MỞ ĐẦU Khái niệm môi trường rất rộng , nói gọn là các yếu tố bao quanh chúng ta. Hiểu rõ hơn : Môi trường là nơi ở, nơi cung cấp toàn bộ cơ sở vật chất ,năng lượng để sống và phát triển của sinh vật và con người. Mỗi hoạt động của con người đều có tác động đến môi trường xung quanh. Từ rất xa xưa, khi xã hội loài người chỉ là lực lượng sản xuất nhỏ bé,các tác động đó không đáng kể.
Nhưng về sau sự phát triển của kỹ thuật nông nghiệp, thủ công nghiệp rồi công nghiệp và sự gia tăng dân số đã làm cho tác đông của con người đến môi trường ngày càng mãnh liệt. Đặc biệt trong mấy thập kỷ gần đây, nhờ sự phát triển cao của kha năng tư duy trừu tượng nên trong quá trình tiến hóa và phát triển con người đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau. Nhờ vậy, cuộc sống của loài người ngày càng phat triển cao, càng tác động mạnh vào môi trường hơn. Chính quá trình tác động, khai thác tài nguyên thiên nhiên và hoạt động sống trong xã hội công nghiệp phát triển đã làm mất sự cân bằng vốn có ở các qui luật môi trường.Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, cân bằng sinh thái đảo lộn dẫn đến chất lượng môi trường sút kém một cách phổ biến và trầm trọng hơn bao giờ hết.
Vấn để này đã ảnh hưởng xấu đến sự tổn vong của con người và ô nhiễm môi trường sống là vấn để cấp bách mà cả thế giới dang quan tâm.Trong đó 6 nhiễm nước được chú ý nhiều nhất vì nó dé dàng dẫn đến ô nhiễm đất ,không khí gây độc cho động - thực vật - con người. Đặc biệt sự nhiễm bẩn nước tại các thành phố lớn - là nơi tập trung các công nghệ khoa học, kỹ thuật tiên tiến - càng nghiêm trọng và đáng lo ngại nhất Cũng như nhiều thành phố lớn khác trên thế giới, TPHCM tập trung dân cư đông đúc và có tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra nhanh nhất, cùng với số lượng lớn các khu công nghiệp, nhà máy xí nghiệp. kết quả là mỗi ngày lượng nước thải xả vào các kênh rạch nội thành rất lớn và mức độ ô nhiễm quá ngưỡng cho phép hàng chục lần. Sựô nhiễm này ảnh hưởng đến mỹ quan thành phố và sức khỏe người dân.
Trước thực trạng này, để giải quyết ô nhiễm môi trường nước trước tiên cần giải quyết ô nhiễm ở các kênh rạch. Ở đây chúng tôi lấy điển hình trong phạm vi nhỏ đó là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè TPHCM để nghiên cứu. SVTH: HOANG THỊ THU HUYEN TRANG | LUẬN VAN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYEN VAN TUYEN Để góp phan nghiên cứu đánh giá tình trạng chất lượng nước ở kênh Nhiéu Lộc - Thị Nghè, chúng tôi chọn biện pháp sinh học tức là dùng sinh vật chỉ thị để đánh giá.
Tham gia vào việc xử lý nước thải không riêng chỉ có các ngành tảo mà là tổ hợp tích cực của các sinh vật thủy sinh khác : vi sinh vật, nguyên sinh động vật .nhưng vì thời gian nghiên cứu có hạn, trong phạm vi dé tài này, chúng tôi xin trình bày nội dung nghiên cứu : " Điều tra, phân lập và nuôi thử nghiệm kha năng xử lý nước thải kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghề TPHCM của ngành tảo silie (Bacillaryophyta) và ngành tảo lam (Cyanophyta)." SVTH: HOÀNG THỊ THU HUYỄN TRANG 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYÊN VĂN TUYÊN PHAN Il TONG LUAN VAN DE 0 NHIEM THUY VUC TREN THE GIGI VA BIEN PHAP XU LY CUA CAC NUGC LTinh hình sử dung nước trên thế giới : Theo nguồn gốc tiến hoá của sinh vật thì nước là cái nôi hình thành sự sống của nhiều sinh vật ở nước, là nguyên liệu cho cây quang hợp để tạo ra chất hữu cơ, là phương tiện vận chuyển chất hữu cơ cho tế bào, là một lọai dung môi tuyệt hảo cho các phản ứng sinh hóa thực hiện trong trao đổi chất và hoạt động sống của sinh vật. Các quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa thân nhiệt cơ thể déu có sự tham gia của nước. Mặt khác nước tham gia cấu trúc cơ thể sinh vật, trong tế bào và mô nước chiếm 80%-90% khối lượng.
