MỞ ĐẦU Việt Nam thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, tạo nhiều điều kiện cho hệ sinh vật phát triển, hiện có khoảng 12.000 loài thực vật thuộc 2. Trong đó, nhóm cây thuốc rất được chú ý do giá trị của nó tới sức khỏe con người. Việc sử dụng cây thuốc trong phòng và điều trị bệnh trên cơ thể con người đóng vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á - nơi có nền y học cổ truyền lâu đời. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 85% - 90% dân số trên thế giới sử dụng các loại dược liệu có nguồn gốc thiên nhiên để chữa bệnh.
Tác dụng điều trị thường được xác định dựa trên các hợp chất có hoạt tính sinh học, do đó việc nhận dạng được các hợp chất này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng. Ở nước ta, có khoảng 3.200 loài có giá trị làm thuốc, tuy nhiên phần lớn các loài này hiện còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ ở Việt Nam, nhất là về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học gây ra hạn chế trong việc tận dụng nguồn tài nguyên quý giá này trong các lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm và nông nghiệp. Các loài trong chi Mần tưới (Eupatorium L.) thuộc họ Cúc (Asteraceae) được người dân sử dụng phổ biến trong một số bài thuốc dân gian để chữa một số bệnh như giảm sưng, đau do mụn nhọt, hoạt huyết, điều kinh, giải nhiệt… ở Việt Nam và trên thế giới. Một số loài Eupatorium có ở Việt Nam đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới bao gồm Cỏ lào (E.
fortunei), Yên bạch Nhật (E. Cây Cỏ lào đỏ (Eupatorium adenophorum Spreng. Ageratina adenophora (Spreng.) King & Robinson) thuộc chi Mần tưới (Eupatorium L.), họ Cúc (Asteraceae) là một loài cây xâm lấn, hiếm bị tấn công bởi vi khuẩn, vi nấm và côn trùng, cho thấy có sự tồn tại của một hệ chất chuyển hóa thứ cấp tạo thành cơ chế bảo vệ và xâm lấn của loài thực vật này. Là đối tượng được chú ý trong các nghiên cứu về thành phần hóa học liên quan đến hoạt tính sinh học và sinh thái học E.
adenophorum đã được nghiên cứu ở nhiều nước tuy nhiên các nghiên cứu tương tự chưa được thực hiện trên đối tượng của Việt Nam. Ngoài ra các nghiên cứu về 1 hóa học cũng chỉ được thực hiện chủ yếu với các phần chiết hữu cơ, các hợp chất được chiết tách vào pha nước chưa được nghiên cứu trên thế giới. Hai loài Eupatorium clematideum Griseb. Veldkamp, Praxelis clematidea (Griseb.) và Yên bạch lá kim (Eupatorium capillifolium Lam Small.) chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam và trên thế giới.
Hai loài này cũng được đưa vào sàng lọc về hóa học để chọn lựa được mẫu cho nghiên cứu sâu về các thành phần hoạt chất. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng các phương pháp chiết, phân tách sắc ký để phân lập được các hợp chất từ các phần chiết của hai loài Eupatorium clematideum Griseb. và Yên bạch lá kim (Eupatorium capillifolium Lam Small.) và phần chiết nước từ loài Cỏ lào đỏ (Eupatorium adenophorum Spreng.) và xác định cấu trúc của các hợp chất được phân lập bằng các phương pháp phổ. Qua nghiên cứu sàng lọc các phần chiết từ E.
và Yên bạch lá kim (E. capillifolium) chỉ dẫn đến việc phân lập được một vài hợp chất ent-kaurane diterpene và taraxasterane triterpene và một số hợp chất khác (flavonoid, acid béo) do lượng mẫu thực vật thu được nhỏ, do đó sau sàng lọc hóa học nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phần chiết nước từ loài Cỏ lào đỏ (E. Các nội dung chính của nghiên cứu này là: - Điều chế phần chiết nước từ lá cây Cỏ lào đỏ. - Sử dụng các kĩ thuật sắc kí phân tích, điều chế, tinh chế để phân lập được các hợp chất từ phần chiết nước.
