Đặt vấn đề Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học (ĐDSH). Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miễn Điện, Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Đó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P.
công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 - 1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990. Tính tới hết năm 2010 - 2011 - 2012 với nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua nhiều chương trình và dự án, tỷ lệ che phủ rừng của nước ta năm 2010 đạt 39,5%, năm 2011 đạt 40,2%, năm 2013 đạt 40.7% (Tình hình thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2011, 2012, 2013) xong chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên vẫn suy giảm. Việc n 2 mất rừng tự nhiên, dẫn tới đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư.
Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc, Bản Thi và Đồng Lạc chủ yếu là rừng trên núi đá vôi có nhiều loài cây quý hiếm. Trong khu vực có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm; hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Mặc dù có diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể với khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Na Hang.
Hiện trạng rừng ở KBT này còn tương đối nguyên vẹn, nhiều nơi ít bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt Chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Vương tùng, Huỳnh đường, Nghiến, Đinh, Thông pà cò các loài lan hài,. Núi đá vôi là hệ sinh thái rất đặc biệt của nước ta, nó chứa đựng một nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quí giá. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SC NXL là vùng núi đá vôi liền kề với VQG Ba Bể, KBT Na Hang Tuyên Quang. Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép của các làng bản xung quanh.
Vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại KBT đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm. Cũng như các KBT khác, KBTL & SCNXL huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn là nơi lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt loài cây Vương tùng. Để tìm hiểu một số loài thực vật quý, hiếm đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Vương tùng (Murraya galabra Guillaum.) làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý hiếm tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn Tỉnh Bắc Kạn ” n 3 1. Mục đích Dựa trên cơ sở điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh thái và sự phân bố của loài Vương tùng làm cơ sở để đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ loài Vương tùng và bảo tồn nguồn gen loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong KBT.
Mục tiêu - Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Vương tùng trong khu vực nghiên cứu. - Xác định tình hình phân bố tự nhiên của loài Vương tùng trong khu vực nghiên cứu. - Xác định một số đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Vương tùng, từ đó đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Vương tùng, một trong những loài cây rừng quý hiếm có trong KBT. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Việc nghiên cứu giúp tôi củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học. Qua đó giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Thấy được sự đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giá được sự tác động của con người đối với tài nguyên rừng. - Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn loài cây Vương tùng cùng các loài thực vật quý hiếm khác tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
- Đây là tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầu tìm hiểu về các vấn đề đã được nêu trong khóa luận. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Trong những năm nửa cuối của thế kỷ 20, diện tích rừng của Việt Nam đã có những biến động đáng kể; chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học đã và đang bị suy giảm Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần.
∗Về cơ sở sinh học Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường.là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. ∗Về cơ sở bảo tồn Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã có những giải pháp nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ giá trị đa dạng sinh học. Một trong những giải pháp quan trọng là việc thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn quốc. Ngày 8 tháng 9 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành chỉ thị số194-CT về việc thành lập hệ thống rừng đặc dụng với 73 khu, và được chia làm 3 loại: vườn quốc gia (VQG), khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên và khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường.
Ngày 17 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010[17]. Hệ thống này có tổng diện tích gần 2,5 triệu hécta chiếm khoảng 7% diện tích tự nhiên toàn quốc với 126 khu rừng đặc dụng, trong đó có 27 VQG, 49 khu dự trữ thiên nhiên, 13 khu bảo tồn loài/nơi cư trú và 37 khu bảo tồn cảnh quan. Đến tháng 12 năm 2009, số lượng VQG của Việt Nam là 30 khu. n 5 Bên cạnh sự ra đời của hệ thống các khu rừng đặc dụng, Chính phủ cũng đã ban hành các quy định về việc bảo tồn và phát triển các loài động thực vật quý hiếm.
Ngày 17 tháng 1 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số18 - HĐBT về việc quy định danh mục động thực vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt nam, 1986) phần II, Thực vật[3]. Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (Sách đỏ việt Nam, 2007) phần II Thực vật[4], để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau: + Bị tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên(EW) Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau: + Cực kì nguy cấp(CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) Nhóm các loài ít nguy cấp: + Ít nguy cấp: (LR) - Phụ thuộc bảo tồn: (LR/cd) - Sắp bị đe dọa: (LR/nt) - Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc) +Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD) + Không đánh giá: Not Evaluated (NE) Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP)[14].
Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: +IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng).