc nâu). mendocina còn có thé tạo ra các sắc tố carotenoid (Ramos và ctv, 2010). Các tính chat sinh hóa chính: oxidase (+); catalase (+); di động (+); cimmons citrate (+).
aeruginosa là trực khuẩn gram âm, hình que, chiều dai 1 - 1,55 ym, đứng một mình hoặc thành đôi, không sinh bảo tử, có khả năng di động nhờ một tiên mao đơn cực. hình thành màng sinh học thường được gọi là trực khuân mủ xanh. aeruginosa có khả năng tạo thành các khuẩn lạc có sắc tố màu lục và sinh sắc tố huỳnh quang ở 42 °C, vi khuẩn còn sinh mùi thơm đặc trưng (giống nho chín), điều này giúp cho việc nhận biết vi khuẩn này trên môi trường rắn trong phòng thí nghiệm theo Engleberg (2019). Vô số Pseudomonas spp.
fluorescens nôi tiếng về khả năng cải thiện sự phát triển và giảm bớt nhiều loại bệnh cây trồng. Chi Pseudomonas chủ yêu được sử dụng làm chế phẩm trồng trọt vì sự xuất hiện nhiều và khả năng trao đôi chất linh hoạt của nó, giúp thúc đây tăng trưởng thực vật theo nhiều cách như trong vùng rễ, vi khuẩn tao ra các kích thích t6 thực vật như auxin, gibberellin, axit abscisic, ethylene, và cytokinin kích thích tăng trưởng thực vật. Vi khuẩn kích thích tăng trưởng vùng rễ (PGPR) Vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng thực vật (Plant Growth Promoting Rhizobacteria - PGPR) là nhóm vi khuẩn phân bố tự do trong đất trên bề mặt rễ hoặc cộng sinh bên trong rễ, sống và phát triển tốt với mật số khá phong phú xung quanh vùng rễ, có khả năng thúc đây tăng trưởng thực vật thông qua việc nâng cao khả năng nảy mầm của hạt, sự phát triển của rễ, sự hấp thu nước và dinh dưỡng khoáng và đóng vai trò quan trọng trong phòng trừ các tác nhân gây bệnh, ức chế bệnh thực vật. Những vi khuẩn này tham gia vào các hoạt động của hệ sinh thái đất góp phần giúp hệ sinh thái trở nên năng động dé chuyên hóa chất dinh dưỡng trong sản xuất nông nghiệp.