- Sử dụng các phương pháp phổ (MS, NMR) để xác định cấu trúc các hợp chất được phân lập. - Thử nghiệm một số hoạt tính sinh học (ức chế enzym α-glucosidase và acetylcholine esterase) của các hợp chất được phân lập.1 Giới thiệu về họ Cúc (Asteraceae) Họ Cúc (Compositae hay Asteraceae) là một trong những họ lớn nhất của ngành Mộc lan (Magnophyta, Thực vật hạt kín - Angiospermae). Họ Cúc có khoảng 1550 chi với 23000 loài [56], đóng vai trò quan trọng trong hệ thực vật thế giới cũng như hệ thực vật Việt Nam. Đặc điểm hình thái Họ Cúc gồm nhiều chi, nhiều loài, sống ở khắp nơi và trong các môi trường khác nhau, là họ ở vị trí tiến hóa cao nhất, do đó rất đa dạng và phức tạp.
Phần lớn các cây trong họ đều là cây thân cỏ hàng năm hoặc lâu năm, kích thước nhỏ bé, chủ yếu là cây bụi, ít cây gỗ lớn, một số loài leo trườn hoặc là cây thủy sinh. Lá: phiến lá ít nguyên, thường khía răng hay chia thùy. Hình thái lá rất đa dạng và hiện tượng dị hình rất phổ biến nên không thể chỉ căn cứ vào hình thái lá để phân biệt giữa các chi. Ở nước ta có các dạng lá: lá đơn nguyên, có thùy, phân thùy, xẻ thùy và lá kép.
Hoa: luôn tập hợp thành cụm hoa đầu hoặc rổ, các cụm hoa đầu có thể nằm đơn độc hoặc thành chùm, là hoa lưỡng tính nhưng nhiều khi do bộ nhị, bộ nhụy không phát triển, trên cụm hoa có hoa cái, hoa đực hay hoa vô tính. Đài hoa: có cấu tạo rất khác nhau, không có dạng lá và số lượng không cố định trên mỗi hoa. Đa số biến thành mào lông (chùm lông ở đỉnh quả) hoặc mất hẳn ở một số chi. Bộ nhị: gồm 5 nhị bằng nhau, có chỉ nhị luôn đính vào ống tràng và rời nhau, còn bao phấn đính với nhau thành một ống và mở dọc theo kẽ nứt phía trong (trừ một số ít trường hợp có bao phấn rời, gốc bao phấn có tai, gốc bao phân cụt…).
Bộ nhụy: gồm 2 noãn luôn dính lại làm thành bầu dưới 1 ô, trong chứa noãn đảo, đính ở đáy. Vòi nhụy 1, gốc vòi có triền tuyến mật. Đầu vòi nhụy 2 luôn xẻ 2 thùy sâu, phía trong có các núm để tiếp nhận hạt phấn. Hình dạng núm nhụy ổn định, là dấu hiệu khác biệt giữa các chi nên được dùng làm tiêu chuẩn để phân biệt các tông và các chi của họ Cúc.
3 Quả: là quả bế, chỉ có 1 hạt. Vỏ hạt mỏng, phôi lớn và thẳng, không có nội nhũ. Sự đa dạng của quả và mào lông trên đỉnh quả mà họ Cúc có nhiều cá thể, phát tán xa và rộng khắp. Phân bố và sinh thái Họ Cúc ở Việt Nam có biên độ sinh thái loài rộng, có thể bắt gặp các đại diện của chúng ở nhiều nơi.
Nhưng dưới tác động của tự nhiên, sự phân bố của các chi và loài trong họ Cúc theo đai địa hình được thống kê lại: Đai địa hình thấp: (0 - 600) m 46 chi 116 loài Đai địa hình núi thấp: (600 - 1600) m 55 chi 132 loài Đai địa hình núi trung bình: (1600 - 2600) m 56 chi 145 loài Sự phân bố thực vật họ Cúc tập trung tiêu biểu ở khu vực có điều kiện khí hậu á nhiệt đới và ôn đới. Giá trị sử dụng Trong tổng số 374 loài, thì có 181 loài đã biết giá trị sử dụng: - Cây dùng làm thuốc: hoang dại có 85 loài, nhập trồng 16 loài. - Cây trồng làm cảnh: 30 loài. - Cây làm rau ăn: 31 loài mọc tự nhiên, 4 loài trồng.
- Cây làm thuốc trừ sâu: 3 loài. - Cây cho dầu béo và tinh dầu: 12 loài.2 Chi Eupatorium Thuộc tông Eupatorieae, có 1200 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Mĩ, châu Á, châu Phi và được biết đến như nguồn phong phú cung cấp các hợp chất flavonoid và terpenoid có hoạt tính sinh học. Eupatorium là một chi lớn, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, một số loài ở châu Phi và châu Á. Cụ thể, ở Nhật Bản (1965) đã ghi nhận được 5 loài Eupatorium bao gồm E.
Thực vật chí Hong Kong ghi nhận được 4 loài thuộc chi Eupatorium bao gồm E. khi nghiên cứu hệ thực vật Trung Quốc ghi nhận được 14 loài: E. Bên cạnh đó, Địa lý thực vật của chi cũng được tiến hành nghiên cứu chi tiết. và cộng sự nghiên cứu về phát sinh chủng loại và địa lý phát sinh của chi Eupatorium bao gồm 23 loài ở Đông Nam của Bắc Mỹ, 25 loài ở Đông Á và 1 loài ở châu Âu.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chi Mần tưới (Eupatorium) đầu tiên phải kể đến công trình của Loureiro D. khi nghiên cứu hệ thực vật miền nam Việt Nam (1970) đã mô tả 2 loài E. Năm 2003, Nguyễn Tiến Bân đã ghi nhận 10 loài trong chi Mần tưới (Eupatorium) bao gồm E. Năm 2003, Phạm Hoàng Hộ bổ sung thêm 2 loài E.
quaternum DC và E. reesesii Wall, đồng thời mô tả 12 loài Eupatorium này [5]. Công dụng dân gian của một số loài thuộc chi Eupatorium ở Việt Nam Cây Hương thảo (E. fortunei) dùng trừ bọ gà, mạt gà, bọ chét, rệp, mọt, chấy, rận, chữa kinh nguyệt không đều, các chứng đau bụng huyết ứ, sau đẻ máu hôi không sạch, chữa mụn nhọt, chốc lở, chấn thương.
Cây Yên bạch Nhật (E. japonicum) thường dùng trị ho do phong hàn, đau lưng do hàn thấp, kinh nguyệt không đều, dùng dạng thuốc sắc, tán bột uống hoặc giã đắp ngoài. Cây Trạch lan Trung Quốc (E. chinense) thường được dùng trị bệnh bạch hầu, viêm hạch, cảm mạo, sốt cao, viêm phổi, viêm khí quản, thấp khớp, mụn nhọt, rắn cắn [2].3 Đặc điểm thực vật, phân bố và công dụng loài Cỏ lào đỏ (Eupatorium adenophorum Spreng.) Tên khoa học: Eupatorium adenophorum Spreng.
Tên đồng nghĩa: Ageratina adenophora (Spreng. Phân lớp thực vật - Ngành: Magnoliophyta - Lớp: Magnoliopsida - Bộ: Asterales - Họ: Asteraceae - Chi: Eupatorium - Tên Việt Nam: Cỏ lào đỏ Thực vật học Eupatorium adenophorum Spreng. là cây thân thảo lâu năm, chiều cao có tối đa 1,5 m, thân cây có màu đỏ tía, mọc thẳng, có lông nhung. Lá mọc đối, hình trứng đến hình tam giác, dài 7-10 cm, rộng 4-7 cm, đầu lá thuôn nhọn, gốc lá tù hoặc hình nêm.
Phiến lá có nhiều lông ở cả 2 mặt, mang 3 gân chính nổi bật, mép lá khía tai bèo, cuống lá dài 4-5cm, các lá nhỏ dần cho tới cụm hoa. Cụm hoa kép dạng ngù, đầu cụm dài khoảng 6,5 mm, đường kính 6 mm, cuống hoa dài 8-14 mm, có nhiều lông dày đặc, tổng bao hình trụ dài 3-4 mm, có khoảng 25 lá bắc xếp thành 3 hàng. Mỗi cụm hoa mang trung bình 70-80 hoa màu trắng. Quả bế màu đỏ nâu đến đen, dài 1,5 mm, không có lông.1: Cỏ lào đỏ (Eupatorium adenophorum Spreng.