Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, TP.HCM

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp sinh học điều tra phân lập và nuôi thử nghiệm khả năng xử lý nước thải kênh nhiêu lộc, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2004

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG LUẬN VẤN ĐỀ Ô NHIỄM THỦY VỰC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ Ở CÁC NƯỚC

2. CHƯƠNG 2: TỔNG LUẬN VẤN ĐỀ Ô NHIỄM THỦY VỰC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ CỦA CÁC NƯỚC

2.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới

2.2. Ô nhiễm nước

2.2.1. Định nghĩa

2.2.2. Nguyên nhân

2.2.3. Ô nhiễm nước thải thành phố (6 nhiễm chất hữu cơ)

2.2.3.1. Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt
2.2.3.1.1. Nhóm prôtêin
2.2.3.1.2. Nhóm hydratcarbon
2.2.3.1.3. Nhóm lipid
2.2.3.2. Ô nhiễm do nước thải công nghiệp

2.2.4. Ô nhiễm sinh học

2.2.4.1. Tảo lam và các độc tố
2.2.4.2. Một số tảo lam ô nhiễm, gây mùi, màu, tác lọc nước (theo E. Gloyna 1972)

PHỤ LỤC VÀ HÌNH VẼ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Ô nhiễm nước là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng tại TP.HCM, đặc biệt là tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Kênh này không chỉ là nguồn nước sinh hoạt mà còn là nơi tiếp nhận nước thải từ nhiều khu vực. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng ô nhiễm nước tại đây, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả.

1.1. Khái Niệm Ô Nhiễm Nước Và Tác Động Đến Môi Trường

Ô nhiễm nước được định nghĩa là sự có mặt của các chất độc hại trong nguồn nước tự nhiên. Những chất này có thể gây hại cho sinh vật và con người. Tình trạng ô nhiễm nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân.

1.2. Tình Hình Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè hiện đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Theo số liệu, lượng nước thải xả vào kênh này vượt quá mức cho phép hàng chục lần, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

II. Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và các hoạt động nông nghiệp xung quanh.

2.1. Nước Thải Sinh Hoạt Và Tác Động Của Nó

Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ và vi sinh vật gây hại. Những chất này không chỉ làm giảm chất lượng nước mà còn gây ra các bệnh truyền nhiễm cho người dân sống xung quanh.

2.2. Nước Thải Công Nghiệp Và Nguy Cơ Ô Nhiễm

Nhiều nhà máy xí nghiệp xả thải trực tiếp vào kênh mà không qua xử lý. Điều này làm gia tăng nồng độ các chất độc hại trong nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sinh học để đánh giá chất lượng nước. Việc sử dụng sinh vật chỉ thị giúp xác định mức độ ô nhiễm và khả năng tự làm sạch của kênh.

3.1. Sử Dụng Sinh Vật Chỉ Thị Để Đánh Giá Chất Lượng Nước

Sinh vật chỉ thị là những loài nhạy cảm với ô nhiễm, giúp đánh giá tình trạng nước. Việc phân tích các chỉ số sinh học sẽ cung cấp thông tin quan trọng về mức độ ô nhiễm tại kênh.

3.2. Phân Tích Hóa Học Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc

Phân tích hóa học giúp xác định nồng độ các chất ô nhiễm trong nước. Các chỉ số như pH, DO, COD sẽ được đo để đánh giá chất lượng nước một cách chính xác.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ô nhiễm nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Các chỉ số chất lượng nước cho thấy sự hiện diện của nhiều chất độc hại.

4.1. Đánh Giá Chất Lượng Nước Qua Các Chỉ Số Sinh Học

Các chỉ số sinh học cho thấy sự suy giảm đa dạng sinh học tại kênh. Nhiều loài sinh vật không thể tồn tại do ô nhiễm, ảnh hưởng đến hệ sinh thái.

4.2. Kết Quả Phân Tích Hóa Học Nước

Kết quả phân tích hóa học cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm như nitrat, phosphat cao hơn mức cho phép. Điều này cho thấy sự ô nhiễm nghiêm trọng tại kênh.

V. Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Để khắc phục tình trạng ô nhiễm nước, cần có các biện pháp đồng bộ từ quản lý chất thải đến nâng cao ý thức cộng đồng. Các giải pháp này sẽ giúp cải thiện chất lượng nước tại kênh.

5.1. Biện Pháp Quản Lý Chất Thải Hiệu Quả

Cần có các quy định nghiêm ngặt về quản lý chất thải từ các nhà máy và khu dân cư. Việc xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường là rất cần thiết.

5.2. Nâng Cao Ý Thức Cộng Đồng Về Bảo Vệ Môi Trường

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước. Các hoạt động tuyên truyền sẽ giúp nâng cao nhận thức và hành động của người dân.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè

Nghiên cứu ô nhiễm nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là một bước quan trọng trong việc bảo vệ môi trường nước tại TP.HCM. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp hiệu quả để cải thiện chất lượng nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước

Nghiên cứu ô nhiễm nước không chỉ giúp đánh giá tình trạng hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp khắc phục. Đây là cơ sở để xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường.

6.2. Hướng Đi Tương Lai Trong Nghiên Cứu Môi Trường

Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, nhà khoa học và cộng đồng để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc phát triển công nghệ xử lý nước hiệu quả.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp sinh học điều tra phân lập và nuôi thử nghiệm khả năng xử lý nước thải kênh nhiêu lộc thị nghè tp hcm của ngành tảo silic bacillaryophyta và ngành tảo lam cyanophyta

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Khái niệm môi trường rất rộng , nói gọn là các yếu tố bao quanh chúng ta. Hiểu rõ hơn : Môi trường là nơi ở, nơi cung cấp toàn bộ cơ sở vật chất ,năng lượng để sống và phát triển của sinh vật và con người. Mỗi hoạt động của con người đều có tác động đến môi trường xung quanh. Từ rất xa xưa, khi xã hội loài người chỉ là lực lượng sản xuất nhỏ bé,các tác động đó không đáng kể.

Nhưng về sau sự phát triển của kỹ thuật nông nghiệp, thủ công nghiệp rồi công nghiệp và sự gia tăng dân số đã làm cho tác đông của con người đến môi trường ngày càng mãnh liệt. Đặc biệt trong mấy thập kỷ gần đây, nhờ sự phát triển cao của kha năng tư duy trừu tượng nên trong quá trình tiến hóa và phát triển con người đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau. Nhờ vậy, cuộc sống của loài người ngày càng phat triển cao, càng tác động mạnh vào môi trường hơn. Chính quá trình tác động, khai thác tài nguyên thiên nhiên và hoạt động sống trong xã hội công nghiệp phát triển đã làm mất sự cân bằng vốn có ở các qui luật môi trường.Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, cân bằng sinh thái đảo lộn dẫn đến chất lượng môi trường sút kém một cách phổ biến và trầm trọng hơn bao giờ hết.

Vấn để này đã ảnh hưởng xấu đến sự tổn vong của con người và ô nhiễm môi trường sống là vấn để cấp bách mà cả thế giới dang quan tâm.Trong đó 6 nhiễm nước được chú ý nhiều nhất vì nó dé dàng dẫn đến ô nhiễm đất ,không khí gây độc cho động - thực vật - con người. Đặc biệt sự nhiễm bẩn nước tại các thành phố lớn - là nơi tập trung các công nghệ khoa học, kỹ thuật tiên tiến - càng nghiêm trọng và đáng lo ngại nhất Cũng như nhiều thành phố lớn khác trên thế giới, TPHCM tập trung dân cư đông đúc và có tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra nhanh nhất, cùng với số lượng lớn các khu công nghiệp, nhà máy xí nghiệp. kết quả là mỗi ngày lượng nước thải xả vào các kênh rạch nội thành rất lớn và mức độ ô nhiễm quá ngưỡng cho phép hàng chục lần. Sựô nhiễm này ảnh hưởng đến mỹ quan thành phố và sức khỏe người dân.

Trước thực trạng này, để giải quyết ô nhiễm môi trường nước trước tiên cần giải quyết ô nhiễm ở các kênh rạch. Ở đây chúng tôi lấy điển hình trong phạm vi nhỏ đó là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè TPHCM để nghiên cứu. SVTH: HOANG THỊ THU HUYEN TRANG | LUẬN VAN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYEN VAN TUYEN Để góp phan nghiên cứu đánh giá tình trạng chất lượng nước ở kênh Nhiéu Lộc - Thị Nghè, chúng tôi chọn biện pháp sinh học tức là dùng sinh vật chỉ thị để đánh giá.

Tham gia vào việc xử lý nước thải không riêng chỉ có các ngành tảo mà là tổ hợp tích cực của các sinh vật thủy sinh khác : vi sinh vật, nguyên sinh động vật .nhưng vì thời gian nghiên cứu có hạn, trong phạm vi dé tài này, chúng tôi xin trình bày nội dung nghiên cứu : " Điều tra, phân lập và nuôi thử nghiệm kha năng xử lý nước thải kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghề TPHCM của ngành tảo silie (Bacillaryophyta) và ngành tảo lam (Cyanophyta)." SVTH: HOÀNG THỊ THU HUYỄN TRANG 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYÊN VĂN TUYÊN PHAN Il TONG LUAN VAN DE 0 NHIEM THUY VUC TREN THE GIGI VA BIEN PHAP XU LY CUA CAC NUGC LTinh hình sử dung nước trên thế giới : Theo nguồn gốc tiến hoá của sinh vật thì nước là cái nôi hình thành sự sống của nhiều sinh vật ở nước, là nguyên liệu cho cây quang hợp để tạo ra chất hữu cơ, là phương tiện vận chuyển chất hữu cơ cho tế bào, là một lọai dung môi tuyệt hảo cho các phản ứng sinh hóa thực hiện trong trao đổi chất và hoạt động sống của sinh vật. Các quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa thân nhiệt cơ thể déu có sự tham gia của nước. Mặt khác nước tham gia cấu trúc cơ thể sinh vật, trong tế bào và mô nước chiếm 80%-90% khối lượng.

Rất nhiều loài sống trong môi trường nước và nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tấn ndi giống của sinh vật. Cấu trúc hành tinh có điện tích mặt nước chiếm 34. Nếu tính về phân bố thi nước mặn chiếm đến 98%, nước ngọt chỉ có 3%. Trong nước ngọt thì tỷ lệ nước để sinh vật và con người dùng được càng ít.

Nếu coi 3% lượng nước ngọt là 100% thì ta thấy : băng hà ở hai cực đã chiếm 76.3%, nước ở các mạch ngầm đã chiếm 23% và dòng chảy trên mặt đất sinh vật và người dùng chỉ có 0. So với 3 năm trước đây, lượng nước ngầm ngày nay tăng 35 lần. Nước sinh hoạt chiếm khoảng 6% lượng nước chi dùng trên thế giới. Nhiều nơi, lượng nước bể mặt đã bị ô nhiễm phải sử dụng nước ngầm như Cộng Hòa Liên Bang Đức và Hà Lan là hai quốc gia hoàn toàn sử dụng nước ngầm .Riêng 1980 trên thế giới có 720 triệu người không được uống nước sạch .Theo Riabsikov(1972) thì toàn bộ nước ngọt của trái đất có thể bị cạn kiệt vào năm 2100 .Năm 2230 toàn bộ nước ngọt sẽ trở thành nước liên kết trong sản phẩm công nghiệp .Nước mặn có xu hướng ngày càng tăng.

Theo Livôvits mối đe dọa về giảm chất lượng nước còn nghiêm trọng hơn mối đe dọa thiếu hụt nước .Tình hình sử dung nước : Việc sử dụng nước trên thế giới có thể chia thành ba nhóm: ESee SVTH: HOANG THỊ THU HUYEN TRANG 3 LUẬN VAN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYÊN VĂN TUYÊN © Thủy lợi 73% e Công nghiệp 21% ¢ Sinh hoạt 6% Cơ cấu sử dụng nước ở các nước khác nhau là không giống nhau. Ở các nước công nghiệp phát triển nước dùng cho sản xuất công nghiệp chiếm 40% các nước đang phát triển phan lớn nước dùng cho thủy lợi. Lượng nước sử dụng vào tất cả các hoạt động kinh tế, đời sống của toàn thế giới không ngừng tăng.

Theo số lượng thống kê của nhà nghiên cứu Livévits (Nga) tình hình tăng như sau : * Năm 1900:400 km’ * Năm 1970: 2600 km” * Năm 2000:5980 km’ Tốc độ tăng của các nhóm sử dụng không giống nhau : - Lượng nước sử dụng cho thủy lợi tăng chậm. - _ Lượng nước sử dung cho sản xuất công nghiệp tăng nhanh. Sau 100 năm kể từ 1900-2000, lượng nước sử dụng cho thủy lợi tăng chậm (10 lần), còn lượng nước sử dụng cho công nghiệp tăng rất nhanh (63 lần). Một vấn để quan trọng liên quan đến sự thay đổi cán cân nước và ô nhiễm nước là tỉ lệ giữa lượng nước hòan lại và không hoàn lại của hai lĩnh vực : thủy lợi - công nghiệp không giống nhau.

Nước dùng cho thủy lợi gần 90% lượng nước sử dung bị tiêu hao bằng nhiều con đường (thấm , bốc hơi. Chỉ còn trên 10% là trở về sông suối. Nước sử dụng cho công nghiệp thì ngược lại, lượng nước mất đi rất ít (10%) còn 90% nước hòan lại dưới đạng ô nhiễm với các mức độ khác nhau. Ở lĩnh vực sử dụng nước cho sinh hoạt gia đình cũng diễn ra tương tự như dùng trong công nghiệp.

