Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự suy thoái của tài nguyên rừng tự nhiên diễn ra trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam là bối cảnh thực tiễn chính được tác giả đặt ra khi bắt đầu nghiên cứu. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc được trích dẫn trong văn bản, hàng năm thế giới mất khoảng 11 triệu ha rừng, riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mất 1,8 triệu ha (tương đương 5.000 ha rừng nhiệt đới mỗi ngày). Tại Việt Nam, độ che phủ rừng giảm từ 43% năm 1943 xuống còn 26% vào năm 1993 do chiến tranh, khai thác bừa bãi và tập quán du canh du cư. Sau khi Chính phủ ban hành Chỉ thị số 286/TTg ngày 02/05/1997 về các biện pháp cấp bách bảo vệ và phát triển rừng, diện tích rừng dần phục hồi, đạt 12 triệu ha (độ che phủ 36,1%) vào năm 2003. Tuy nhiên, áp lực sinh kế và điều kiện sống khó khăn của cư dân vùng cao vẫn tạo ra những tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái rừng tự nhiên, đặc biệt là đe dọa các loài thực vật quý hiếm có vùng phân bố hẹp.

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn (huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) được thành lập theo Quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen động thực vật đặc hữu, trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975). Loài này được xếp vào bậc Sắp nguy cấp (VU) theo Sách đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục đỏ của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), đồng thời được đề nghị bổ sung vào danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Do số lượng cá thể ngoài tự nhiên ít, giới hạn sinh thái hẹp và chịu sức ép từ hoạt động nhân sinh, việc nghiên cứu các đặc tính lâm học và phân bố của loài trở nên cấp thiết.

Mục đích tổng quát của đề tài là xác định đặc điểm phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn, làm cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm bảo vệ loài và bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm tại khu vực.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Xác định hiện trạng phân bố tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
  2. Xác định một số đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975).
  • Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tập trung vào 2 xã có loài phân bố gồm xã Cán Tỷ (thuộc vùng lõi khu bảo tồn) và xã Lùng Tám (thuộc vùng đệm khu bảo tồn), huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập số liệu thực địa từ tháng 2/2014 đến ngày 18/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các cơ sở lý luận lâm sinh học, sinh thái học quần xã và hệ thống phân hạng bảo tồn sinh vật. Tác giả vận dụng khung phân hạng mức độ đe dọa của IUCN và Sách đỏ Việt Nam (từ Tuyệt chủng - EX, Tuyệt chủng trong tự nhiên - EW, Cực kỳ nguy cấp - CR, Nguy cấp - EN, Sắp nguy cấp - VU, đến Sắp bị đe dọa - NT, Ít quan tâm - LC, Thiếu dữ liệu - DD, Chưa đánh giá - NE). Về mặt cấu trúc và tái sinh rừng, nghiên cứu kế thừa lý thuyết phân tầng, ngoại mạo của P. Odum (1971), R. Plaudy (1987), P. Richards (1952, 1959, 1970), Humboldt, Grinsebach, Warming, Raunkiaer, cũng như các nghiên cứu phân loại thảm thực vật và quy luật kết cấu rừng tại Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978, 2000), Trần Ngũ Phương (1970, 2000), Vũ Đình Phương (1987, 2001), Nguyễn Văn Trương (1983), Đồng Sĩ Hiền (1974), Đặng Kim Vui (2002). Về lý thuyết tái sinh rừng, đề tài tiếp cận quan điểm của Van Steenis (1956), G. Baur (1976), Lowdermilk (1927), Nguyễn Vạn Thường (1991), Phùng Ngọc Lan (1984), Phạm Đình Tam (2001), Vũ Tiến Hinh (1991) và Trần Cẩm Tú (1998).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập số liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm ngoại nghiệp:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập báo cáo hiện trạng rừng, tài liệu khí tượng thủy văn, điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn giai đoạn 2010 - 2014.
  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 30 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên đại diện trên các dạng địa hình (sườn núi và đỉnh núi). Kích thước mỗi OTC là $500\text{ m}^2$ ($25\text{ m} \times 20\text{ m}$). Các góc ô được định vị bằng cọc mốc cao 0,5 m và tọa độ địa lý được ghi nhận bằng thiết bị định vị toàn cầu (GPS).
  • Phương pháp điều tra tầng cây gỗ: Tiến hành đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$. Đường kính được đo bằng thước kẹp kính theo 2 chiều vuông góc (Đông - Tây và Bắc - Nam) hoặc đo chu vi $C$ rồi tính theo công thức $D = \frac{C}{\pi}$. Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) được đo chính xác đến 0,2 m. Đánh giá phẩm chất cây theo 3 cấp (A: tốt, thân thẳng, tán cân đối; B: trung bình, hơi cong, tán lệch nhẹ; C: xấu, cụt ngọn, sâu bệnh, rỗng ruột).
  • Phương pháp xác định độ tàn che: Sử dụng phương pháp 100 điểm phân bố đều trên các tuyến điều tra trong OTC, quan sát bằng ống nhòm (thấy trời = 0; thấy 1 nửa trời = 0,5; không thấy trời = 1) để lấy giá trị trung bình.
  • Phương pháp điều tra cây bụi, thảm tươi và cây tái sinh: Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) theo đường chéo (tổng diện tích điều tra tái sinh bằng 5% diện tích OTC). Cây tái sinh ($D_{1.3} < 6\text{ cm}$) được phân loại theo chất lượng (Tốt, Trung bình, Xấu). Độ nhiều của thảm tươi được đánh giá theo thang phân cấp Drude gộp cấp (Soc: che phủ 100%; Cop3: che phủ 61 - 90%; Cop2: che phủ 30 - 60%; Cop1: che phủ < 30%).
  • Phương pháp điều tra lập địa: Quan sát hình thái địa hình, lấy mẫu mô tả đất (độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, màu sắc, tỷ lệ đá lộ đầu, độ ẩm, độ xốp).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán mật độ cây ($N/\text{ha}$), độ phong phú tương đối ($N_i%$), độ ưu thế tương đối ($G_i%$), tần xuất xuất hiện tương đối ($RF_i%$) và xác định tổ thành thông qua chỉ số mức độ quan trọng: $$IVI_i(%) = \frac{N_i% + G_i% + RF_i%}{3}$$ Các loài có $IVI_i \ge 5%$ được xác định là loài tham gia vào công thức tổ thành sinh thái của lâm phần.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên và sự cần thiết bảo tồn các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm. Tác giả giới thiệu khái quát về Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, phân hạng bảo tồn của Thiết sam giả lá ngắn theo Sách đỏ Việt Nam 2007, Danh lục đỏ IUCN và quy định pháp luật. Phần mở đầu cũng xác lập mục đích nghiên cứu, 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi không gian, thời gian nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong quản lý bảo tồn nguồn gen.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cấu trúc rừng nhiệt đới, quy luật tái sinh tự nhiên, và các công trình nghiên cứu về thực vật lá kim quý hiếm (như Pơ mu tại Xuân Liên, Bách vàng, Thông đỏ bắc tại Bát Đại Sơn). Tác giả mô tả chi tiết đặc điểm hình thái học của Thiết sam giả lá ngắn: hệ rễ cọc phát triển ăn sâu và len lỏi vào các kẽ đá vôi; thân tròn thẳng không có bạnh vè, đường kính đạt 40 - 50 cm, chiều cao dưới 20 m, vỏ nâu xám nứt dọc, gỗ lõi màu nâu đỏ có mùi thơm; lá xếp xoắn ốc thành 2 hàng, mặt dưới có 2 dải lỗ khí; nón cái hình trứng dài tới 6 cm, mọc đơn độc rủ xuống ở chồi bên và giải phóng hạt trực tiếp khi chín trên cây.

Bên cạnh đó, chương 2 tổng hợp điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn:

  • Tổng diện tích tự nhiên là 5.534,8 ha; đất có rừng là 4.239,4 ha (chiếm 93,6% đất lâm nghiệp), đất chưa có rừng là 291,7 ha (6,4%).
  • Tổng trữ lượng rừng đạt $380.626\text{ m}^3$ (rừng trên núi đá vôi đạt $207.312\text{ m}^3$ với bình quân $120\text{ m}^3/\text{ha}$; rừng phục hồi tự nhiên đạt $173.314\text{ m}^3$ với bình quân $69\text{ m}^3/\text{ha}$).
  • Dân số trong khu bảo tồn có 8.822 người (1.784 hộ) thuộc 4 xã; dân tộc H'Mông chiếm 81,5%, dân tộc Dao chiếm 10,5%, Tày và Nùng chiếm 7,0%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao (2,6%), canh tác nương rẫy chiếm trên 85% nguồn thu nhập.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là loài Pseudotsuga brevifolia tại xã Cán Tỷ và xã Lùng Tám. Nội dung nghiên cứu gồm 5 vấn đề: đặc điểm sinh thái nơi phân bố (địa hình, đất đai, khí hậu); đặc điểm thảm thực vật (tổ thành tầng cây cao, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi); đặc điểm độ tàn che; đặc điểm cấu trúc đường kính và chiều cao; đề xuất giải pháp bảo tồn. Chương này quy định chi tiết kỹ thuật bố trí 30 OTC ($500\text{ m}^2$) và các ODB ($25\text{ m}^2$), quy trình đo đạc $D_{1.3}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, phẩm chất cây, phương pháp 100 điểm đo độ tàn che, thang Drude và các thuật toán tính toán chỉ số $IVI%$, mật độ cây rừng.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố toàn bộ số liệu điều tra thực nghiệm về sinh thái và cấu trúc loài Thiết sam giả lá ngắn:

  • Về địa hình: Loài chỉ phân bố ở độ cao từ 1.080 m đến 1.269 m (tập trung chủ yếu từ 1.100 m đến 1.270 m) trên các đỉnh và sườn núi đá vôi có độ dốc rất lớn (từ 60% đến 75%). Dưới đai cao 1.000 m không ghi nhận cá thể nào.
  • Về đất đai: Đất feralit mùn hình thành trên đá vôi, tầng đất rất mỏng (10 - 15 cm), tỷ lệ đá lộ đầu sắc nhọn chiếm tới 95%, đá lẫn 15%, thành phần cơ giới thịt nhẹ, màu nâu đen, đất có độ xốp và ẩm độ rất cao nhờ tích lũy thảm mục trong khe đá.
  • Về khí hậu: Vùng phân bố có nhiệt độ trung bình năm $15^\circ\text{C}$, nhiệt độ tối cao $35^\circ\text{C}$, tối thấp tuyệt đối $1^\circ\text{C}$, lượng mưa trung bình từ 2.000 đến 2.400 mm/năm (80 - 90% tập trung từ tháng 4 đến tháng 10), độ ẩm trung bình 82%.
  • Về phân bố số lượng và tái sinh: Số lượng cá thể phân bố không đồng đều giữa các ô tiêu chuẩn. Vị trí sườn núi ghi nhận số lượng cây trưởng thành và tái sinh cao hơn đỉnh núi. Cây tái sinh phân bố cục bộ tại các lỗ trống tán rừng (như OTC 19, 20 ghi nhận 15 cây tái sinh/ô; OTC 27 ghi nhận 10 cây tái sinh/ô), trong khi nhiều OTC không có cây tái sinh nào.
  • Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp bảo tồn: quy hoạch đất đai hợp lý; tăng cường bảo vệ và khai thác hợp lý; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng; giải pháp kỹ thuật lâm sinh nâng cao chất lượng cây tái sinh (mở tán, phát dọn thực bì cục bộ); mở rộng hợp tác bảo tồn; thực thi hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược các kết quả điều tra về vùng phân bố, lập địa, đặc tính sinh học của loài Thiết sam giả lá ngắn tại Bát Đại Sơn, đồng thời đưa ra các kiến nghị quản lý đối với chính quyền địa phương và Ban quản lý khu bảo tồn nhằm ngăn chặn nguy cơ suy giảm nguồn gen.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các chỉ số phân bố và điều kiện sinh thái của loài Thiết sam giả lá ngắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn thông qua hệ thống 30 ô tiêu chuẩn thực nghiệm.

Chỉ tiêu sinh thái / Cấu trúc Giá trị định lượng ghi nhận trong văn bản
Độ cao phân bố 1.080 m – 1.269 m (tập trung từ 1.100 m – 1.270 m so với mực nước biển)
Độ dốc lập địa 55% – 75% (chủ yếu từ 60% – 75%)
Vị trí địa hình Đỉnh núi và sườn gần đỉnh núi đá vôi hiểm trở, vách đá dựng đứng
Tỷ lệ đá lộ đầu 95% (đá vôi sắc nhọn), tỷ lệ đá lẫn 15%
Độ dày tầng đất (mùn) 10 cm – 15 cm (tập trung trong các hốc đá, kẽ nứt)
Đặc tính lý học của đất Đất feralit mùn trên núi đá vôi, màu nâu đen, thành phần thịt nhẹ, rất xốp, ẩm độ cao
Nhiệt độ môi trường Trung bình năm $15^\circ\text{C}$; tối cao $35^\circ\text{C}$; tối thấp tuyệt đối $1^\circ\text{C}$
Lượng mưa trung bình 2.000 mm – 2.400 mm/năm (mùa mưa chiếm 80% – 90%)
Độ ẩm không khí Trung bình 82% (thấp nhất 68%, cao nhất 89%)
Đặc điểm phân bố cá thể Phân bố không đều; sườn núi có số lượng cá thể trưởng thành và tái sinh cao hơn đỉnh núi
Đặc tính tái sinh tự nhiên Tái sinh theo vệt/cụm tại các khoảng trống tán rừng; tái sinh kém ở nơi khép tán

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  1. Quy hoạch đất đai hợp lý: Xác định ranh giới vùng bảo vệ nghiêm ngặt đối với các diện tích rừng có Thiết sam giả lá ngắn phân bố trên đỉnh và sườn núi cao.
  2. Bảo vệ và kiểm soát khai thác: Phối hợp lực lượng kiểm lâm và người dân địa phương tuần tra, nghiêm cấm triệt để việc khai thác cây gỗ và phá rừng làm nương rẫy.
  3. Tuyên truyền, giáo dục cộng đồng: Nâng cao nhận thức cho các cộng đồng dân tộc thiểu số (đặc biệt là người H'Mông, Dao) về giá trị bảo tồn của nguồn gen quý hiếm.
  4. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho cây tái sinh: Tác động điều tiết độ tàn che, phát dọn thực bì dây leo chèn ép quanh các cây con ở lỗ trống nhằm nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cây tái sinh.
  5. Hợp tác trong công tác bảo tồn: Liên kết giữa Ban quản lý khu bảo tồn, các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế để nghiên cứu nhân giống và bảo tồn ngoại vi (ex-situ).
  6. Thực thi chính sách hỗ trợ: Tranh thủ nguồn lực từ Chương trình 135, Chương trình 661 để giao khoán bảo vệ rừng, tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm.

Về đóng góp học thuật, đề tài cung cấp bộ dẫn liệu thực tế về tọa độ, đai cao, độ dốc, đặc tính đất mùn hốc đá và cấu trúc lâm phần có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố tại khu vực Bát Đại Sơn, đóng góp cơ sở dữ liệu cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn về phạm vi và thời gian thực hiện như được thể hiện trong văn bản:

  • Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ tập trung tại 2 xã (xã Cán Tỷ và xã Lùng Tám) trong tổng số 4 xã của khu bảo tồn, chưa thực hiện khảo sát toàn diện tại xã Thanh Vân và Nghĩa Thuận.
  • Thời gian nghiên cứu ngoại nghiệp diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 2 đến tháng 5/2014), chưa theo dõi được đầy đủ chu kỳ vật hậu học các mùa trong năm và động thái sinh trưởng nhiều năm của tầng cây tái sinh.
  • Nghiên cứu chưa thực nghiệm các phương pháp nhân giống nhân tạo (gieo ươm từ hạt hoặc giâm nguồn hom).

Hướng mở rộng được tác giả định hướng:

  • Tiếp tục mở rộng các tuyến điều tra chuyên sâu trên toàn bộ diện tích núi đá vôi của Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.
  • Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm sinh lý nảy mầm của hạt và thử nghiệm kỹ thuật nhân giống phục vụ công tác phục hồi rừng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thực tế cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái thực vật: Tham khảo quy trình thiết kế mạng lưới ô tiêu chuẩn $500\text{ m}^2$ trên địa hình núi đá vôi chia cắt phức tạp, phương pháp đo đếm lâm học và cách ứng dụng chỉ số $IVI%$ trong phân tích cấu trúc rừng.
  • Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn và lực lượng Kiểm lâm Hà Giang: Sử dụng các số liệu tọa độ, đai cao phân bố và đặc điểm tái sinh theo lỗ trống tán rừng để hoạch định các tuyến tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt và lập phương án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh loài Thiết sam giả lá ngắn.
  • Các nhà nghiên cứu thực vật học và bảo tồn nguồn gen: Kế thừa dữ liệu mô tả hình thái rễ, thân, cành, lá, nón cái và điều kiện lập địa khắc nghiệt của loài cây lá kim này để so sánh với các quần thể Pseudotsuga khác trong khu vực.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Thiết sam giả lá ngắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn phân bố ở đai cao và độ dốc nào? Theo kết quả điều tra 30 ô tiêu chuẩn, loài phân bố tự nhiên ở độ cao từ 1.080 m đến 1.269 m (tập trung chủ yếu từ 1.100 m đến 1.270 m) so với mực nước biển, trên các sườn và đỉnh núi đá vôi có độ dốc lớn từ 55% đến 75% (phổ biến từ 60% đến 75%). Ở độ cao dưới 1.000 m không ghi nhận sự xuất hiện của loài.

2. Đất đai nơi loài Thiết sam giả lá ngắn sinh sống có đặc điểm gì? Cây phân bố trên nền địa hình có tới 95% là đá vôi lộ đầu sắc nhọn. Đất ở đây là đất feralit mùn màu nâu đen, tích tụ trong các kẽ đá và hốc đá từ vật rơi rụng của rừng; tầng đất rất mỏng (chỉ dày từ 10 cm đến 15 cm), thành phần cơ giới thịt nhẹ, có độ ẩm và độ xốp rất cao.

3. Kích thước và số lượng ô tiêu chuẩn được bố trí trong nghiên cứu là bao nhiêu? Tác giả đã lập 30 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên đại diện, kích thước mỗi ô là $500\text{ m}^2$ ($25\text{ m} \times 20\text{ m}$). Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tác giả bố trí 5 ô dạng bản diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) theo đường chéo để khảo sát cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi.

4. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn diễn ra như thế nào? Cây tái sinh phân bố không đồng đều và phụ thuộc vào độ mở của tán rừng. Cây tái sinh xuất hiện tập trung nhiều ở các ô tiêu chuẩn có lỗ trống tán rừng (như OTC 19, 20 ghi nhận 15 cây tái sinh/ô; OTC 27 ghi nhận 10 cây tái sinh/ô), trong khi ở các vị trí khép tán rậm rạp hoặc đỉnh núi hẹp, nhiều ô không ghi nhận cây tái sinh nào.

5. Loài Thiết sam giả lá ngắn được xếp ở cấp bảo tồn nào trong Sách đỏ? Loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) được xếp vào bậc Sắp nguy cấp (VU) theo Sách đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục đỏ IUCN, đồng thời được đề nghị đưa vào danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.

Kết luận

Khóa luận của Hoàng Văn Tùng đã làm rõ đặc điểm phân bố tự nhiên và lập địa sinh thái của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang. Kết quả điều tra thực nghiệm 30 ô tiêu chuẩn xác định loài chỉ phân bố ở đai cao từ 1.080 m đến 1.269 m trên núi đá vôi dốc hiểm trở (60% - 75%), sinh trưởng trên lớp đất mùn mỏng 10 - 15 cm trong kẽ đá và có xu hướng tái sinh tập trung tại các lỗ trống tán rừng. Các nhóm giải pháp về quy hoạch phân khu, xúc tiến tái sinh tự nhiên và kết hợp quản lý cộng đồng do tác giả đề xuất là cơ sở kỹ thuật hỗ trợ công tác bảo tồn nguồn gen thực vật lá kim quý hiếm này tại địa phương.