Rất nhiều loài sống trong môi trường nước và nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tấn ndi giống của sinh vật. Cấu trúc hành tinh có điện tích mặt nước chiếm 34. Nếu tính về phân bố thi nước mặn chiếm đến 98%, nước ngọt chỉ có 3%. Trong nước ngọt thì tỷ lệ nước để sinh vật và con người dùng được càng ít.
Nếu coi 3% lượng nước ngọt là 100% thì ta thấy : băng hà ở hai cực đã chiếm 76.3%, nước ở các mạch ngầm đã chiếm 23% và dòng chảy trên mặt đất sinh vật và người dùng chỉ có 0. So với 3 năm trước đây, lượng nước ngầm ngày nay tăng 35 lần. Nước sinh hoạt chiếm khoảng 6% lượng nước chi dùng trên thế giới. Nhiều nơi, lượng nước bể mặt đã bị ô nhiễm phải sử dụng nước ngầm như Cộng Hòa Liên Bang Đức và Hà Lan là hai quốc gia hoàn toàn sử dụng nước ngầm .Riêng 1980 trên thế giới có 720 triệu người không được uống nước sạch .Theo Riabsikov(1972) thì toàn bộ nước ngọt của trái đất có thể bị cạn kiệt vào năm 2100 .Năm 2230 toàn bộ nước ngọt sẽ trở thành nước liên kết trong sản phẩm công nghiệp .Nước mặn có xu hướng ngày càng tăng.
Theo Livôvits mối đe dọa về giảm chất lượng nước còn nghiêm trọng hơn mối đe dọa thiếu hụt nước .Tình hình sử dung nước : Việc sử dụng nước trên thế giới có thể chia thành ba nhóm: ESee SVTH: HOANG THỊ THU HUYEN TRANG 3 LUẬN VAN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYÊN VĂN TUYÊN © Thủy lợi 73% e Công nghiệp 21% ¢ Sinh hoạt 6% Cơ cấu sử dụng nước ở các nước khác nhau là không giống nhau. Ở các nước công nghiệp phát triển nước dùng cho sản xuất công nghiệp chiếm 40% các nước đang phát triển phan lớn nước dùng cho thủy lợi. Lượng nước sử dụng vào tất cả các hoạt động kinh tế, đời sống của toàn thế giới không ngừng tăng.
Theo số lượng thống kê của nhà nghiên cứu Livévits (Nga) tình hình tăng như sau : * Năm 1900:400 km’ * Năm 1970: 2600 km” * Năm 2000:5980 km’ Tốc độ tăng của các nhóm sử dụng không giống nhau : - Lượng nước sử dụng cho thủy lợi tăng chậm. - _ Lượng nước sử dung cho sản xuất công nghiệp tăng nhanh. Sau 100 năm kể từ 1900-2000, lượng nước sử dụng cho thủy lợi tăng chậm (10 lần), còn lượng nước sử dụng cho công nghiệp tăng rất nhanh (63 lần). Một vấn để quan trọng liên quan đến sự thay đổi cán cân nước và ô nhiễm nước là tỉ lệ giữa lượng nước hòan lại và không hoàn lại của hai lĩnh vực : thủy lợi - công nghiệp không giống nhau.
Nước dùng cho thủy lợi gần 90% lượng nước sử dung bị tiêu hao bằng nhiều con đường (thấm , bốc hơi. Chỉ còn trên 10% là trở về sông suối. Nước sử dụng cho công nghiệp thì ngược lại, lượng nước mất đi rất ít (10%) còn 90% nước hòan lại dưới đạng ô nhiễm với các mức độ khác nhau. Ở lĩnh vực sử dụng nước cho sinh hoạt gia đình cũng diễn ra tương tự như dùng trong công nghiệp.
Kết quả là việc sử dụng nước vừa làm mất cân bằng nước vừa gây ô nhiễm lớn. Theo LIVOVITS lượng nước thải tổng cộng năm 1900 là 28. Năm 1970 là 490km” đến năm 2000 tăng lên 1824 km’, Tài nguyên nước ngọt trên thế giới đã giảm sút: báo chí Nga cho biết lượng nước chảy vào biển AZOV hiện nay mỗi năm giảm 13 km’. Mực nước ngắm bi hạ thấp hàng loạt nước như Mỹ, Nhật, Đức,Hà Lan, Israel, Nga.Một ngày đêm hiện nay trên tòan thế giới tiêu thụ từ 8-10 tỷ tấn nước.
Năm 1970 theo khảo sát LIÊN HIỆP QUỐC đã có hơn 40 nước trên thế giới thiếu nước ngọt và nước sạch. SVTH: HOÀNG THỊ THU HUYEN TRANG 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYEN VĂN TUYÊN ~ ILTinh hình 6 nhiêm nước : 1) Định nghĩa : Ô nhiễm nước là sự có mặt của một chất ngọai lai trong môi trường nước tự nhiên. Khi vượt quá một ngưỡng nào đó thì chất ngoại lai sẽ trở nên độc hại đối với sinh vật và con người.
2) Nguyên nhân ; Nguyên nhân gây ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tao (do con người gây ra). - Ô nhiễm do nguồn gốc tự nhiên chủ yếu do mưa mang theo các chất bẩn từ mái nhà ,đường phố ,bui thải công nghiệp xuống các lưu vực nước như sông , hổ. Các chất bẩn này đôi khi có cả vi trùng ,vi rút gây bệnh từ xác chết sinh vật vào nước. - Ô nhiễm nhân tạo do hoạt động sống của con người gây ra ,chủ yếu là nguồn nước thải sinh hoạt khu dân cư ,khu công nghiệp ,hoạt động giao thông vận tải ,thuốc trừ sâu ,phân bón hoá học.
Ô nhiễm môi trường nước diễn ra trên qui mô toàn cẩu. Sự già hoá của thủy vực và nước thải sinh hoạt thành phố gây địch bệnh : e Bệnh tả: Năm 1854 ở London dịch tả làm chết hơn 50000 người. Năm 1892 ở sông Enbơ xuất hiện bệnh dịch tả và lan rộng. SVTH: HOÀNG THỊ THU HUY TRANG 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
NGUYEN VAN TUYEN s Theo tổ chức y tế thế giới trong năm 1958 trên tòan thế giới cóhơn 20000 người chết vì bệnh dịch tả. ® Thương hàn (Typhoid fever) ở các nước công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh này là 0.1/vạn dân ,các nước khác là 2-3. Ở Thuy Sĩ năm 1872 người ta đã phát hiện vi trùng từ nước vào người. ¢ Tảo lam Microcystis aeruginosa tiết thiaminase ra nước.
Khi ăn cá ở hồ này người ta bị thiếu vitamin BI gây ra bệnh khó thở ,đau nhức cơ bắp ,chức năng đường tiêu hóa bị phá hủy. Toàn bộ các sông ở Anh đã bị nhiễm bẩn nặng ,ở Đức hầu hết các sông bị ô nhiễm (vi khuẩn saproprute đến 2.2triệu/ml ,trực khuẩn đường ruột 3000/m]). Đầu thế kỷ 19. Châu Âu có các sông lớn và đẹp: Rhine, Thames, Danube, Volga đều có dòng nước xanh mang lại nguồn lợi thủy hải sản ,nay đã trở thành những dòng cống lộ thiên.
Ở Châu Á, nạn ô nhiễm nước trở nên phổ biến và trầm trọng :Ấn Độ khoảng 70% nguồn nước ngọt bị ô nhiễm Trung Quốc 54 trong số 78 con sông được trắc quan bị ô nhiễm ,Malayxia hơn 20 con sông bị ô nhiễm đến mức thực tế không còn cá và động vật khác.