Kết quả là việc sử dụng nước vừa làm mất cân bằng nước vừa gây ô nhiễm lớn. Theo LIVOVITS lượng nước thải tổng cộng năm 1900 là 28. Năm 1970 là 490km” đến năm 2000 tăng lên 1824 km’, Tài nguyên nước ngọt trên thế giới đã giảm sút: báo chí Nga cho biết lượng nước chảy vào biển AZOV hiện nay mỗi năm giảm 13 km’. Mực nước ngắm bi hạ thấp hàng loạt nước như Mỹ, Nhật, Đức,Hà Lan, Israel, Nga.Một ngày đêm hiện nay trên tòan thế giới tiêu thụ từ 8-10 tỷ tấn nước.

Năm 1970 theo khảo sát LIÊN HIỆP QUỐC đã có hơn 40 nước trên thế giới thiếu nước ngọt và nước sạch. SVTH: HOÀNG THỊ THU HUYEN TRANG 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYEN VĂN TUYÊN ~ ILTinh hình 6 nhiêm nước : 1) Định nghĩa : Ô nhiễm nước là sự có mặt của một chất ngọai lai trong môi trường nước tự nhiên. Khi vượt quá một ngưỡng nào đó thì chất ngoại lai sẽ trở nên độc hại đối với sinh vật và con người.

2) Nguyên nhân ; Nguyên nhân gây ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tao (do con người gây ra). - Ô nhiễm do nguồn gốc tự nhiên chủ yếu do mưa mang theo các chất bẩn từ mái nhà ,đường phố ,bui thải công nghiệp xuống các lưu vực nước như sông , hổ. Các chất bẩn này đôi khi có cả vi trùng ,vi rút gây bệnh từ xác chết sinh vật vào nước. - Ô nhiễm nhân tạo do hoạt động sống của con người gây ra ,chủ yếu là nguồn nước thải sinh hoạt khu dân cư ,khu công nghiệp ,hoạt động giao thông vận tải ,thuốc trừ sâu ,phân bón hoá học.

Ô nhiễm môi trường nước diễn ra trên qui mô toàn cẩu. Sự già hoá của thủy vực và nước thải sinh hoạt thành phố gây địch bệnh : e Bệnh tả: Năm 1854 ở London dịch tả làm chết hơn 50000 người. Năm 1892 ở sông Enbơ xuất hiện bệnh dịch tả và lan rộng. SVTH: HOÀNG THỊ THU HUY TRANG 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.

NGUYEN VAN TUYEN s Theo tổ chức y tế thế giới trong năm 1958 trên tòan thế giới cóhơn 20000 người chết vì bệnh dịch tả. ® Thương hàn (Typhoid fever) ở các nước công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh này là 0.1/vạn dân ,các nước khác là 2-3. Ở Thuy Sĩ năm 1872 người ta đã phát hiện vi trùng từ nước vào người. ¢ Tảo lam Microcystis aeruginosa tiết thiaminase ra nước.

Khi ăn cá ở hồ này người ta bị thiếu vitamin BI gây ra bệnh khó thở ,đau nhức cơ bắp ,chức năng đường tiêu hóa bị phá hủy. Toàn bộ các sông ở Anh đã bị nhiễm bẩn nặng ,ở Đức hầu hết các sông bị ô nhiễm (vi khuẩn saproprute đến 2.2triệu/ml ,trực khuẩn đường ruột 3000/m]). Đầu thế kỷ 19. Châu Âu có các sông lớn và đẹp: Rhine, Thames, Danube, Volga đều có dòng nước xanh mang lại nguồn lợi thủy hải sản ,nay đã trở thành những dòng cống lộ thiên.

Ở Châu Á, nạn ô nhiễm nước trở nên phổ biến và trầm trọng :Ấn Độ khoảng 70% nguồn nước ngọt bị ô nhiễm Trung Quốc 54 trong số 78 con sông được trắc quan bị ô nhiễm ,Malayxia hơn 20 con sông bị ô nhiễm đến mức thực tế không còn cá và động vật khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ô Nhiễm Nước Tại Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng ô nhiễm nước tại khu vực này, một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng ở thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu không chỉ phân tích các nguyên nhân gây ô nhiễm mà còn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện chất lượng nước. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về các chỉ tiêu sinh học và hóa học liên quan đến ô nhiễm nước, từ đó nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp xử lý nước, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng vật liệu composite của tio2 trên một số chất mang để xử lý phẩm màu db 71 trong môi trường nước, nơi trình bày ứng dụng vật liệu mới trong xử lý nước. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu giải pháp xử lý amoni trong nước ngầm tại cơ sở ba la nhà máy nước sạch hà đông cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp xử lý nước ngầm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về chất lượng nước tại khu vực này qua tài liệu Khóa luận tốt nghiệp sinh học đánh giá chất lượng nước kênh nhiêu lộc thị nghè dựa theo các chỉ tiêu sinh học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề ô nhiễm nước và các giải pháp khả thi.