Chương 1: Giới thiệu. Nêu tổng quan về nghiên cứu, lý do hình thành dé tài, trình bày mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nêu khái quát vé khái niệm TMDT, định nghĩa các khái niệm trong m6 hình, nêu ra các nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện trước đây có liên quan đến dé tài, mô hình nghiên cứu dé xuất và các giả thuyết trong mô hình.
Chương 3: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Trình bày tổng thể về cách thức thực hiện nghiên cứu (bao gồm nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức), phương pháp thu thập và xử lý số liệu, cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu sơ bộ. Chương 4: Kết quá nghiên cứu. Chương này trình bày tổng thể về kết quả của việc phân tích dữ liệu nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy của thang do, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định mô hình đo lường CFA, kiểm định mô hình cau trúc và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. Tóm tắt nội dung nghiên cứu và các kết quả chính của nghiên cứu, các kết luận và kiến nghị. Những đóng góp và hạn chế của dé tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo Các phụ lục Tóm tắt chương Như vay, chương này đã trình bay được khái quát ly do hình thành dé tài nghiên cứu này và cũng nói rõ bối cảnh nghiên cứu được thực hiện.
Trong chương này tác gải nêu ra 2 mục tiêu lớn cần đạt được, bên cạnh đó, dựa vào bối cảnh nghiên cứu tác giả đã xác định được phạm vi nghiên cứu của đề tài. Tác giả cũng trình bày rõ ý nghĩa mà để tài này mang lại về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn. Dựa theo bố cục nghiên cưu của chương này, chương tiếp theo tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đê tài. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương | đã giới thiệu tong quan về dé tài và mục tiêu nghiên cứu.
Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết, tập trung vào định nghĩa sáu khái niệm được sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Từ các cơ sở lý thuyết và mô hình có được từ các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp và phát biéu các giả thuyết có liên quan. THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2. Định nghĩa Một số khái niệm “thương mại điện tử” được định nghĩa bởi các tô chức uy tín trên thé giới: Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gom việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiễn hành thông qua truyén thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số". Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng dé bao quát các van dé phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại commercial bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đôi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư van, kỹ thuật công trình (engineering); dau tư; cấp vốn, ngân hàng: bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách băng đường biên, đường không, đường sắt hoặc đường bộ". Theo Ủy ban châu Âu: "Thuong mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử.
Nó dựa trên việc xử lý và truyền dir liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh". Tóm lại, TMDT là hoạt động kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ thông qua kênh điện tử, mà trong đó Internet và công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng không thé thiếu để các hoạt động này có thể diễn ra. Phân loại Theo website Ecommerce.vn của Trung Tâm Thông Tin Công Nghiệp & Thuong Mại Việt Nam (VITIC) - Bộ Công Thương, có nhiều loại hình thương mại điện tử như: B2B, B2C, C2C, B2G. Còn một số loại hình thương mại điện tử khác nhưng sự xuất hiện ở Việt Nam chưa cao.
Cũng theo đó, các định nghĩa về từng loại hình thương mại điện tử kề trên như sau: - - Loại hình thương mại điện tử B2B (Business To Business): “là thương mai điện tử giữa các công ty. Đây là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau. Khoảng §0% thương mại điện tử theo loại hình này và phan lớn các chuyên gia dự đoán răng loại hình thương mại điện tử B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C”. - Loại hình thương mại điện tr B2C (Business to Customers): “Loại hình thương mại điện tử B2C hay là thương mại giữa các công ty và khách hàng, liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (hữu hình như là sách hoặc sản phẩm tiêu dùng) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, như phân mềm, sách điện tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử”.
- Loại hình thương mại điện tử C2C (Customer to Customer): “Loại hình thương mại điện tử khách hàng tới khách hàng C2C đơn giản là thương mại giữa các cá nhân và khách hàng. Loại hình thương mại điện tử này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và dau giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty / doanh nghiệp có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau. Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho việc phát triên các thị trường mới”. - - Loại hình thương mại điện tứ B2G (Business to Government): “Loại hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung là thương mại giữa công ty và khối hành chính công.
Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ”. Trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào loại hình kinh doanh B2C được coi là loại hình kinh doanh phố biến nhất hiện nay ở Việt Nam theo một khảo sát của Vinalink năm 2009. CÁC KHÁI NIỆM LÝ THUYÉT 2. Định nghĩa về niém tin Niềm tin là khái niệm được định nghĩa và nghiên cứu rất nhiều trong các tài liệu và nghiên cứu trước đây.
Niềm tin theo định nghĩa của từ điển Oxford (2013) như sau: (1) Niềm tin là sự tin tưởng hay là có sự chắc chăn về thái độ hay phẩm chất của một người hoặc một đối tượng nào đó, (2) là sự cho phép hoặc chấp nhận về một cái gì đó (hay một điều gì đó) xảy ra mà không cân phải điều tra, tìm hiểu hay thu thập chứng cứ, (3) tin rang cái gì đó/ai đó có thé làm việc hay vận hành trong một thời gian dài mà không bị hư hỏng (hay gián đoạn) hoặc không cần phải để ý tới, (4) một cái gì đó có vẻ đúng hoặc là sự thật. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, theo kết quả tổng hợp nghiên cứu về niềm tin của tác gia Gefen và Straub (2004) cho thay, Deutsch (1958) là người dau tiên đưa ra khái niệm về niềm tin trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Trong nghiên cứu của mình, Deutsch (1958) đưa ra khái niệm niềm tin trong nghiên cứu về lý thuyết trò chơi mang tên Prisoners’ Dilemma. Trong lý thuyết này, niềm tin được coi là sự kỳ vọng về hành vi của một đối tượng nào đó sẽ xảy ra trong tương lai, tuy nhiên do sự thiếu kiểm soát về đối tượng dự đoán cho nên những rủi ro có thé xảy ra.
Dựa theo nghiên cua này cua Deutsch (1958), Giffin (1967) đã định nghĩa khá khái quát và cụ thể về niềm tin trong đó “niềm tin là sự phụ thuộc vào đặc điểm của một đối tượng, hoặc sự xuất hiện của một sự kiện, hoặc hành vi của một người để đạt được mong muốn nhưng những mục tiêu không chắc chăn này luôn đặt trong một tình 10 huống có rủi ro” (trang 105). Và theo Gefen và Straub (2004), niềm tin được coi là bao gom 3 thanh phan chính đó là sự thông minh (khả năng của một người), tính cách tốt (trung thực và tính tình ngay thắng) và lòng tốt (có lòng nhân ái). Theo đó có rất nhiều nghiên cứu về sau phát triển khái niệm niềm tin dựa trên nghiên cứu này, mặc dù có sự khác biệt và thay đối nhưng về cơ bản niềm tin vẫn bao quanh 3 thành phần này. Trong các nghiên cứu về niềm tin trong lĩnh vực TMĐT, Gefen được coi là tác giả có rất nhiều nghiên cứu về khái niêm này, theo đó, Gefen (2000), Gefen và Straub (2003, 2004) cũng đều công nhận răng đây là 3 thành phần cơ bản của yếu tô niềm tin.
Tuy nhiên, trong từng bối cảnh khác nhau của nghiên cứu về niềm tin được hiểu và định nghĩa khác nhau. Vi du, trong TMDT, niềm tin là sự giảm thiểu các hoạt động phức tạp trong giao dịch điện tử vì nó cho phép người mua có thể tin tưởng vào hành vi của người bán mà không sợ bị người bán gian lận hoặc lừa dao (Gefen va Straub, 2004), trong bối cảnh trang mạng xã hội, niềm tin là yếu tố giúp người bán phát triển thị trường vì nó cho phép người mua tin tương các giao dịch mà không có sự tương tác mặt đối mặt (Hajli, 2012) và trong thanh toán trực tuyến, niềm tin như là trạng thái tâm lý sẵn sàng của khách hàng để thực hiện các giao dịch được thanh toán qua Internet với mong đợi về sự đảm bào của hệ thống thanh toán trực tuyến, do sự khó khăn trong hoạt động kiểm soát của khách hàng đối với hình thức giao dịch này (Yang và cộng sự, 2015).