Tổng quan nghiên cứu
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn châu thổ Mê Công với hơn 700 km bờ biển. Tuy nhiên, phần lớn diện tích đất đai có địa hình bằng phẳng và cao độ thấp, chỉ dao động từ 0,3 đến 2,0 m so với mực nước biển. Trong những năm gần đây, hiện tượng ngập lụt nghiêm trọng liên tục gia tăng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh ven biển Nam Bộ vào các tháng cuối năm và đầu năm sau.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là tình trạng ngập úng cực đoan không chỉ xuất phát từ triều thiên văn hay mưa lũ thượng nguồn, mà chịu tác động cộng hưởng mạnh mẽ từ hiện tượng nước dâng do gió mùa Đông Bắc (thường gọi là gió Chướng). Luận văn tập trung nghiên cứu bản chất động lực học và tương tác phi tuyến giữa nước dâng do gió mùa với triều cường ven biển Nam Bộ. Mục tiêu then chốt là định lượng độ lớn nước dâng (đạt từ 30 đến 40 cm), phân tích tần suất xuất hiện và thiết lập mô hình số trị dự báo phục vụ công tác cảnh báo ngập lụt đô thị.
Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian dải ven biển miền Đông Nam Bộ trải dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dựa trên chuỗi quan trắc liên tục 30 năm từ 1987 đến 2016 và số liệu dự báo thử nghiệm năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giảm thiểu sai số dự báo đỉnh triều từ 15 đến 20 cm, nâng cao năng lực ứng phó thiên tai cho vùng kinh tế đóng góp hơn 50% sản lượng lúa và 70% lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng hệ phương trình nước nông phi tuyến 2 chiều tích hợp lực Coriolis, gradient khí áp, ứng suất gió mặt biển và ứng suất ma sát đáy để mô phỏng sự dâng cao của mực nước. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết ứng suất bức xạ sóng của Longuet-Higgins và Stewart nhằm xác định thành phần nước dâng do sóng vỡ (wave setup), một yếu tố có thể đóng góp từ 10% đến 15% vào tổng độ cao nước dâng cực trị tại vùng nước nông.
Hệ thống mô hình hóa vận hành trên nền tảng mô hình sóng thế hệ thứ ba SWAN (Simulating Waves Nearshore) kết hợp mô hình nước dâng phi tuyến SuWAT (Surge, Wave and Tide) do Đại học Kyoto phát triển. Khung lý thuyết bao hàm các khái niệm nền tảng: nước dâng do gió mùa, cơ chế bán nhật triều không đều, tương tác sóng - triều - dòng chảy và dao động triều thành phần thiên văn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi quan trắc mực nước từng giờ trong 30 năm (1987 - 2016) với hơn 262.800 điểm đo tại trạm hải văn Vũng Tàu bằng máy tự ghi Stevens A71. Đồng thời, nghiên cứu thu thập dữ liệu quan trắc 18 năm tại trạm Nhà Bè (1999 - 2016) và 20 năm tại trạm Phú An (1997 - 2016) trên sông Sài Gòn theo hệ chuẩn cao độ VN-2000. Dữ liệu trường gió và khí áp tái phân tích bề mặt được trích xuất từ Trung tâm Dự báo Hạn vừa Châu Âu (ECMWF) và Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA).
Phương pháp chọn mẫu lấy trọn bộ toàn bộ dữ liệu quan trắc mực nước giờ thực đo liên tục tại các trạm đại diện duy nhất và then chốt của khu vực cửa sông ven biển Nam Bộ. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích điều hòa theo sơ đồ chi tiết (cho phép hệ số suy biến biên độ và pha thiên văn biến đổi linh hoạt theo từng bước thời gian qua phương pháp bình phương nhỏ nhất) là nhằm triệt tiêu hoàn toàn thành phần thủy triều thiên văn, trích xuất chính xác độ lớn nước dâng do khí tượng. Mô hình số trị SuWAT với cấu trúc lưới lồng thông qua giao diện truyền tin song song MPI (bước thời gian tính toán nước dâng 4 giây, bước thời gian tính sóng 900 giây) được chọn vì khả năng tái hiện trung thực tương tác phi tuyến mà các công thức bán kinh nghiệm không thể giải quyết. Toàn bộ timeline nghiên cứu kéo dài từ năm 1987 đến năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, phân tích số liệu 30 năm tại Vũng Tàu khẳng định nước dâng do gió mùa Đông Bắc có độ lớn phổ biến từ 30 đến 40 cm, cá biệt trong các đợt gió mùa mạnh cấp 6 đến cấp 7 kéo dài từ 2 đến 3 ngày, nước dâng có thể vượt ngưỡng 50 cm. Mức dâng này chiếm từ 10% đến 15% tổng biên độ dao động mực nước ven bờ.
Thứ hai, chế độ thủy triều ven biển Đông Nam Bộ mang đặc tính bán nhật triều không đều với biên độ lớn từ 3,0 đến 4,0 m (chu kỳ Maton 19 năm đạt cực đại tới 4,2 m). Khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long, biên độ triều giảm 50% ở khoảng cách 140 đến 150 km và giảm 25% ở cự ly 200 đến 220 km tính từ cửa biển. Mực nước đỉnh triều tại trạm Phú An đạt mức kỷ lục 1,68 m vào tháng 11/2013 do sự trùng hợp giữa đỉnh triều cường và nước dâng gió mùa.
Thứ ba, sự tích hợp ứng suất bức xạ sóng trong mô hình SuWAT làm tăng mực nước dâng tính toán thêm từ 0,20 đến 0,55 m tại vùng ven bờ nước nông, chứng minh rằng bỏ qua sóng biển sẽ dẫn đến sai số ước tính thiếu hụt nghiêm trọng.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng dâng cao bất thường là do địa hình thềm lục địa Nam Bộ rất thoải và đáy nông, tạo điều kiện thuận lợi cho trường gió mùa Đông Bắc liên tục dồn ứ khối nước vào các cửa sông lớn. Khi hiện tượng này trùng pha với kỳ triều cường ngày mồng 1 - 3 hoặc 15 - 18 âm lịch, tổng mực nước cộng hưởng vượt qua cao trình bờ bao đô thị gây ngập lụt sâu từ 0,3 đến 0,5 m kéo dài 2 đến 3 giờ mỗi ngày.
So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ sử dụng công thức giải tích tĩnh hoặc xem xét riêng rẽ từng thành phần, mô hình tích hợp SuWAT đã giảm thiểu độ lệch pha và biên độ mực nước đáng kể khi kiểm định qua các đợt triều cường lịch sử tháng 10/2010, tháng 11/2011 và bão Linda năm 1997. Dữ liệu tương quan mực nước được mô tả sinh động qua các đồ thị phân tán hồi quy tuyến tính giữa Vũng Tàu với Nhà Bè và Phú An theo độ trễ 1 đến 2 giờ; biểu đồ chuỗi thời gian đối soát giữa đường mực nước tính toán và thực đo; cùng bảng thống kê tần suất xuất hiện các cấp nước dâng từ 0,1 m đến trên 0,5 m.
Đề xuất và khuyến nghị
Xây dựng và tích hợp quy trình dự báo nghiệp vụ nước dâng do gió mùa bằng mô hình số trị SuWAT kết hợp trường gió WRF tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, hướng tới mục tiêu giảm sai số dự báo mực nước đỉnh triều xuống dưới 10 cm, hoàn thành triển khai trong vòng 12 đến 24 tháng tới.
Nâng cấp và hiện đại hóa mạng lưới trạm quan trắc hải văn tự động dọc tuyến bờ biển Đông Nam Bộ dài 400 km, bổ sung từ 3 đến 5 trạm quan trắc mực nước và sóng biển thời gian thực tại các cửa sông lớn, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện trong giai đoạn 2024 - 2026.
Hoàn thiện và củng cố hệ thống công trình đê bao ngăn triều, cống kiểm soát triều và trạm bơm tiêu úng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đảm bảo cao trình đỉnh đê được thiết kế bổ sung biên độ an toàn từ 0,4 đến 0,5 m để chống chịu nước dâng do gió Chướng, thực hiện bởi Ủy ban Nhân dân các tỉnh thành trong kế hoạch trung hạn 3 đến 5 năm.
Ban hành quy chế phối hợp chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa cơ quan khí tượng thủy văn, quản lý tài nguyên nước và các địa phương, thiết lập kịch bản vận hành hồ chứa và cống ngăn mặn chủ động trước các đợt gió mùa mạnh từ cấp 6 trở lên trước mùa khô hàng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cơ quan dự báo khí tượng thủy văn: Sử dụng công nghệ mô hình hóa SuWAT để thiết lập quy trình nghiệp vụ dự báo nước dâng phi bão, phát bản tin cảnh báo ngập lụt sớm trước 24 đến 48 giờ cho khu vực Nam Bộ.
Kỹ sư quy hoạch hạ tầng và công trình thủy lợi: Ứng dụng số liệu biên độ triều 3,0 đến 4,0 m và các cấp nước dâng cực trị 0,3 đến 0,5 m để tính toán chính xác cao trình xây dựng cầu cảng, đê kè và cống kiểm soát mặn.
Chính quyền đô thị và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai: Khai thác bản đồ phân bố ngập lụt và chu kỳ triều cường để xây dựng kế hoạch phân luồng giao thông, điều tiết tiêu thoát nước và bảo vệ an sinh cho hơn 10 triệu dân tại vùng trũng thấp.
Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Thủy văn, Hải văn: Sử dụng luận văn như tài liệu học thuật tham khảo mẫu mực về phương pháp phân tích điều hòa chi tiết, mô hình hóa tương tác sóng - triều và xử lý chuỗi số liệu hải văn dài hạn.
Câu hỏi thường gặp
Hiện tượng nước dâng do gió mùa khác biệt như thế nào so với nước dâng do bão? Nước dâng do bão hình thành nhanh, cục bộ với biên độ lớn từ 1,0 đến hơn 2,0 m trong vài giờ quanh tâm bão. Ngược lại, nước dâng do gió mùa có biên độ từ 0,3 đến 0,4 m nhưng kéo dài liên tục từ 2 đến 3 ngày trên diện rộng, gây ngập úng sâu khi trùng với kỳ triều cường.
Tại sao khu vực ven biển Nam Bộ lại chịu rủi ro ngập lụt cao từ nước dâng gió mùa? Khu vực này có địa hình đáy biển nông thoải, cao độ lục địa thấp từ 0,3 đến 2,0 m và mạng lưới kênh rạch dày đặc. Gió mùa Đông Bắc mạnh kết hợp biên độ triều lên tới 4,0 m đẩy khối nước lấn sâu hơn 100 km vào nội đồng gây ngập lụt diện rộng.
Mô hình SuWAT mang lại ưu điểm vượt trội gì trong tính toán nước dâng? Mô hình SuWAT tích hợp đồng thời thủy triều, nước dâng và sóng biển SWAN thông qua giao diện truyền tin MPI. Mô hình tính toán chi tiết thành phần ứng suất bức xạ sóng, giúp bù đắp từ 10% đến 15% lượng nước dâng thiếu hụt mà các phương pháp truyền thống bỏ sót.
Mối tương quan mực nước giữa trạm Vũng Tàu, Nhà Bè và Phú An diễn ra ra sao? Sóng triều và nước dâng từ trạm biển Vũng Tàu truyền vào hệ thống sông Sài Gòn tới Nhà Bè và Phú An với độ trễ pha từ 1 đến 2 giờ. Mực nước cực đại tại Phú An có thể bị đẩy lên mức kỷ lục 1,68 m khi gặp tổ hợp gió Chướng mạnh.
Giá trị khoa học của chuỗi dữ liệu 30 năm (1987 - 2016) tại trạm Vũng Tàu là gì? Chuỗi dữ liệu 30 năm với hơn 262.800 trị số đo giờ cung cấp bộ mẫu thống kê chuẩn xác, cho phép xác định hằng số điều hòa phân triều và đánh giá chu kỳ triều Maton 19 năm với độ tin cậy khoa học cao nhất.
Kết luận
- Luận văn đã định lượng hóa thành công độ lớn nước dâng do gió mùa Đông Bắc tại Nam Bộ dao động phổ biến từ 30 đến 40 cm.
- Xây dựng thành công bộ dữ liệu quan trắc chuẩn mực 30 năm (1987 - 2016) và xác lập phương trình tương quan mực nước giữa Vũng Tàu, Nhà Bè và Phú An.
- Ứng dụng xuất sắc mô hình số trị tích hợp SuWAT giải quyết toàn diện bài toán tương tác phi tuyến sóng, triều và nước dâng.
- Thiết lập quy trình dự báo thử nghiệm nước dâng gió mùa với thời gian dự báo trước từ 24 đến 48 giờ đạt độ chính xác cao.
- Đóng góp luận cứ khoa học then chốt cho công tác thiết kế cao trình đê bao và cống ngăn triều thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết triệt để bài toán định lượng nước dâng phi bão, đặt nền móng công nghệ dự báo nghiệp vụ cho vùng ven biển Nam Bộ. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2024 - 2025 là mở rộng tính toán chi tiết cho toàn bộ mạng lưới kênh rạch nội đồng Đồng bằng sông Cửu Long. Quý bạn đọc, chuyên gia và nhà quản lý hãy tham khảo ngay toàn văn luận văn này để khai thác trọn vẹn bộ cơ sở dữ liệu và phương pháp mô hình hóa thủy văn tiên tiến nhất.