Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số hiểu biết về kháng sinh 1.1 ðịnh nghĩa kháng sinh Kháng sinh là thuật ngữ Việt Nam phiên âm từ danh từ Hán Việt (kháng sinh tố). Danh pháp quốc tế là antibiotics. Kháng sinh là chất do vi nấm hoặc do vi khuẩn tạo ra, hoặc do bán tổng hợp (như Ampicillin, Amikacin.), có khi là chất hoá học tổng hợp (như chloramphenicol, isoniazid, các quinolon) có tác dụng ñiều trị ñặc hiệu với liều thấp do ức chế một số quá trình sống của vi sinh vật (Hoàng Tích Huyền và cs, 2001 [13] ). Việc phát hiện ra kháng sinh và các ñặc tính của chúng ñã tạo ra một cuộc cách mạng trong y học và cứu loài người thoát khỏi nhiều thảm dịch do vi trùng gây ra.
Trong chăn nuôi, thú y kháng sinh ñược dùng ñể phòng, trị bệnh và kích thích tăng trưởng (FAO/OIE/WHO, 2006 [132]).2 Phân loại kháng sinh ðể giúp cho việc ñịnh hướng lựa chọn cũng như sử dụng thuốc kháng sinh có hiệu quả trong ñiều trị, các nhà khoa học ñã phân loại thuốc kháng sinh dựa trên cơ sở sau: phân loại theo nguồn gốc, theo hoạt phổ kháng khuẩn, theo mức ñộ tác dụng, theo cơ chế tác dụng, theo cấu trúc hoá học. Cách phân loại theo cấu trúc hoá học thường ñược sử dụng nhiều nhất vì hoạt phổ, mức ñộ, cơ chế tác dụng và cấu trúc hoá học gắn bó chặt chẽ với nhau (Hoàng Tích Huyền và cs, 2001 [13], Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [4]). Với cơ sở này, người ta ñã phân loại thuốc kháng sinh ra thành các nhóm sau: nhóm β – lactamin; nhóm Aminoglycosid; nhóm Lincosamid; nhóm Macrolid; nhóm Phenicol; nhóm Tetracyclin; nhóm Polypeptid; nhóm thuốc tổng hợp (Quinolon, 5- Nitroimidazol, dẫn xuất Nitrofuran, các dẫn xuất của Sulfanilamid).3 Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh Muốn phát huy tác dụng tối ña của thuốc, hạn chế các tác hại, ngăn cản khả năng kháng thuốc, cần phải tuân thủ theo ñúng các nguyên tắc sau: Chỉ sử dụng kháng sinh khi có kết luận chắc chắn là bệnh nhiễm khuẩn hoặc khi có kết quả làm kháng sinh ñồ. ðối với mầm bệnh ñã biết, nên dùng các kháng sinh có hiệu lực nhất, ít ñộc.
Lựa chọn ñúng thuốc, ñúng bệnh, dùng liều công kích ngay từ ñầu vì ở liều thuốc ñầu tiên một phần thuốc tự do cần phải kết hợp bão hoà với protein huyết tương. Tránh dùng liều thấp hay tăng dần liều trong quá trình ñiều trị sẽ gây hiện tượng quen thuốc, kháng thuốc. Dùng thuốc kháng sinh càng sớm càng tốt vì lúc này vi khuẩn ñang phát triển và chịu tác dụng của thuốc nhiều nhất. Chọn ñường ñưa thuốc thích hợp, ñủ liều lượng, ñủ liệu trình ñể luôn giữ nồng ñộ thuốc kháng sinh có tác dụng ñiều trị trong cơ thể.
Nếu cần thiết phải thay kháng sinh khác. Nên phối hợp thuốc khi ñiều trị ñể làm tăng khả năng diệt khuẩn, hạn chế hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc của vi khuẩn dẫn tới tăng hiệu quả ñiều trị. Trong thời gian dùng thuốc nên kết hợp bổ sung các loại vitamin và ñiều tiết khẩu phần ăn hợp lí nhằm nâng cao sức ñề kháng của cơ thể.4 Tồn dư kháng sinh và nguy cơ liên quan ñến sự hiện diện của chúng trong thực phẩm Chất tồn dư ñược ñịnh nghĩa trong chỉ thị 86/469 của Thị trường chung Châu Âu như sau: “chất tồn dư là chất có hoạt tính dược ñộng học và các chất 7 chuyển hóa trung gian của chúng cũng như những chất khác ñược ñưa vào trong thịt, tất cả chúng ñược xem như là những chất nguy hiểm ñến sức khỏe người tiêu dùng” (Nguyễn Ngọc Tuân, 2002 [28]). Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cộng ñồng và môi trường, là một trong những nguyên nhân gây ra sự ñề kháng ngày càng mạnh của các vi khuẩn gây bệnh trên người (Aarestrup F.
Về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm, EU ñã quy ñịnh mức giới hạn tồn dư tối ña (MRL – Maximum Residue Limit) của từng loại kháng sinh cho phép sử dụng ñối với từng loại thực phẩm. Mức MRL là một khái niệm dùng ñể ñánh giá hàm lượng ăn vào chấp nhận ñược mà người tiêu thụ hi vọng trong mô bào với một nồng ñộ cao nhất. Giới hạn tồn dư tối ña trong sản phẩm ñộng vật ở mỗi nước có quy ñịnh khác nhau căn cứ vào ñặc ñiểm sinh lí, sinh thái, ñặc ñiểm dinh dưỡng, thói quen ăn uống của người dân từng nước. Giá trị MRL ñược tính bằng hàm lượng chất tồn dư so với khối lượng mô và ñược xác ñịnh bởi 3 yếu tố: - Lượng tối thiểu có tác dụng trên ñộng vật thí nghiệm hay ñiều trị gây ra hiệu quả ñược công nhận.
- ðộ an toàn trong khoảng 1% hay thấp hơn, nếu ñược chấp nhận trong y học, hoặc ñộ an toàn cao hơn 1% nếu có bất cứ bằng chứng nào cho thấy có nguy cơ giống như các thí nghiệm trên những hợp chất tương tự. - Các yếu tố ñể cân bằng các tỉ lệ trong các mô ở một khẩu phần ăn trung bình. Nói chung, không ñược dùng thực phẩm có tồn dư kháng sinh cao hơn MRL. ðể kiểm soát dư lượng kháng sinh trong các sản phẩm có nguồn gốc từ ñộng vật, Uỷ ban Châu Âu ñã ban hành Nghị ñịnh 96/23/EC (CE, 1996 [55]) 8 theo ñó các nước thành viên thuộc Châu Âu hàng năm phải phân tích mẫu của tất cả các sản phẩm của mình.
Các nhóm chất phải kiểm soát ñược nêu rõ trong phụ lục của nghị ñịnh này. Bên cạnh ñó Uỷ ban Châu Âu ñã ban hành quy ñịnh số 2377/90 EC quy ñịnh giới hạn cho phép thuốc thú y trong sản phẩm ñộng vật (EU, 1990 [70]) nay ñược thay thế bằng Quyết ñịnh 37/2010 (EU, 2010 [71]). Liên quan ñến phương pháp phân tích kiểm soát dư lượng kháng sinh trong thực phẩm có nguồn gốc từ ñộng vật, các nước thành viên của Uỷ ban Châu Âu phải ñáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu về hiệu năng của phương pháp phân tích ñược quy ñịnh trong Quyết ñịnh số 2002/657/CE (CE, 2002 [56]).1 Nguyên nhân tồn dư kháng sinh trong thực phẩm - Kháng sinh có thể nhiễm lẫn vào thức ăn do tiếp xúc với môi trường có chứa kháng sinh. - Có thể tồn dư do lỗi kĩ thuật sử dụng thường xuyên kháng sinh trong chăn nuôi ñộng vật (Sundlof S.
và cs, 1990 [92]; Elliott C. và cs, 1994 [67]) như: + Kháng sinh cho vào thức ăn với mục ñích kích thích tăng trọng cho ñộng vật. + Kháng sinh cho vào nước uống ñể phòng bệnh trong mùa dịch bệnh. + Kháng sinh cho vào nước uống ñể chữa bệnh ñộng vật.
+ Kháng sinh cho thêm vào thức ăn ñộng vật ñể bảo quản súc sản lâu hư. + Kháng sinh tiêm vào ñộng vật hoặc cho ñộng vật uống trước khi giết thịt với mục ñích kéo dài thời gian, tránh hư hỏng thịt tươi. - Không tuân thủ theo quy ñịnh về thời gian ngừng thuốc cũng như liều lượng kháng sinh (Paige J. và cs, 1987 [104]; Van Dresser W.
và cs, 1989 [125]; Guest G. và cs, 1991 [78]; Paige J. 9 - Sử dụng kháng sinh ngoài danh mục cho phép dùng trong thú y hoặc dùng thuốc không ñúng chỉ ñịnh cho ñộng vật (Papich M. và cs, 1993 [106]; Kaneene J.
và cs, 1997 [86]; Pestka S. - Có thể cho thẳng kháng sinh vào thực phẩm với mục ñích ức chế, tiêu diệt vi sinh vật ñể bảo quản thực phẩm (Mcevoy J. Do vận chuyển sản phẩm ñi xa, cho kháng sinh vào thực phẩm ñể bảo quản. Tất cả những nguyên nhân trên làm cho sản phẩm chăn nuôi, thủy sản tồn dư kháng sinh, có ảnh hưởng không tốt ñối với người tiêu thụ.2 Các yếu tố ảnh hưởng ñến tồn dư kháng sinh - Liều kháng sinh cung cấp cho con vật, liều dùng càng cao thì thời gian thải trừ của kháng sinh trong mô bào càng chậm.
- Tùy theo từng loại kháng sinh, ñường ñưa thuốc vào cơ thể, giống, loài, tuổi gia súc, gia cầm và tình trạng sức khỏe của con vật. - Loại mô: dư lượng kháng sinh thường cao nhất ở thận, tiếp ñến là gan, cơ, mỡ, da. - Khoảng thời gian ngưng thuốc trước khi giết thịt hoặc trước khi gia cầm ñẻ trứng hoặc gia súc cho sữa càng ngắn thì mức ñộ tồn dư kháng sinh càng cao và ngược lại.3 Ảnh hưởng của dư lượng kháng sinh ñối với sức khỏe cộng ñồng Sự lạm dụng thuốc kháng sinh tất yếu dẫn ñến sự tồn dư trong thực phẩm ảnh hưởng ñến sức khỏe con người (Anadon A. Tác ñộng ñầu tiên là sự thay ñổi khu hệ vi sinh vật ñường ruột qua ñó làm rối loạn chức năng ở người và ñộng vật (Boisseau J.
Các nghiên cứu in vivo trên ñộng vật sống ñể ñánh giá tác ñộng của liều ñiều trị và dư lượng của Tetracyclin làm thay ñổi hệ vi sinh vật ñường ruột ñã ñược làm rõ. Xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng với Tetracyclin, cũng như tác ñộng lên quần thể vi 10 khuẩn hiếu khí, yếm khí và các thay ñổi một số tham số chuyển hóa của hệ vi sinh vật. Trái lại, hàng rào chống lại các Salmonella ngoại sinh ñã ñược duy trì (Perrin-Guyomard A. ðộng vật có thể thải qua phân một lượng lớn vi khuẩn kháng thuốc.
Các vi khuẩn này có thể ñược chuyền sang người do tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp qua thức ăn có nguồn gốc ñộng vật. Chúng có thể khu trú trực tiếp trong ống tiêu hóa của người hoặc có thể trao ñổi các gen kháng thuốc của chúng với các vi khuẩn có tiềm tàng gây bệnh cộng sinh ở ñường ruột (Bogaard A. Việc sử dụng Nitrofuran có khả năng gây ung thư và ñột biến gen. Penicillin tồn dư trong thức ăn có nguồn gốc ñộng vật thường gây dị ứng ñiều này ñã ñược khoa học chứng minh, tuy nhiên trên thực tế trường hợp này rất hiếm gặp (Dayan A.
Nếu so sánh nồng ñộ kháng sinh trong tổ chức khi ñiều trị hoặc phòng bệnh với nồng ñộ tồn dư thì rất ít khả năng gây phản ứng dị ứng ñối với các cá thể mẫn cảm sơ cấp. Trong nhân y nhóm β- lactamin thường gây dị ứng nhiều hơn cả, còn các kháng sinh nhóm macrolid ít có tác dụng phụ và rất ít kháng sinh nhóm này gây phản ứng dị ứng (Dewdney J. Việc lạm dụng kháng sinh làm chất kích thích sinh trưởng có thể gây nên hiện tượng kháng chéo ở người vì các chất tương tự cũng ñược sử dụng trong nhân y. ðó là nguyên nhân xuất hiện các chủng vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc rất nguy hiểm ñối với con người.
Kháng sinh nhóm Aminoglycosid còn gây ngộ ñộc mãn tính trên thính giác và thận.