Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thịt tươi sống đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành thú y và y tế công cộng. Theo thống kê từ Cục Thú y, cả nước có hơn 28.566 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ nhưng chỉ có khoảng 21,51% được cơ quan thú y kiểm soát, cá biệt tại 13 tỉnh tả ngạn sông Hồng tỷ lệ kiểm soát chỉ đạt mức khiêm tốn là 3,15%. Thịt lợn là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu dùng hàng ngày, tuy nhiên đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự xâm nhập và phát triển của các loài vi sinh vật gây hại nếu quy trình sản xuất không được kiểm soát chặt chẽ.
Vấn đề ô nhiễm vi sinh vật qua các khâu trung gian từ lò mổ, phương tiện vận chuyển đến các quầy bán lẻ tại chợ truyền thống tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Đỗ Văn Tĩnh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện mức độ ô nhiễm vi sinh vật tại 3 mắt xích trọng yếu: nơi giết mổ (mẫu nước, dụng cụ, thân thịt), phương tiện vận chuyển (mẫu lau bề mặt phương tiện) và nơi tiêu thụ (mẫu nước rửa, dụng cụ tiếp xúc, thân thịt lợn).
Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại 24 chợ truyền thống đại diện cùng hệ thống các cơ sở giết mổ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn năm 2015 đến năm 2017. Kết quả từ đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu thực nghiệm về các chỉ tiêu tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliforms, Enterobacteriaceae, Escherichia coli và Salmonella. Đây là căn cứ khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương xây dựng giải pháp nâng tỷ lệ cơ sở giết mổ đạt chuẩn loại A lên trên 50% và giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền lây qua thực phẩm cho hơn 500.000 người dân trong khu vực.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn trong chuỗi giá trị thực phẩm có nguồn gốc động vật, kết hợp với mô hình lan truyền mầm bệnh từ trang trại đến bàn ăn do Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc khuyến cáo.
Bốn khái niệm khoa học cốt lõi được áp dụng xuyên suốt đề tài bao gồm:
- Vi sinh vật chỉ thị vệ sinh: Tổng số vi khuẩn hiếu khí phản ánh mức độ sạch sẽ chung của môi trường, dụng cụ và công nghệ chế biến.
- Vi sinh vật chỉ điểm nhiễm phân: Vi khuẩn Escherichia coli và nhóm Coliforms đại diện cho tình trạng nhiễm bẩn từ hệ tiêu hóa của động vật hoặc nguồn nước thải chưa qua xử lý.
- Vi khuẩn đường ruột gây bệnh: Họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và chủng vi khuẩn Salmonella spp. có khả năng sản sinh độc tố gây viêm dạ dày ruột cấp tính và ngộ độc thực phẩm nguy hiểm.
- Nhiễm chéo vi sinh: Hiện tượng vi sinh vật từ các bề mặt trung gian như dao, thớt, yên xe vận chuyển hoặc nguồn nước rửa xâm nhập trực tiếp vào thân thịt trong quá trình lưu thông.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ quy trình lấy mẫu thực địa bài bản tại các cơ sở giết mổ và 24 chợ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Tổng số mẫu khảo sát bao gồm 12 mẫu nước giết mổ, 24 mẫu lau dụng cụ giết mổ, 12 mẫu lau thân thịt tại lò mổ, 24 mẫu phương tiện vận chuyển, 24 mẫu nước dùng tại chợ, 78 mẫu lau dụng cụ quầy bán và 78 mẫu lau thân thịt tại nơi bày bán.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên có chủ đích được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả vùng đô thị và vùng nông thôn. Quy trình lấy mẫu nước tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn TCVN 6663:2011, lấy mẫu thân thịt lợn theo quy chuẩn QCVN 01-04:2009/BNNPTNT và lấy mẫu dụng cụ, phương tiện theo tiêu chuẩn TCVN 8129:2009.
Mẫu sau khi thu thập được bảo quản lạnh và chuyển về phân tích định lượng tại phòng thí nghiệm Vi sinh vật thuộc Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I, đơn vị đạt chuẩn quốc tế VILAS 059. Việc lựa chọn phương pháp nuôi cấy đĩa thạch và phương pháp định lượng MPN theo tiêu chuẩn ISO và TCVN giúp đảm bảo tính pháp lý cũng như độ chính xác cao nhất cho kết quả kiểm nghiệm. Toàn bộ số liệu sơ cấp được xử lý và phân tích thống kê sinh học trên phần mềm SPSS phiên bản 10.0, đối chiếu trực tiếp với các tiêu chuẩn của Ủy ban Châu Âu EC No 2073/2005 và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân tích vi sinh học đã chỉ ra bức tranh chân thực về mức độ ô nhiễm tại từng công đoạn trong chuỗi cung ứng thịt lợn tại tỉnh Cao Bằng:
- Ô nhiễm tại nơi giết mổ: Nguồn nước sử dụng trong giết mổ ghi nhận 41,66% mẫu vượt giới hạn cho phép về tổng số vi khuẩn hiếu khí và 16,66% mẫu vượt chỉ tiêu Coliforms. Bề mặt dụng cụ giết mổ có 41,67% (10/24 mẫu) vượt chuẩn vi khuẩn hiếu khí và 16,67% (4/24 mẫu) vượt chuẩn Enterobacteriaceae. Tuy nhiên, 100% mẫu nước và mẫu thân thịt tại lò mổ đều âm tính với vi khuẩn Salmonella.
- Tình trạng báo động ở khâu vận chuyển: Toàn bộ 100% (24/24 mẫu) phương tiện vận chuyển đều có mật độ tổng số vi khuẩn hiếu khí vượt giới hạn cho phép. Bên cạnh đó, có tới 54,17% (13/24 mẫu) phương tiện nhiễm Enterobacteriaceae vượt mức quy định theo Thông tư 60/2010/TT-BNNPTNT.
- Gia tăng ô nhiễm tại các chợ bán lẻ: Mẫu lau thân thịt tại nơi bày bán ghi nhận 47,44% mẫu vượt chuẩn tổng số vi khuẩn hiếu khí và 25,64% mẫu vượt chuẩn vi khuẩn E. coli. Tỷ lệ thịt nhiễm E. coli tại chợ cao gấp 3 lần so với tỷ lệ 8,33% ghi nhận tại các cơ sở giết mổ ban đầu.
- Xuất hiện vi khuẩn Salmonella gây ngộ độc: Tại các quầy bán lẻ ở chợ, có tới 8,97% (7/78 mẫu) thân thịt bị nhiễm vi khuẩn Salmonella, trong khi chỉ tiêu này hoàn toàn không phát hiện thấy ở giai đoạn giết mổ ban đầu.
Thảo luận kết quả
Thực trạng gia tăng mật độ vi sinh vật từ lò mổ đến chợ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân thực tế. Tại các cơ sở giết mổ, phần lớn vẫn áp dụng phương thức giết mổ thủ công trên sàn nhà, sử dụng dao chuôi gỗ dễ ngấm nước và múc nước trực tiếp từ các thùng chứa không có nắp đậy kín. Sự thiếu hụt quy trình khử trùng dụng cụ bằng nước nóng hoặc hóa chất chuyên dụng là nguyên nhân chính khiến 41,67% dụng cụ giết mổ bị nhiễm khuẩn.
Khi biểu diễn dữ liệu so sánh trên biểu đồ cột, sự tương phản về mức độ ô nhiễm giữa các công đoạn hiện lên rất rõ ràng. Cột biểu thị tỷ lệ nhiễm E. coli trên thân thịt tăng vọt từ 8,33% tại nơi giết mổ lên 25,64% tại nơi bày bán. Đáng chú ý, biểu đồ so sánh dụng cụ cho thấy tỷ lệ mẫu nhiễm vi khuẩn hiếu khí tại chợ đạt 52,56%, cao hơn đáng kể so với mức 41,67% tại lò mổ. Sự xuất hiện của vi khuẩn Salmonella với tỷ lệ 8,97% tại quầy bán là minh chứng rõ nét cho hiện tượng nhiễm chéo nghiêm trọng từ phương tiện vận chuyển và môi trường chợ búa.
So sánh với các địa phương khác, tỷ lệ thân thịt nhiễm E. coli tại lò mổ ở Cao Bằng (8,33%) thấp hơn nhiều so với nghiên cứu tại Hà Nội (13,33%), Thái Bình (53,33%) và Hải Dương (60,00%). Điều này cho thấy nguồn thịt lợn ban đầu tại địa phương có chất lượng tương đối tốt. Tuy nhiên, do khâu vận chuyển thô sơ bằng xe máy, xe đạp không có thùng kín chuyên dụng và thời gian bày bán kéo dài từ 4 đến 5 tiếng trong điều kiện nhiệt độ thường đã biến các sạp chợ thành điểm nóng phát tán vi khuẩn đường ruột. Thực trạng chỉ có 24,3% hộ kinh doanh có bàn sạp cao trên 60 cm càng làm gia tăng nguy cơ bụi bẩn và côn trùng xâm nhập vào thực phẩm.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết triệt để các nguy cơ mất an toàn thực phẩm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể cho từng mắt xích:
- Nâng cấp quy trình kỹ thuật tại cơ sở giết mổ: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cần chỉ đạo chuyển đổi 100% các điểm giết mổ thủ công sang mô hình giết mổ treo bán công nghiệp, thay thế toàn bộ dao chuôi gỗ bằng chất liệu inox không gỉ. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ nhiễm vi khuẩn hiếu khí trên thân thịt tại lò mổ xuống dưới 5% và duy trì tỷ lệ mẫu nhiễm Salmonella ở mức 0,00% trong lộ trình 12 tháng tới.
- Chuẩn hóa điều kiện phương tiện vận chuyển: Lực lượng Thú y phối hợp với chính quyền cơ sở ban hành quy định bắt buộc 100% tổ chức, cá nhân vận chuyển thịt phải sử dụng thùng tôn hoặc thùng inox kín có nắp đậy, cấm tuyệt đối việc chở thịt trần trên yên xe máy. Phấn đấu đến hết năm 2018, toàn bộ phương tiện vận chuyển thịt lưu thông trên địa bàn phải được cấp giấy chứng nhận vệ sinh thú y và phun khử trùng định kỳ sau mỗi chuyến hàng.
- Cải tạo hạ tầng và sạp bán tại hệ thống chợ: Sở Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện đầu tư nâng cấp đồng bộ 80 chợ trên toàn tỉnh, yêu cầu 100% tiểu thương phải kê bàn bày bán bằng đá hoa hoặc inox cao cách mặt đất tối thiểu 60 cm. Đồng thời, lắp đặt hệ thống cấp nước sạch khép kín đến từng quầy hàng để nâng tỷ lệ mẫu nước đạt chuẩn tại chợ từ 66,67% lên 95% trong giai đoạn 2018 đến 2020.
- Tăng cường thanh tra và đào tạo người kinh doanh: Trung tâm Y tế Dự phòng và Chi cục Thú y cần tổ chức các lớp tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm bắt buộc cho hơn 4.900 hộ kinh doanh thực phẩm tươi sống, định kỳ kiểm tra đột xuất tối thiểu 500 mẫu thịt mỗi năm. Kiên quyết xử phạt các quầy hàng không có bảo hộ lao động và không có dấu kiểm soát giết mổ, hướng tới mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn mẫu thịt nhiễm vi khuẩn Salmonella tại các chợ dân sinh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao và là nguồn tư liệu chuyên sâu giá trị cho các nhóm độc giả sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra thú y: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng từ 230 mẫu phân tích để các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy hoạch mạng lưới giết mổ tập trung, hoàn thiện quy chế quản lý chợ thực phẩm tươi sống tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Thú y, Công nghệ thực phẩm: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu dịch tễ học vi sinh, quy trình lấy mẫu chuẩn TCVN và kỹ thuật phân tích định lượng vi khuẩn đường ruột trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế VILAS 059.
- Chủ cơ sở giết mổ và doanh nghiệp phân phối nông sản: Giúp các đơn vị sản xuất nhận diện chính xác 4 điểm rủi ro gây nhiễm chéo vi sinh để chủ động đầu tư hệ thống móc treo, thùng chứa inox và thiết lập quy trình khử trùng bề mặt hiệu quả.
- Ban quản lý chợ và các tổ chức phát triển nông nghiệp: Cung cấp các tiêu chí kỹ thuật thực tiễn từ mô hình dự án LIFSAP để thiết kế lại mặt bằng khu vực kinh doanh thịt lợn, bố trí hệ thống cấp thoát nước đạt chuẩn vệ sinh thú y tại các chợ nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao vi khuẩn Salmonella lại xuất hiện trên thịt lợn ở chợ trong khi tại lò mổ không phát hiện? Vi khuẩn Salmonella xuất hiện tại quầy bán với tỷ lệ 8,97% chủ yếu do quá trình vận chuyển thịt trần bằng xe máy không có che đậy, tiếp xúc trực tiếp với bụi đường và phân động vật phát tán trong không khí. Ngoài ra, việc tiểu thương sử dụng dao thớt, giẻ lau chung mà không khử trùng tại chợ đã tạo điều kiện cho vi khuẩn nhiễm chéo từ môi trường vào thân thịt sau thời gian bày bán kéo dài từ 4 đến 5 tiếng.
Chỉ tiêu Enterobacteriaceae trên phương tiện vận chuyển và dụng cụ phản ánh điều gì? Họ vi khuẩn Enterobacteriaceae là chỉ số sinh học quan trọng phản ánh mức độ nhiễm bẩn từ đường tiêu hóa và môi trường thiếu vệ sinh. Tỷ lệ 54,17% phương tiện vận chuyển và 30,77% dụng cụ tại chợ nhiễm vi khuẩn này vượt giới hạn cho phép chứng minh việc cọ rửa hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức làm sạch cơ học bằng nước lã, hoàn toàn thiếu các biện pháp tẩy trùng bằng hóa chất hoặc nước nóng.
Chất lượng nguồn nước tại các chợ có điểm gì vượt trội hơn so với nước tại lò mổ? Tỷ lệ mẫu nước vượt chuẩn vi khuẩn hiếu khí tại chợ là 33,33%, thấp hơn so với mức 41,66% tại các cơ sở giết mổ. Điều này xuất phát từ việc 24 chợ khảo sát đã được đầu tư hệ thống đường ống mới, dẫn nước máy hoặc nước giếng khoan qua lọc trực tiếp đến từng vòi, trong khi các cơ sở giết mổ thường trữ nước trong bể hở lâu ngày không được cọ rửa và công nhân dùng xô múc trực tiếp gây ô nhiễm ngược.
Dự án LIFSAP đã mang lại những cải thiện cụ thể nào cho hạ tầng chợ tại Cao Bằng? Dự án LIFSAP đã đầu tư nâng cấp hạ tầng cho 20 trong tổng số 24 chợ được khảo sát, hỗ trợ trang bị mặt bàn ốp đá chống thấm, dao pha lọc inox và thùng bảo quản chuyên dụng. Nhờ sự can thiệp này, tỷ lệ hộ kinh doanh sử dụng bàn bán bằng inox và gạch men hợp vệ sinh đã đạt 64,9%, giúp giảm thiểu đáng kể nguy cơ thịt tiếp xúc với nền đất ẩm ướt so với các chợ truyền thống chưa được đầu tư.
Người tiêu dùng cần thực hiện những biện pháp gì để phòng ngừa ngộ độc từ thịt lợn chợ truyền thống? Người tiêu dùng nên chọn mua thịt tại các quầy có bàn sạp inox cao cách mặt đất tối thiểu 60 cm và có dấu lăn kiểm soát giết mổ của cơ quan thú y. Trong quá trình chế biến tại gia đình, cần rửa sạch tay, phân tách riêng dao thớt chế biến thực phẩm sống và chín, đồng thời nấu chín kỹ thịt ở nhiệt độ trên 70 độ C trong ít nhất 10 phút để tiêu diệt triệt để các loài vi khuẩn gây bệnh như E. coli và Salmonella.
Kết luận
- Nghiên cứu thực nghiệm xác nhận hiện tượng gia tăng mật độ vi sinh vật rõ rệt dọc theo chuỗi cung ứng thịt lợn, trong đó các sạp bán lẻ tại chợ truyền thống là nơi có mức độ ô nhiễm vi sinh cao nhất.
- Khâu vận chuyển là mắt xích yếu nhất trong toàn bộ chuỗi khi có tới 100% phương tiện vận chuyển vượt ngưỡng vi khuẩn hiếu khí và 54,17% mẫu nhiễm khuẩn Enterobacteriaceae.
- Tỷ lệ nhiễm E. coli trên thân thịt tăng mạnh từ 8,33% tại nơi giết mổ lên 25,64% tại nơi bày bán, đặc biệt ghi nhận 8,97% mẫu thịt tại chợ nhiễm vi khuẩn Salmonella gây ngộ độc.
- Mặc dù hạ tầng tại 24 chợ đã có sự cải thiện nhờ dự án LIFSAP, việc chấp hành quy định an toàn vệ sinh thú y của hơn 3.900 hộ kinh doanh thực phẩm tươi sống vẫn còn nhiều hạn chế.
- Bộ dữ liệu thực chứng từ 230 mẫu kiểm nghiệm là đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương triển khai đề án kiểm soát giết mổ động vật giai đoạn 2018 - 2025.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ bức tranh dịch tễ học vi sinh vật trong chuỗi cung ứng thực phẩm tại một tỉnh miền núi biên giới, chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật cần can thiệp khẩn cấp. Trong thời gian tới, tỉnh Cao Bằng cần đẩy nhanh tiến độ xóa bỏ các điểm giết mổ tự phát, chuẩn hóa phương tiện vận chuyển chuyên dụng và áp dụng công nghệ số vào truy xuất nguồn gốc thịt lợn. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Văn Tĩnh để khai thác chi tiết phương pháp luận và số liệu thực nghiệm phục vụ công tác an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương.