Đặt vấn đề Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế của đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giời có 11 triệu ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng.
Năm 1943, độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [7]. Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn. Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12 triệu ha, tương đương với độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng tự nhiên có 10 triệu ha và rừng trồng có 2 triệu ha.
Để đạt được kết quả như trên, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất rừng cho các tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ. Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống đồi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại. Có được kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo n 2 hướng xã hội hoá nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng. Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo Quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn là nơi lưu giữ những nguồn gen động thực vật có giá trị, trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn. Loài Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ sung vào danh lục các loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN[2] Để tìm hiểu về hiện trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của loài này tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”. Nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần thiết thực vào việc cung cấp những thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, của loài, từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển loài không những ở khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang mà còn áp dụng cho những nơi có điều kiện tự nhiên tương tự.
Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ loài Thiết sam giả lá ngắn và bảo vệ nguồn gen các loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong Khu bảo tồn. Mục tiêu Xác định hiện trạng phân bố tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang. Xác định một số đặc điểm về sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức và có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Sinh viên được làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. Sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn từ cán bộ quản lý và chuyên môn tại địa phương nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho mình để thực hiện tốt công việc sau này. Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố của loài là cơ sở giúp các nhà quản lý Khu bảo tồn và các nhà khoa học xây dựng kế hoạch bảo tồn loài cây này trên địa bàn có hiệu quả và hợp lý. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Việt Nam có 3/4 diện tích là đồi núi và đa phần dân số sống ở nông thôn, canh tác nông nghiệp, như vậy cũng có thể nói đa phần sống trong và gần rừng. Điều kiện kinh tế Việt Nam còn khó khăn cho nên đời sống của nhân dân phụ thuộc nhiều vào rừng, họ khai thác các sản phẩm từ rừng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ.
Trong một thời gian dài họ tác động mạnh vào rừng khiến cho diện tích rừng Việt Nam suy giảm rất nhiều, các loài động thực vật có giá trị ngày càng trở nên quý hiếm, và có nguy cơ tuyệt chủng. Nhất với những loài có giới hạn phân bố hẹp, một trong nhưng loài như thế có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975), hiện số lượng của loài này còn ít mà giới hạn phân bố của chúng lại rất hẹp chính vì thế cần phải có ngay những biện pháp để bảo tồn để bảo vệ loài khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá các loài vật của International Union for Conservation of Nature, chính phủ Việt Nam đã công bố các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài trong sách đỏ Việt Nam. Các loài được xếp vào 9 bậc theo tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), khích thước quần thể (population zize), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation).
+ Tuyệt chủng (EX): Một loài hoặc dưới loài được coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết. + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Một loài hoặc dưới loài được coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh n 5 đã biết và sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử đều không ghi nhận được cá thể nào. + Cực kỳ nguy cấp (CR): Một loài hoặc nòi được coi là cực kì nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong tương lai rất gần. + Nguy cấp (EN): Một loài bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng thấp hơn mức cực kỳ nguy cấp.
+ Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc cực kì nguy cấp (CR) và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong tương lai không xa. + Sắp bị đe dọa (NT): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
+ Ít quan tâm (LC): Least Concern. + Thiếu dữ liệu (DD): Data Deficient. + Chưa được đánh giá (NE): Not Evaluated. Năm 2000, Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, tạo cơ sở cho việc bảo tồn các loài vật quý hiếm trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.
Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Đặc điểm cấu trúc phân bố rừng tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học và lí luận phục vụ cho công tác kinh doanh rừng. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường.
Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi. • Cơ sở sinh thái về cấu rừng Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống.
Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P. Odum (1971)… tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Công trình nghiên cứu của R. Plaudy (1987) [13] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến.