Chương 1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Lâm Đồng. Tổng quan về sạt trượt mái taluy.Đề xuất phương pháp ổn định mái ta luy bằng phương pháp neo trong đất cho đường giao thông ở tỉnh Lâm Đồng. 3 CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH LÂM ĐỒNG 1.
Đặc điểm địa hình, địa chất , khí hậu , thủy văn tỉnh Lâm Đồng 1.1 Vị trí địa lý Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên, nằm trên cao nguyên cao nhất của vùng đất Tây Nguyên, nằm giữa các toạ độ địa lý: X=11012’-12015’ vĩ độ Bắc Y=107015’-108045’ kinh độ Đông. Tỉnh Lâm Đồng có diện tích 9.773,54km2 chiếm 2,9% diện tích cả nước, phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, Đăk Nông, phía Đông Nam giáp các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và Đồng Nai. Đường ranh giới tỉnh Lâm Đồng phía Bắc là các sông Đa Dâng, Krông Knô; phía Đông đi ngang qua phía Đông núi Bi Đúp, núi Kanan, núi Yàng Kuet; phía Nam là núi Yam, núi Marông, núi Đrơnăng; phía Tây là sông Đồng Nai. Lâm Đồng nằm trọn trong nội địa của nước Việt Nam, không có đường biên giới quốc gia và bờ biển.
Ngoài Thành phố Đà Lạt và thành phố Bảo Lộc ,tỉnh Lâm Đồng còn có 10 huyện: Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lâm, Lạc Dương, Đạ Huoai, Đa Tẻh, Cát Tiên, Lâm Hà, Đam Rông.1) Đà Lạt nằm trên một cao nguyên tương đối phẳng cao khoảng 1500m. Thành phố này cách thành phố Hồ Chí Minh 300km, Biên Hoà 270km, Vũng Tàu 340km, Nha Trang 140km theo đường bộ. Đây là nơi lý tưởng cho du lịch nghỉ dưỡng, đào tạo và nghiên cứu, ở độ cao này, Đà Lạt luôn có khí hậu mát mẻ. 4 No table of figures entries found.1: Bản đồ địa chính tỉnh Lâm Đồng 1.Đặc điểm địa hình: Lâm Đồng thuộc khu vực Nam Tây Nguyên nằm trên ba cao nguyên lớn xen kẽ giữa núi cao và thung lũng nên địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt và phân bố theo quy luật giảm dần độ cao từ Đông Bắc xuống Tây Nam.
Đỉnh Lang Biang cao 2.167m, là một trong những điểm cao nhất của Lâm Đồng. Cao nguyên Lâm Viên là cao nguyên đất đỏ tương đối bằng phẳng rộng khoảng 200km2. Phía Bắc tỉnh là núi, phân bố từ Đông sang Tây, có đỉnh Yang Đông cao 1. Sát ngay Đà Lạt, có các đỉnh Đan Sê Na cao 1.950m, Lang Bian cao 2.
Giữa hai dãy núi này là nơi bắt nguồn của các dòng sông Đa Dâng chảy về Đồng Nai, sông Cái chảy về Nha Trang. Phía Nam của hai dãy núi là cao nguyên Lang Bian, trong đó có thành phố Đà Lạt ở độ cao 1. Phía Đông Nam tỉnh có cao nguyên nhỏ Di Linh cao 5 1.010m, khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà chảy vào Đồng Nai. Thành phố Đà Lạt và năm huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Đơn Dương, Đức Trọng, Đam Rông nằm ở vùng có độ cao địa hình biến thiên từ 800 2000m cao hơn so với các huyện thị khác trong toàn tỉnh Lâm Đồng.
- Dạng địa hình bao gồm các dạng: Núi cao, đồi núi thấp, thung lũng và cao nguyên, với độ cao địa hình biến thiên 800 1.500m, độ cao trung bình là 1000m so với mặt biển. + Dạng địa hình núi cao phân bố ở phía Đông - Đông Bắc và kéo dài thành dải vòng xuống phía Nam, chiếm khoảng 60% diện tích toàn tỉnh, tập trung ở các huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Đam Rông (cao độ trung bình trong khoảng 1200 1500m, cao độ đỉnh Lang Bian: 2167m). + Dạng địa hình đồi núi thấp chiếm 17% diện tích toàn tỉnh, phân bố theo dải kéo dài ở phía Tây - Tây Bắc và một số phần phía nam. Kiểu địa hình này có độ cao 800 1000m.
+ Dạng địa hình thung lũng gồm thung lũng của 6 con sông lớn: Đa Dâng, Đa Nhim, Đa Quyenon, La Ngà, Đạ Huoai và Đạ Tẻh, chiếm khoảng 3% diện tích toàn tỉnh. Dạng địa hình thung lũng trải rộng dưới chân núi tập trung ở hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng. Dạng địa hình thung lũng có dạng chữ U và chữ V, lòng máng trũng và mở rộng dạng địa hào. Khu vực này có cao độ địa hình trung bình 800 1200m.
+ Dạng địa hình cao nguyên phân bố thành từng vòm gần như nối tiếp nhau tạo thành dải ở gần trung tâm và chạy theo phương Đông Bắc - Tây Nam, chiếm 20% diện tích toàn tỉnh. Hai cao nguyên lớn là cao nguyên Lang Bian và cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc. Dạng địa hình cao nguyên như thành phố Đà Lạt bao gồm các đồi thoải, bao quanh là các thung lũng, với cao độ biến thiên trong khoảng 1400 1500m. 6 Địa hình đa dạng đã tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp.
Là vùng đầu nguồn của nhiều con sông do đó có tiềm năng to lớn về thủy điện. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, độ dốc lớn, nhiều đứt gãy, sông, suối, vực sâu gây nhiều khó khăn tốn kém trong việc đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đặc biệt là giao thông, hạn chế giao lưu phát triển kinh tế. Thiếu quỹ đất phát triển đô thị, cơ sở sản xuất tập trung, chi phí xây dựng lớn. Độ dốc lớn nên đất dễ bị trôi rửa và bào mòn.
Đặc điểm khí tượng, khí hậu Lâm Đồng nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo bị chi phối bởi quy luật độ cao và ảnh hưởng của địa hình. Các vùng núi cao khá nhạy cảm với các biến đổi thời tiết của khu vực, có lượng bức xạ dồi dào, khí hậu ôn hoà, quanh năm mát mẻ với hai mùa mưa nắng rõ rệt, mưa nhiều, mùa khô ngắn, lượng bốc hơi thấp, không có bão. Nhiệt độ trung bình vùng có độ cao từ 800m trở lên từ 15,6oC 23,6oC, nhiệt độ vào tháng XII và tháng I có năm xuống tới 6 8oC. Lượng mưa trung bình năm từ 1800 2800mm, độ ẩm không khí 70 90%, tháng có độ ẩm bình quân cao là vào mùa mưa từ tháng IV đến tháng XI.
Số giờ nắng bình quân trong năm 2150 2250 giờ. Các vùng có độ dốc lớn, trong các đợt mưa lớn thường xảy ra lũ quét. Vùng phía Nam tỉnh như Đạ Tẻh, Cát Tiên chịu ảnh hưởng của lũ lưu vực thượng nguồn sông Đồng Nai, có năm như năm 1999 gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, nhất là sản xuất nông nghiệp. Nhiệt độ Dù ở giữa vùng nhiệt đới nóng bức với lượng bức xạ dồi dào, nhưng do ảnh hưởng của địa hình nên Lâm Đồng có một chế độ nhiệt thật ôn hoà dịu mát quanh năm.
Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 15,6 23,6oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong ngày 24oC và nhiệt độ trung bình thấp nhất trong ngày 15oC. Kết qủa theo dõi sự biến động về nhiệt độ ở Lâm Đồng được ghi nhận tại các trạm Đà Lạt, Liên Khương, Bảo Lộc cho thấy ở Lâm Đồng nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng 7 giảm. Nhiệt độ rất ổn định qua các mùa, biên độ dao động bé, đây là đặc điểm rất tiêu biểu về nhiệt độ của một chế độ khí hậu nhiệt đới vùng cao, mặc dù biên độ nhiệt dao động ngày đêm khá cao, đặc biệt ở những vùng cao như Đà Lạt. Đà Lạt có khí hậu mát mẻ, tại các tháng nóng nhất trong năm nhiệt độ cũng không quá 20 oC và không dưới 15 oC ở các tháng lạnh nhất.
Vào mùa khô, ban ngày trời nắng đẹp, lạnh chủ yếu về đêm vì bức xạ nhiệt. Do nhiệt độ xuống thấp với sự khống chế của áp cao, không khí trong điều kiện ổn định, nên ban đêm dễ hình thành sương mù bức xạ.1: Đặc trưng chế độ nhiệt (oC) Liên Đặc trưng Đà Lạt Bảo Lộc Khương Nhiệt độ trung bình năm 18,5 22,1 22,8 Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 20,4 24,1 25,4 (Tháng xuất hiện) (V) (V) (V) Nhiệt độ trung bình tháng thấp 16,3 20,1 20,6 nhất (Tháng xuất hiện) (I) (XII) (I) 1. Mưa Gió mùa Tây Nam cùng với các nhiễu động trong cơ chế của chúng, có khi kết hợp cả những hoạt động của áp thấp nhiệt đới, bão ở biển Đông đã đem lại cho Lâm Đồng một lượng mưa khá phong phú. Lượng mưa trung bình năm từ 1800mm đến 2800mm nhưng phân bố không đều theo không gian, thời gian.
Tổng lượng mưa năm, lượng mưa mùa mưa, tháng mưa cực đại thay đổi tuỳ theo sườn đón gió hay khuất gió Tây Nam. Bảo Lộc nằm trên sườn đón gió Tây Nam nên có lượng mưa năm khoảng 2.295mm (2010), trong khi Liên Khương khuất gió nên lượng mưa năm khoảng 1. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, kéo dài 7 tháng từ tháng IV đến tháng XI chiếm 85 90% tổng lượng mưa cả 8 năm, có năm mưa lớn, mưa liên tục từng đợt dài đã gây nạn ngập lụt ở một số vùng ven sông Đa Nhim và 3 huyện phía nam: Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, làm thiệt hại lớn mùa màng. Lượng mưa lớn nhất thường tập trung về gần cuối mùa.
Mùa khô bắt đầu từ tháng XII đến tháng III năm sau, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Lâm Đồng mưa rất ít, lượng mưa chỉ chiếm 10 15% lượng mưa toàn năm. Có những năm 2-3 tháng liên tục không mưa hoặc mưa không đáng kể. Số ngày mưa các tháng VII, VIII, IX dao động 25 28 ngày/tháng; tháng I, II số ngày mưa không vượt quá 4 ngày; các tháng còn lại số ngày mưa trung bình vào khoảng 5 24 ngày.2 : Đặc trưng chế độ mưa Đặc trưng Đà Lạt Bảo Lộc Lượng mưa trung bình năm (mm) 2003 2,295 Lượng mưa trung bình tháng cao nhất 355 331 (mm) (Tháng xuất hiện) (X) (VII) Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất 4 1 (mm) (Tháng xuất hiện) (II) (II) 254 Lượng mưa 1 ngày lớn nhất (mm) 307,4 (20/10/1952 (Ngày/ tháng/ năm xuất hiện) (4/5/1932) ) Số ngày mưa trung bình (ngày) 1. Độ ẩm, nắng a/ Độ ẩm Độ ẩm tương đối 70 90%, tháng có độ ẩm bình quân cao là vào mùa mưa từ tháng V đến tháng XI.
Trong mùa khô độ ẩm không khí đạt đến trị số thấp nhất, có những ngày độ ẩm vào lúc 13 giờ giảm xuống chỉ còn 8 9%. - Độ ẩm không khí trung bình năm: 86,1% 9 - Độ ẩm không khí cao nhất trung bình: 92%. - Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình: 70%. Nguồn: Niên giám thông kê 2010 đo tại trạm Đà Lạt.
b/ Số giờ nắng Số giờ nắng trong năm bình quân từ 2140 2318 giờ. Khu vực này thường xuyên có nắng ở tất cả các mùa trong năm.