Nghiên cứu nồng độ SERP5, RBP4 và IL-18 trong huyết thanh của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Nghiên cứu nồng độ Serp5, RBP4, IL-18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, cung cấp hiểu biết sâu về cơ chế bệnh lý và tiềm năng điều trị.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2021

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1.2. Khái niệm ĐTĐ, chẩn đoán và phân loại ĐTĐ

1.3. Dịch tễ học bệnh đái tháo đường

1.4. Cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường týp 2

1.5. Các yếu tố nguy cơ đái tháo đường týp 2

1.6. TỔNG QUAN VỀ SFRP5, RBP4, IL-18

1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SFRP5, RBP4, IL-18 Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Phương pháp thu thập số liệu

2.7. Phương tiện, kỹ thuật và các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

2.8. Xử lý số liệu

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ SFRP5, RBP4, IL-18 HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

3.3. MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ SFRP5, IL18 VÀ RBP4 HUYẾT THANH VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TÝP 2

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.2. SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ SFRP5, IL-18, RBP4 HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TÝP 2

4.3. Sự biến đổi nồng độ SFRP5 ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.4. Sự biến đổi nồng độ RBP4 ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.5. Sự biến đổi nồng độ IL-18 ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.6. MỐI LIÊN QUAN CỦA NỒNG ĐỘ SFRP5, IL-18, RBP4 HUYẾT THANH VỚI TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TÝP 2

4.7. Mối liên quan giữa nồng độ SFRP5 huyết thanh với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.8. Mối liên quan giữa nồng độ RBP4 huyết thanh với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.9. Mối liên quan giữa nồng độ IL-18 huyết thanh với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

4.10. Mối liên quan giữa các adipokine SFRP5, RBP4, IL-18

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh đái tháo đường type 2

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một trong những bệnh lý mạn tính phổ biến, đặc biệt tại các nước đang phát triển. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), số người mắc bệnh này đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. ĐTĐ type 2 chủ yếu liên quan đến kháng insulin và rối loạn chức năng tế bào β. Việc hiểu rõ về cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 là rất quan trọng để phát triển các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Các adipokin như SFRP5, RBP4, và IL-18 đã được nghiên cứu và cho thấy có mối liên quan đến cơ chế gây viêm và rối loạn chuyển hóa trong bệnh lý này. Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát nồng độ của các adipokin này trong huyết thanh bệnh nhân ĐTĐ type 2 và phân tích mối liên quan của chúng với các đặc điểm lâm sàng và tình trạng kháng insulin.

1.1. Khái niệm và phân loại bệnh đái tháo đường

ĐTĐ được phân loại thành nhiều loại, trong đó ĐTĐ type 2 là loại phổ biến nhất. Bệnh lý này được xác định qua các tiêu chí chẩn đoán như nồng độ glucose huyết tương lúc đói và sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Việc phân loại này giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Đặc biệt, các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì và lối sống không lành mạnh có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Nghiên cứu về SFRP5, RBP4, và IL-18 trong bối cảnh này có thể cung cấp thông tin quý giá về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến ĐTĐ type 2.

II. Tình hình nghiên cứu về SFRP5 RBP4 IL 18

Nghiên cứu về nồng độ SFRP5, RBP4, và IL-18 trong huyết thanh bệnh nhân ĐTĐ type 2 đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, tuy nhiên kết quả vẫn chưa đồng nhất. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ SFRP5 có thể giảm ở bệnh nhân ĐTĐ type 2, trong khi RBP4IL-18 lại có xu hướng tăng. Điều này cho thấy sự thay đổi nồng độ của các adipokin này có thể phản ánh tình trạng viêm và kháng insulin trong cơ thể. Việc phân tích mối liên quan giữa nồng độ các adipokin này với các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của chúng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2.

2.1. Nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng SFRP5 có vai trò kháng viêm, trong khi RBP4IL-18 lại có tính chất tiền viêm. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng sự gia tăng nồng độ RBP4IL-18 có thể liên quan đến tình trạng kháng insulin và các biến chứng của ĐTĐ type 2. Việc hiểu rõ về mối quan hệ giữa các adipokin này và tình trạng bệnh lý sẽ giúp phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế với mục tiêu khảo sát nồng độ SFRP5, RBP4, và IL-18 trong huyết thanh của bệnh nhân ĐTĐ type 2. Phương pháp thu thập số liệu bao gồm việc lấy mẫu máu và phân tích nồng độ các adipokin bằng phương pháp ELISA. Các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả. Đặc biệt, nghiên cứu cũng chú trọng đến các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân để phân tích mối liên quan giữa nồng độ các adipokin và tình trạng kháng insulin.

3.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn mẫu bao gồm bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ type 2 theo tiêu chuẩn của WHO. Các bệnh nhân không có bệnh lý nội khoa đi kèm hoặc đang điều trị bằng thuốc có thể ảnh hưởng đến nồng độ SFRP5, RBP4, và IL-18 sẽ được loại trừ. Việc lựa chọn mẫu bệnh nhân phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu và giúp đưa ra các kết luận có giá trị về mối liên quan giữa các adipokin này và tình trạng bệnh lý.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ SFRP5, RBP4, và IL-18 trong huyết thanh của bệnh nhân ĐTĐ type 2 có sự biến đổi rõ rệt. Cụ thể, nồng độ SFRP5 có xu hướng giảm, trong khi nồng độ RBP4IL-18 lại tăng cao. Những biến đổi này có thể liên quan đến tình trạng kháng insulin và các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân. Phân tích mối liên quan giữa nồng độ các adipokin này với các chỉ số như BMI, huyết áp, và các chỉ số lipid máu cho thấy có sự tương quan đáng kể, điều này cho thấy vai trò của các adipokin trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2.

4.1. Mối liên quan giữa nồng độ các adipokin và tình trạng kháng insulin

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ RBP4IL-18 có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. Cụ thể, nồng độ RBP4 cao có thể là dấu hiệu cảnh báo tình trạng kháng insulin, trong khi SFRP5 thấp có thể phản ánh tình trạng viêm mạn tính. Những phát hiện này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các phương pháp điều trị và can thiệp sớm.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu nồng độ serp5 rbp4 il 18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) týp 2 là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới, hiện đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm, đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển. Điều tra của Liên đoàn đái tháo đƣờng quốc tế (IDF), năm 2017 có khoảng có 425 triệu ngƣời (tuổi 20-79) mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ 8,8% và 451 triệu ngƣời nếu mở rộng phạm vi tuổi từ 18-99 [1], [2]. Tại Việt Nam, kết quả điều tra năm 1990, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 20-74 tuổi tại một số thành phố lớn nhƣ: Hà Nội: 1,2%; Huế: 0,95% và thành phố Hồ Chí Minh: 2,52%. Tuy nhiên, đến năm 2015 kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện ở nhóm tuổi từ 18-69 cho thấy tỉ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỉ lệ ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán trong cộng đồng là 69,9% [3].

Cơ chế chính của bệnh ĐTĐ týp 2 là kháng insulin ngoại biên và suy giảm chức năng tế bào β, nhƣng các cơ chế cụ thể về nguyên nhân và sự phát triển của nó vẫn chƣa đƣợc hiểu biết đầy đủ. Các xét nghiệm glucose máu, HbA1C và các chỉ số kháng insulin đƣợc sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán ĐTĐ týp 2, nhƣng khi phát hiện đƣợc những bất thƣờng này bệnh có thể đã phát triển trong nhiều năm và đi kèm với các biến chứng. Do đó, việc tìm hiểu các dấu ấn sinh học trong chuyển hóa và các con đƣờng chuyển hóa trƣớc và sau khi ĐTD xuất hiện có thể giúp chúng ta hiểu thêm về cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá nguy cơ, chẩn đoán sớm và có chiến lƣợc phòng ngừa hiệu quả [4]. Ở những ngƣời ĐTĐ týp 2 thƣờng có thừa cân, béo phì(TCBP) và có sự gia tăng mô mỡ, tập trung nhiều ở vùng bụng và nội tạng.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy mô mỡ không chỉ có vai trò dự trữ năng lƣợng, mà còn có chức năng nội tiết quan trọng. Mô mỡ tiết ra một số lƣợng lớn các hormon và chất trung gian hóa học có vai trò quan trọng trong điều hòa chuyển hóa năng lƣợng, đáp ứng miễn dịch, gọi là các adipokin [5]. Hầu hết các adipokin ngoài 2 chức năng điều hòa quá trình chuyển hóa, quá trình viêm, đáp ứng miễn dịch còn có vai trò trong cơ chế bệnh sinh của một số bệnh nhƣ: rối loạn chuyển hóa, TCBP và ĐTĐ týp 2. Gần đây, một số adipokin đƣợc đề cập nhiều nhƣ adiponectin, secreted frizzled related protein 5 (SFRP5), leptin, interleukin 18 (IL-18), tumor necrosis factor anpha (TNF- α), adipsin, resistin, retinol binding protein 4 (RBP4), MCP-1, PAI-1.đã đƣợc chứng minh có mối liên quan đối với cơ chế gây rối loạn chuyển hoá của cơ thể, là yếu tố nguy cơ hoặc là yếu tố chống lại ĐTĐ týp 2, HCCH và bệnh tim mạch…[6], [7], [8], [9].

Trong số đó, SFRP5 đƣợc biết đến là adipokin kháng viêm và RBP4, IL-18 là adipokin tiền viêm. Đây là những adipokin có liên quan đến cơ chế gây viêm mạn tính cấp thấp, rối loạn chuyển hóa, ĐTĐ týp 2, xơ vữa động mạch,…[10], [11]. Tuy nhiên, sự thay đổi bất thƣờng nồng độ SFRP5, RBP4, IL-18 và vai trò của chúng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2 còn nhiều tranh luận, kết quả một số nghiên cứu chƣa có sự đồng nhất giữa các quốc gia, châu lục và đang cần đƣợc nghiên cứu làm rõ hơn [10], [12], [13], [14]. Tại Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về một số adipokin mô mỡ nhƣ: Adiponectin, Leptin, MCP-1, TNF-α, IL-6, IL-10, hs-CRP,.

ở bệnh nhân TCBP, tiền ĐTĐ, ĐTĐ týp 2, tăng huyết áp (THA) [15], [16], [17], [18].Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào đánh giá sự biến đổi nồng độ và mối liên quan của SFRP5, RBP4, IL-18 huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 trên đối tƣợng ngƣời Việt Nam. Do đó, đề tài này là một nghiên cứu cần thiết, có tính mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đề tài “Nghiên cứu nồng độ SFRP5, RBP4, IL-18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”có 2 mục tiêu: 1. Khảo sát nồng độ SFRP5, RBP4, IL-18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Phân tích mối liên quan giữa nồng độ SFRP5, RBP4, IL-18 huyết thanh với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1. Khái niệm, chẩn đoán và phân loại đái tháo đƣờng 1.

Khái niệm đái tháo đường ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose máu mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protid, lipid, gây tổn thƣơng ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [19]. Chẩn đoán đái tháo đường Mặc dù ĐTĐ đã đƣợc biết từ rất sớm, nhƣng đến năm 1965 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO-World Health Organization) mới đƣa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán, sau đó năm 1979 nhóm số liệu ĐTĐ quốc gia Hoa kỳ (NDDG) đƣa ra và đƣợc WHO công nhận vào năm 1980. Đến năm 1997, Hiệp Hội Đái tháo đƣờng Hoa Kỳ-ADA (American Diabetes Association) đƣa ra tiêu chuẩn chẩn đoán mới và đƣợc WHO công nhận vào năm 1998; Sau đó, ADA đƣa thêm tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào xét nghiệm HbA1c và đã đƣợc sự đồng thuận của WHO cũng nhƣ nhiều tổ chức quốc tế, khu vực và đƣợc Bộ Y tế đƣa vào khuyến cáo sử dụng trong ―Hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đƣờng týp 2‖ năm 2017, cập nhật năm 2020.

Theo đó, bệnh ĐTĐ đƣợc chẩn đoán căn cứ vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây [19], [20], [21]: a) Glucose huyết tƣơng lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b) Glucose huyết tƣơng ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đƣờng uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Xét nghiệm HbA1c phải đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngƣỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất. Lƣu ý: - Glucose máu lúc đói đƣợc đo khi BN nhịn ăn (không uống nƣớc ngọt, có thể uống nƣớc lọc, nƣớc đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thƣờng phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ).

- Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đƣờng uống phải đƣợc thực hiện theo hƣớng dẫn của WHO: BN nhịn đói từ nửa đêm trƣớc khi làm nghiệm pháp, dùng một lƣợng 75g glucose, hòa trong 250-300 mL nƣớc, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trƣớc đó BN ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày, không mắc các bệnh lý cấp tính và không sử dụng các thuốc làm tăng glucose máu. Định lƣợng glucose huyết tƣơng tĩnh mạch. Phân loại bệnh đái tháo đường Bệnh ĐTĐ đƣợc phân thành 4 loại chính [19], [22], [23]: a) ĐTĐ týp 1 (do phá hủy tế bào β tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). d) Các loại ĐTĐ đặc biệt do các nguyên nhân khác, nhƣ ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất nhƣ sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 5 1.

Dịch tễ học bệnh đái tháo đƣờng 1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới Vào những năm cuối thế kỷ 20 các chuyên gia của WHO đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh ĐTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất". Hiện tại, bệnh ĐTĐ, chủ yếu là ĐTĐ týp 2 đã và đang trở thành đại dịch của thế kỷ 21 với đặc trƣng: sự gia tăng nhanh số lƣợng ngƣời mắc và sự xuất hiện bệnh ngày càng nhiều ở ngƣời trẻ tuổi; bệnh gây các biến chứng nặng nề ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tuổi thọ và chất lƣợng cuộc sống; chi phí điều trị rất tốn kém, là gánh nặng cho bản thân và gia đình, là rào cản cho sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi đất nƣớc và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ tƣ ở các nƣớc phát triển. Báo cáo toàn cầu về bệnh ĐTĐ của WHO năm 2016 cho biết tỉ lệ mắc ĐTĐ từ 1980 đến 2014 tăng gần gấp đôi từ 4,7 lên tới 8.5% đối với ngƣời trƣởng thành [24].

Năm 1964, ƣớc tính có 30 triệu ngƣời mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới và tăng vọt lên 415 triệu năm 2015 và đƣợc dự báo tăng lên 642 triệu vào năm 2040 [25], [26]. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng của bệnh ĐTĐ nhanh hơn dự báo, theo Atlas năm 2017 của IDF cho thấy có khoảng có 425 triệu ngƣời (tuổi 20- 79) mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ 8,8%, 451 triệu ngƣời nếu mở rộng phạm vi tuổi từ 18-99 [1], [2] có nghĩa là cứ 11 ngƣời, có một ngƣời bị bệnh ĐTĐ. Cũng theo IDF ƣớc tính gần một nửa số ngƣời (49,7%) sống chung với bệnh ĐTĐ không đƣợc chẩn đoán, ngoài ra ƣớc tính còn có khoảng 374 triệu ngƣời bị rối loạn dung nạp glucose (IGT) và ƣớc tính có gần 21,3 triệu ca phụ nữ bị tăng đƣờng máu trong thai kỳ. Năm 2017, khoảng 5 triệu ca tử vong trên toàn thế giới đƣợc cho là do bệnh ĐTĐ ở độ tuổi 20-99.

Dự đoán năm 2045 số ngƣời mắc ĐTĐ sẽ tăng 48% đạt con số khoảng 629 triệu ngƣời (tuổi 20-79) và 693 triệu ngƣời (tuổi 18-99), nhƣ vậy cứ 10 ngƣời có một ngƣời bị ĐTĐ [1], [2]. Tuy nhiên, năm 2019 con số này đã đƣợc IDF thay đổi dự báo với năm 2030 sẽ có 578 triệu ngƣời mắc ĐTĐ và đến năm 2045 sẽ lên đến 700 triệu ngƣời mắc bệnh ĐTĐ (Biểu đồ 1. Ƣớc tính số ngƣời lớn mắc bệnh đái tháo đƣờng (triệu ngƣời) * Nguồn: theo IDF Diabetes AtlasNinth edition (2019)[27] Tại Đông Nam Á, kết quả điều tra quốc gia ở Philippine năm 2008 cho thấy tỉ lệ ĐTĐ là 7,2%, IGT: 7,0% và rối loạn glucose máu lúc đói: 2,2%. Tỉ lệ ĐTĐ khu vực thành thị là 8,5% và khu vực nông thôn là 5,7% [28].

Kết quả điều tra quốc gia năm 2007, tỉ lệ ĐTĐ tại Indonesia là 5,7%, tỉ lệ IGT là 10,2% ở lứa tuổi trên 15 tuổi [29]. Tại Malaysia, một cuộc khảo sát về bệnh tật quốc gia (NHMS) tiến hành năm 2015 cho thấy 17,5% ngƣời lớn từ 18 tuổi trở lên có ĐTĐ [30] .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu nồng độ SERP5, RBP4, IL-18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích các chỉ số sinh học liên quan đến bệnh đái tháo đường type 2. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của các protein như SERP5, RBP4 và cytokine IL-18 trong cơ chế bệnh sinh, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ và tiên lượng bệnh. Điều này không chỉ hỗ trợ chẩn đoán mà còn mở ra hướng điều trị mới dựa trên các dấu ấn sinh học.

Để mở rộng kiến thức về các chỉ số sinh học và bệnh lý liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu nồng độ lipoprotein associated phospholipase a2 và kiểu hình của lipoprotein tỷ trọng thấp ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, nghiên cứu này tập trung vào các chỉ số lipid và enzyme liên quan đến bệnh tim mạch. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên bệnh nhân suy tim tần suất đặc điểm cytokine và c reactive protein trong máu tiên lượng cung cấp thêm thông tin về vai trò của cytokine trong các bệnh lý mãn tính. Cả hai tài liệu này đều bổ sung kiến thức chuyên sâu về các dấu ấn sinh học và ứng dụng trong y học.