Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Từ nối thuộc phạm trù tương phản trong văn bản tiếng Việt" của tác giả Lê Thu Lan được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Văn Tình. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9 22 90 20, hoàn thành và bảo vệ năm 2023.
Trong giao tiếp của con người, ngôn ngữ là phương tiện cơ bản và quan trọng nhất để trao đổi thông tin. Dưới góc nhìn của Ngôn ngữ học văn bản bắt đầu từ quan điểm của M. Halliday (1960), đơn vị cơ bản khi sử dụng ngôn ngữ không phải là từ hay câu rời rạc mà là văn bản. Để một chuỗi phát ngôn trở thành văn bản hoàn chỉnh, tính liên kết (cohesion) được xem là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất. Trong số các phương thức liên kết như phép đối, phép lặp, phép liên tưởng, phép thế, phép tỉnh lược và phép tuyến tính, phép nối là phương thức được sử dụng phổ biến nhằm liên kết các phát ngôn và biểu hiện các quan hệ ngữ nghĩa tường minh. Các phương tiện nối trong tiếng Việt rất đa dạng, phân bố theo nhiều phạm trù ngữ nghĩa: hợp – tuyển, nguyên nhân – kết quả, thời gian – không gian, khái quát – cụ thể, tương phản – nhượng bộ. Thực tế nghiên cứu cho thấy các đơn vị từ ngữ nối tiếng Việt đã được khảo sát bước đầu ở một số khía cạnh, nhưng việc nghiên cứu có hệ thống và xác lập mô hình khái quát về nhóm từ nối thuộc phạm trù tương phản trên cả bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa văn bản vẫn là một khoảng trống cần được giải quyết đầy đủ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là mô tả, khái quát hóa mô hình cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa cơ bản giữa hai phát ngôn có chức năng khác nhau trong văn bản (chủ ngôn – phát ngôn đứng làm chủ và kết ngôn – phát ngôn liên kết với chủ ngôn) của nhóm từ nối tương phản; đồng thời tìm ra sự tương đồng hoặc khác biệt về đặc điểm cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ nối tương phản trong ba loại thể văn bản khảo sát: văn bản văn học nghệ thuật, văn bản chính luận và văn bản khoa học.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Xác lập cơ sở lí luận thông qua việc trình bày một số vấn đề lí thuyết của Ngôn ngữ học văn bản, trong đó đi sâu về những tri thức liên quan tới phép liên kết, cụ thể là phép nối và từ nối. Trên cơ sở đó xác định các tiêu chí nhận diện từ nối thuộc phạm trù tương phản;
- Thống kê, miêu tả, phân tích và đối chiếu về mặt cấu trúc hình thức của nhóm từ nối trên. Xác lập mô hình ở bình diện cấu trúc hình thức để có những đặc điểm cấu tạo và vị trí chức năng ngữ pháp của loại từ nối này trong phát ngôn;
- Thống kê, miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm về chức năng ngữ nghĩa (trong phạm vi một ngữ cảnh xác định) của nhóm từ nối trên. Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ nối này được xem xét qua đặc điểm liên kết và giá trị ý nghĩa trong văn bản;
- Tổng hợp lại tất cả các kết quả trên để đưa ra những mô hình khái quát và cố gắng lí giải khái quát được chức năng ngữ pháp ngữ nghĩa của nhóm từ nối này.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ nối thuộc phạm trù tương phản trong văn bản tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở nhóm từ nối tương phản xuất hiện trong các phát ngôn gắn kết với nhau trong văn bản viết (liên kết liên phát ngôn), không khảo sát các phát ngôn riêng lẻ hoặc lời nói trong giao tiếp hội thoại tự nhiên. Ngữ liệu khảo sát được thu thập từ ba loại thể văn bản: văn bản văn học nghệ thuật, văn bản chính luận và văn bản khoa học (khoa học xã hội).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Ngôn ngữ học văn bản ra đời từ những năm 50 và phát triển thành một chuyên ngành độc lập vào cuối những năm 60, thập niên 70 của thế kỷ XX, mở rộng việc nghiên cứu ngôn ngữ sang các đơn vị siêu cú pháp ("chỉnh thể cú pháp phức hợp", "thể thống nhất trên câu"). Tác giả đã phân tích và điểm lại các công trình tiêu biểu ở nước ngoài và trong nước theo tiến trình thời gian:
| Khu vực / Phạm vi | Tác giả & Năm công bố | Tác phẩm / Công trình | Đóng góp và nội dung liên quan |
|---|---|---|---|
| Nước ngoài | M.A.K. Halliday & R. Hasan (1976) | Cohesion in English | Công trình mở đầu về phép liên kết liên câu; phân chia phép nối thành 4 quan hệ ngữ nghĩa: bổ sung (additive), đối lập (adversative), nhân quả (causal), thời gian (temporal). |
| Nước ngoài | J.R. Martin (1992) | English Text – System and Structure | Nghiên cứu văn bản trên bình diện hệ thống – cấu trúc; phân biệt nối bên trong (internal relations) và nối bên ngoài (external relations) theo 5 quan hệ. |
| Nước ngoài | M.A.K. Halliday (1998) | An Introduction to Functional Grammar | Phân chia phép liên kết thành: quy chiếu, thay thế – tỉnh lược, nối, liên kết từ vựng; phép nối chia theo 3 phạm trù: chi tiết hóa, mở rộng, tăng cường. |
| Nước ngoài | David Nunan (1998) | Introduction Discourse Analysis | Trình bày 4 quan hệ nghĩa trong phép nối; giới thuyết về tính mạch lạc (coherence) trong văn bản (1993). |
| Nước ngoài | Peter Collins & Carmella Hollo (2000) | English Grammar - An Introduction | Phân cấp liên kết vĩ mô (deictic, generic, logical signposts) và vi mô (co-reference, substitution, ellipsis); chỉ ra 4 liên kết logic. |
| Nước ngoài | D. Crystal (1992); I.R. Gal'perin (1987) | Các công trình về văn bản và mạch lạc | Gal'perin dành riêng chương IV bàn về mạch lạc (Конгезия) và các mối liên hệ bên trong văn bản. |
| Trong nước | Nguyễn Tài Cẩn & N.V. Stankevich (1973) | Bài báo trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 2) | Đặt nền móng ban đầu về ý tưởng nghiên cứu đơn vị ngữ pháp trên câu trong Việt ngữ học. |
| Trong nước | Trần Ngọc Thêm (1985, 1999, 2001) | Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt | Xây dựng hệ thống lý thuyết liên kết hoàn chỉnh; phân loại phép nối lỏng và phép nối chặt; thiết lập mô hình quan hệ toán học ArB (A.rB và Ar.B). |
| Trong nước | Diệp Quang Ban (1986, 1998, 2002, 2007, 2009) | Văn bản và liên kết trong tiếng Việt; Giao tiếp - Văn bản - Mạch lạc... | Phân loại phép nối theo 6 quan hệ nghĩa (bổ sung, thời gian, nguyên nhân, mục đích, điều kiện, tương phản); phân biệt quan hệ từ và từ ngữ nối kết. |
| Trong nước | Nguyễn Thị Việt Thanh (1994, 1999) | Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt | Phân tầng liên kết ngữ kết học và ngữ dụng học; xác định phép nối thuộc liên kết logic trong liên kết nội dung; chỉ ra mối liên hệ giữa nối chặt và tỉnh lược. |
| Trong nước | Đỗ Hữu Châu (1993, 1994); Nguyễn Thiện Giáp (2007, 2009) | Các công trình về Ngữ dụng học và Dụng học Việt ngữ | Đỗ Hữu Châu gắn mạch lạc với tính lập luận; Nguyễn Thiện Giáp phân tích 4 quan hệ logic, cụm từ nối và cơ chế hồi chỉ, khứ chỉ. |
| Trong nước | Nguyễn Đức Dân (1998, 2016); Nguyễn Chí Hòa (2006) | Logic - ngữ nghĩa từ hư tiếng Việt; Các phương tiện liên kết... | Nguyễn Đức Dân phân tích định hướng nghĩa của từ hư và vai trò dụng học; Nguyễn Chí Hòa nghiên cứu liên từ vượt ngoài phạm vi câu. |
| Trong nước | Các tác giả luận án, luận văn (2013–2021) | Thái Thị Như Quỳnh, Nguyễn Thị Thu, Vũ Thị Huyền Trang, Võ Thị Hường... | Nghiên cứu chuyên biệt các cặp từ nối theo từng phạm trù: hợp – tuyển, tương phản – nhượng bộ, tương phản, kết quả – tổng kết. |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam khảo sát phép liên kết ở quy mô tổng quát, hoặc tiếp cận từ nối trong phạm vi câu ghép nội bộ, hoặc nghiên cứu trên đối tượng lời nói giao tiếp, hoặc đối chiếu song ngữ ở mức độ nhận diện hình thức cú pháp. Riêng nhóm từ nối thuộc phạm trù tương phản chưa được khảo sát một cách toàn diện, độc lập và có hệ thống trên cả hai bình diện cấu trúc phát ngôn (vị trí, mô hình đối ứng chủ ngôn – kết ngôn) và ngữ nghĩa liên kết (giá trị lập luận phản đề, định hướng nghĩa) trong các phong cách chức năng văn bản viết cụ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng khung lý thuyết của Ngôn ngữ học văn bản (Textual Linguistics) và Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) làm nền tảng xuất phát điểm. Các khái niệm, công cụ phân tích và phạm trù học thuật được luận án xác lập gồm:
- Khái niệm câu và phát ngôn: Câu là đơn vị ngôn ngữ trừu tượng thuộc hệ thống, được tạo nên bởi các quy tắc kết hợp ngữ pháp với nòng cốt chủ – vị. Phát ngôn (utterance) là đơn vị hiện thực của câu trong hoạt động giao tiếp cụ thể. Luận án tiếp thu định nghĩa của Trần Ngọc Thêm (1999): phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn có cấu trúc và nội dung nhất định, được tách ra hoàn chỉnh về hình thức (ở dạng viết bắt đầu bằng chữ hoa, kết thúc bằng dấu ngắt câu). Phát ngôn là đơn vị hạt nhân của liên kết văn bản; phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp là câu, phát ngôn chưa hoàn chỉnh là ngữ trực thuộc.
- Khái niệm chủ ngôn và kết ngôn: Chủ ngôn (kí hiệu: A) là phát ngôn đứng trước làm chủ; kết ngôn (kí hiệu: B hoặc rB) là phát ngôn đi sau liên kết với chủ ngôn. Khái niệm này được sử dụng theo quan điểm ngữ pháp văn bản của Trần Ngọc Thêm (1985), phân biệt với khái niệm "chủ ngôn" (người nói) và "đối ngôn" (người nghe) trong lý thuyết hội thoại.
- Khái niệm văn bản (text) và diễn ngôn (discourse): Văn bản là sản phẩm ngôn ngữ ở dạng viết có tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa và hoàn chỉnh về cấu trúc; diễn ngôn bao quát toàn bộ sản phẩm ngôn ngữ trong giao tiếp (cả nói và viết).
- Tính liên kết (cohesion) và Mạch lạc (coherence): Liên kết gồm liên kết hình thức (cấu trúc) và liên kết nội dung (chủ đề và logic). Mạch lạc là mạng mạch tích hợp bên trong, là điều kiện quyết định tính văn bản.
- Phép nối và Từ nối: Phép nối là phương thức liên kết sử dụng các phương tiện nối (từ nối, kí hiệu: r) để làm bộc lộ quan hệ logic – ngữ nghĩa giữa các phát ngôn. Từ nối thuộc nhóm từ hư, không có ý nghĩa từ vựng độc lập mà mang ý nghĩa ngữ pháp, đảm nhiệm hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng biểu hiện ngữ nghĩa quan hệ. Luận án phân biệt:
- Phép nối lỏng: phương tiện nối (thành phần chuyển tiếp, phụ tố) không làm biến đổi cấu trúc phát ngôn, hai phát ngôn độc lập về cấu trúc cú pháp;
- Phép nối chặt: phương tiện nối (liên từ, quan hệ từ) xuất hiện ở đầu hoặc cuối phát ngôn, biến phát ngôn chứa nó thành ngữ trực thuộc nối phụ thuộc vào chủ ngôn;
- Mô hình khái quát phép nối: ArB, triển khai thành hai mô hình cơ bản là $A.rB$ (liên kết hồi quy) và $Ar.B$ (liên kết dự báo).
| Bình diện / Phương pháp | Bản chất thao tác thực hiện trong luận án | Mục đích và phạm vi áp dụng |
|---|---|---|
| Phương pháp phân tích diễn ngôn | Phương pháp chủ đạo; khảo sát các phát ngôn có từ nối tương phản trong mối quan hệ ngữ cảnh cụ thể. | Giải mã ngữ nghĩa chuỗi phát ngôn, làm rõ quan hệ lập luận và chức năng giao tiếp văn bản. |
| Phương pháp miêu tả | Quan sát trực tiếp các phát ngôn thể hiện tường minh trên bề mặt văn bản. | Phân tích cấu trúc hình thức, vị trí xuất hiện của từ nối và các đặc điểm ngữ nghĩa của chuỗi phát ngôn. |
| Thủ pháp thống kê định lượng | Thu thập, thống kê tần suất và số liệu từ các tài liệu, sách, bài báo và tác phẩm ngữ liệu. | Xác định mức độ phổ biến, tần suất xuất hiện của từng từ nối trong từng loại thể văn bản. |
| Thủ pháp thống kê phân loại | Thu thập thông tin định lượng để phân chia nhóm từ nối tương phản thành các tiểu nhóm chức năng. | Phục vụ miêu tả, so sánh đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp và phân loại ngữ nghĩa của từng từ nối. |
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được chọn lọc từ ba loại thể văn bản tiếng Việt: văn bản văn học nghệ thuật, văn bản chính luận và văn bản khoa học xã hội, bảo đảm tính xác thực và đáp ứng mục tiêu khảo sát cấu trúc liên kết liên phát ngôn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 đóng vai trò nền tảng lý luận cho toàn bộ công trình. Nội dung chương tập trung vào hai phần chính:
Thứ nhất, tổng quan lịch sử nghiên cứu về văn bản, liên kết và phép nối. Tác giả tổng thuật có hệ thống các lý thuyết ngôn ngữ học văn bản trên thế giới từ giai đoạn hình thành những năm 1960–1970 (với các công trình của Halliday, Hasan, Martin, Nunan, Collins, Hollo, Gal'perin, Crystal) đến quá trình tiếp nhận và phát triển tại Việt Nam từ thập niên 1980 (với các nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn, Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Việt Thanh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Phạm Văn Tình...). Qua điểm luận, tác giả khẳng định phép nối đã được phân chia thành nhiều nhóm quan hệ ngữ nghĩa (bổ sung, thời gian, nguyên nhân, mục đích, điều kiện, tương phản – nhượng bộ), nhưng riêng nhóm tương phản chưa có công trình khảo cứu chuyên biệt ở cấp độ văn bản.
Thứ hai, xác lập khung cơ sở lý thuyết của đề tài. Tác giả giới thuyết tường minh các khái niệm công cụ: phát ngôn và câu, văn bản và diễn ngôn, liên kết hình thức và liên kết nội dung, mối quan hệ giữa tính liên kết và tính mạch lạc, bản chất từ hư của từ nối trong tiếng Việt. Tác giả tiếp thu và chuẩn hóa mô hình hình thức của phép nối từ quan hệ hai ngôi $ArB$, phân lập hai nhánh $A.rB$ (kết ngôn chứa từ nối thực hiện liên kết hồi quy về chủ ngôn) và $Ar.B$ (chủ ngôn chứa từ nối thực hiện liên kết dự báo đến kết ngôn). Đồng thời, chương 1 phân định ranh giới giữa phép nối lỏng (dùng từ ngữ chuyển tiếp, phụ từ) và phép nối chặt (dùng quan hệ từ tạo ngữ trực thuộc nối).
Chương 2: Liên kết cấu trúc của nhóm từ nối tương phản trong văn bản tiếng Việt
Chương 2 tập trung khảo sát nhóm từ nối tương phản trên bình diện cấu trúc hình thức và cơ chế tổ chức phát ngôn trong văn bản tiếng Việt:
- Phân loại nhóm từ nối theo phạm trù tương phản: Luận án xác lập quan điểm và tiêu chí phân loại dựa trên đặc điểm cấu tạo hình thức, vị trí cú pháp và chức năng liên kết; tiến hành phân loại nhóm từ nối tương phản thành các tiểu nhóm cụ thể phục vụ miêu tả.
- Cơ chế liên kết của kết cấu tương phản: Phân tích cơ chế liên kết tường minh (thông qua chỉ dấu từ nối xuất hiện trên bề mặt văn bản) và liên kết ngữ nghĩa; xác lập mối quan hệ đối ứng giữa phát ngôn chủ ngôn ($A$) và phát ngôn kết ngôn ($B$) qua 4 mô hình cơ bản trong tổ chức văn bản.
- Khảo sát cấu trúc tương phản điển hình qua từ nối "nhưng/song":
- Xác định cấu trúc nghĩa và mô hình liên kết của từ "nhưng";
- Khảo sát phạm vi liên kết của "nhưng" (bao gồm liên kết nội bộ câu ghép và liên kết vượt ra ngoài phạm vi câu – liên kết giữa các phát ngôn độc lập);
- Phân tích đặc điểm cấu trúc nghĩa trong mô hình, chức năng tạo nghĩa tương phản trong thành phần câu và chức năng biểu hiện nghĩa lâm thời trong ngữ cảnh cụ thể;
- Miêu tả cấu trúc và công năng liên kết của các tổ hợp mở rộng: tổ hợp "nhưng cũng" và tổ hợp "nhưng mà".
Chương 3: Liên kết ngữ nghĩa của nhóm từ nối tương phản trong văn bản tiếng Việt
Chương 3 đi sâu phân tích ngữ nghĩa liên kết và giá trị lập luận của các tiểu nhóm từ nối tương phản cụ thể khi hành chức trong chuỗi phát ngôn:
- Tiểu nhóm từ nối "nhưng/ song": Đây là nhóm từ nối tương phản điển hình nhất, biểu thị quan hệ đối lập trực tiếp hoặc ngược hướng lập luận giữa thông tin ở chủ ngôn và kết ngôn. Kết ngôn chứa "nhưng/song" đưa ra một thông tin hạn định, bác bỏ hoặc chuyển hướng đánh giá so với tiền đề ở chủ ngôn.
- Tiểu nhóm từ nối "tuy nhiên/ tuy vậy": Đảm nhận chức năng chuyển tiếp lỏng, biểu thị sự hạn chế, bổ sung hoặc điều chỉnh một phần khía cạnh của thông tin đã được khẳng định ở chủ ngôn mà không phủ định hoàn toàn chủ ngôn.
- Tiểu nhóm từ nối "mặc dù/ mặc dầu": Vận hành theo cơ chế nhượng bộ – tương phản; chủ ngôn hoặc vế chứa "mặc dù" nêu lên một sự tình nhượng bộ (chấp nhận một tiền đề/sự thật), làm nền tảng để kết ngôn đưa ra một kết quả hoặc nhận định trái với quy luật hay dự đoán thông thường.
- Tiểu nhóm từ nối "dẫu sao/ dù sao": Thể hiện sắc thái tình thái đánh giá; kết ngôn chứa "dẫu sao/dù sao" biểu đạt sự khẳng định một kết luận, nhận xét hay thực tế căn bản vẫn giữ nguyên giá trị, bất chấp những yếu tố bất lợi, hạn chế đã nêu ở chủ ngôn.
- Tiểu nhóm từ nối "trái lại/ ngược lại": Biểu hiện quan hệ tương phản đối lập nhị phân tuyệt đối; kết ngôn đưa ra một sự tình, thuộc tính hoặc hành động hoàn toàn đối nghịch với nội dung của chủ ngôn nhằm mục đích so sánh đối chiếu hoặc lập luận phản đề.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn:
-
Về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án là công trình khảo sát, phân tích và miêu tả toàn diện, có hệ thống về nhóm từ nối thuộc phạm trù tương phản trong tiếng Việt trên hai phương diện cấu trúc phát ngôn và ngữ nghĩa liên kết, dựa trên nguồn ngữ liệu thực tế từ văn bản văn học nghệ thuật, văn bản chính luận và văn bản khoa học xã hội.
- Luận án làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa suy luận, lập luận trong chuỗi phát ngôn mang lập luận phản đề thông qua các mô hình liên kết đối ứng giữa chủ ngôn và kết ngôn.
- Luận án giải quyết câu hỏi mang tính giả thuyết: khẳng định từ nối đóng vai trò là chỉ dấu liên kết văn bản, đồng thời làm rõ sự biểu hiện tương tác giữa liên kết cấu trúc (hình thức định vị, tạo mô hình) và liên kết ngữ nghĩa (định hướng nghĩa, xác lập quan hệ lập luận).
- Góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về các phép liên kết và phương tiện liên kết trong tiếng Việt theo Ngôn ngữ học văn bản và Phân tích diễn ngôn, đồng thời bổ sung cơ sở lý luận cho lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.
-
Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Cung cấp luận cứ và ngữ liệu hữu ích cho việc biên soạn và biên tập từ điển tiếng Việt (đặc biệt là việc giải nghĩa các hư từ, từ nối trong ngữ cảnh liên kết vượt câu);
- Ứng dụng trong biên soạn giáo trình chuyên khảo, giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, phân tích diễn ngôn và phong cách học;
- Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, giúp người học nhận diện chính xác cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ nối tương phản;
- Hỗ trợ người sử dụng ngôn ngữ, người dạy, người học và người nghiên cứu tạo lập văn bản (nói và viết) một cách chuẩn xác về ngữ nghĩa và logic lập luận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế và hướng nghiên cứu được xác định dựa trên phạm vi và giới thuyết của đề tài:
- Hạn chế: Do tính chất chuyên biệt của đề tài, luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở nhóm từ nối thuộc phạm trù tương phản trong văn bản viết thuộc ba loại thể (văn học nghệ thuật, chính luận, khoa học xã hội). Luận án không đi sâu vào khảo sát lời nói hội thoại tự nhiên, không bao quát các loại thể văn bản hành chính hay báo chí đưa tin đơn thuần, và không nghiên cứu các phạm trù từ nối khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các nhóm từ nối thuộc các phạm trù ngữ nghĩa khác trong tiếng Việt (hợp – tuyển, nguyên nhân – kết quả, thời gian – không gian, giải thích – minh họa);
- Mở rộng khảo sát trên các loại thể diễn ngôn đa dạng khác như diễn ngôn báo chí truyền thông hiện đại và diễn ngôn mạng xã hội;
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ chuyên sâu về từ nối tương phản giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán) nhằm phục vụ công tác dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Ngôn ngữ học ứng dụng: Luận án cung cấp khung phương pháp luận rõ ràng về phân tích diễn ngôn và phân tích ngữ nghĩa – cú pháp liên phát ngôn.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Dùng làm tài liệu giảng dạy các học phần Ngôn ngữ học văn bản, Ngữ pháp tiếng Việt, Dụng học tiếng Việt, Phong cách học và Phân tích diễn ngôn.
- Giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo hệ thống mô hình cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của các từ nối tương phản ("nhưng", "tuy nhiên", "mặc dù", "dẫu sao", "trái lại") để hướng dẫn người nước ngoài sử dụng liên từ chính xác khi tạo lập đoạn văn và bài viết.
- Người làm công tác biên soạn từ điển và sách giáo khoa: Tham khảo các tiêu chí nhận diện và miêu tả ngữ nghĩa của nhóm từ hư liên kết trong ngữ cảnh hoạt động thực tế.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình:
- Chương 1: Phần tổng quan lý thuyết về mô hình $ArB$, phân biệt phát ngôn – câu và cơ chế liên kết lỏng – liên kết chặt.
- Chương 2: Bốn mô hình cơ bản về mối quan hệ đối ứng chủ ngôn – kết ngôn và các phân tích cấu trúc về từ "nhưng/song".
- Chương 3: Các bảng mô tả và phân tích ngữ nghĩa lập luận đối với 5 tiểu nhóm từ nối tương phản.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "câu" và "phát ngôn" dựa trên những tiêu chuẩn nào?
Luận án phân biệt câu là đơn vị ngôn ngữ trừu tượng thuộc hệ thống ngữ pháp, được tạo thành từ các quy tắc kết hợp và có nòng cốt là cấu trúc chủ – vị. Ngược lại, phát ngôn (utterance) là đơn vị hiện thực của câu trong hoạt động giao tiếp cụ thể, gắn liền với văn cảnh và mục đích nói. Theo Trần Ngọc Thêm (1999) mà luận án trích dẫn, phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn được tách ra hoàn chỉnh về mặt hình thức (viết hoa chữ cái đầu và kết thúc bằng dấu ngắt câu). Phát ngôn có thể có cấu trúc trọn vẹn là câu (câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa) hoặc không hoàn chỉnh (ngữ trực thuộc).
2. Mô hình liên kết tổng quát của phép nối trong luận án được biểu diễn như thế nào?
Luận án tiếp thu mô hình liên kết quan hệ hai ngôi $ArB$ do Trần Ngọc Thêm đề xuất, trong đó $A$ là phát ngôn chủ ngôn, $B$ là phát ngôn kết ngôn, và $r$ là phương tiện nối (từ nối). Do $r$ luôn nằm ở một trong hai phát ngôn nên mô hình $ArB$ được chia thành hai dạng thức cơ bản: mô hình $A.rB$ khi $r$ nằm ở kết ngôn (thực hiện liên kết hồi quy về chủ ngôn) và mô hình $Ar.B$ khi $r$ nằm ở chủ ngôn (thực hiện liên kết dự báo đến kết ngôn).
3. Phép nối lỏng và phép nối chặt khác nhau ở những điểm cốt lõi nào?
Theo cơ sở lý thuyết của luận án, phép nối lỏng là phương thức liên kết sử dụng các phương tiện từ vựng (từ, cụm từ chuyển tiếp như cuối cùng, ngoài ra, vì thế, hoặc phụ từ như cũng, lại, vẫn) không làm biến đổi cấu trúc cú pháp của kết ngôn, hai phát ngôn độc lập về mặt cấu trúc. Phép nối chặt là phương thức liên kết sử dụng quan hệ từ (nhưng, vì, bởi vì, nếu) ở đầu hoặc cuối phát ngôn, biến phát ngôn chứa nó thành ngữ trực thuộc nối, khiến phát ngôn này mất đi tính độc lập hoàn chỉnh về cấu trúc và phụ thuộc chặt chẽ vào chủ ngôn.
4. Chương 3 của luận án khảo sát ngữ nghĩa liên kết của những tiểu nhóm từ nối tương phản cụ thể nào?
Chương 3 của luận án tiến hành khảo sát và phân tích ngữ nghĩa liên kết của 5 tiểu nhóm từ nối tương phản cụ thể trong tiếng Việt: (1) Từ nối "nhưng/ song"; (2) Từ nối "tuy nhiên/ tuy vậy"; (3) Từ nối "mặc dù/ mặc dầu"; (4) Từ nối "dẫu sao/ dù sao"; (5) Từ nối "trái lại/ ngược lại".
5. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được trích xuất từ những nguồn văn bản nào?
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được khảo sát và trích xuất từ ba loại thể văn bản tiếng Việt chính: văn bản văn học nghệ thuật, văn bản chính luận và văn bản khoa học (tập trung vào các văn bản khoa học xã hội).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Từ nối thuộc phạm trù tương phản trong văn bản tiếng Việt" của tác giả Lê Thu Lan là một công trình nghiên cứu hệ thống về phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa của nhóm từ nối tương phản trong tiếng Việt dưới ánh sáng của Ngôn ngữ học văn bản và Phân tích diễn ngôn. Công trình đã làm rõ cơ chế tổ chức của các phát ngôn chứa từ nối qua các mô hình liên kết hình thức đối ứng giữa chủ ngôn và kết ngôn, đồng thời phân tích chi tiết các đặc trưng ngữ nghĩa suy luận và cấu trúc lập luận phản đề của 5 tiểu nhóm từ nối tương phản tiêu biểu. Các kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho việc bổ sung lý luận về phép nối tiếng Việt và cung cấp cứ liệu khoa học ứng dụng cho việc biên soạn từ điển, giáo trình chuyên khảo cũng như công tác giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.