CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Trong nuôi thâm canh, thức ăn thường chiếm tỷ trọng 60–70% tổng chi phí sản xuất (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009). Do đó, để mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nuôi trồng thủy sản, người sản xuất cũng như người nuôi luôn chú trọng đến hệ số thức ăn cũng như giá cả của loại thức ăn sử dụng. Vì vậy, việc xây dựng công thức thức ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động nuôi của loài đó. Điều này không những giúp cho vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt mà còn là nhân tố quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường nuôi.
Nhu cầu dinh dưỡng của cá được nghiên cứu bằng phương pháp truyền thống được thực hiện từ những năm của thập niên 40 (Lê Thanh Hùng, 2008). Ở phương pháp truyền thống nhu cầu dinh dưỡng được xác định thông qua mối quan hệ giữa liều lượng sử dụng (mức dinh dưỡng trong thức ăn) và khả năng phản ứng (tăng trưởng) của cơ thể đối với thức ăn đó (Zeitoun et al. Tuy nhiên đối với phương pháp truyền thống sẽ tốn nhiều thời gian và khả năng ứng dụng rộng rãi không cao (Lupatsch, 2003).Trong thời gian gần đây, các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã áp dụng những kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu mới nhằm tối ưu hóa thức ăn cho động vật thủy sản nói chung và cá nói riêng. Việc ứng dụng mô hình hóa (mô hình đa nhân tố, phương pháp năng lượng sinh học) để xác định nhu cầu dinh dưỡng của loài cá đã được sử dụng phổ biến (NRC, 2011).
Một số loài cá đã được các tác giả áp dụng mô hình này trong việc xác định nhu cầu dinh dưỡng như cá tráp (Sparus aurata), cá vền (Dicentrarchus labrax) và cá mú trắng (Epinephelus aeneus) (Lupatsch et al., 2003); Cá cam (Seriola lalandi) (Mark et al., 2010); cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Glencross et al., 2010) và cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) (Trung et al. Thông qua phương pháp mới này có thể xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá trong suốt chu kỳ nuôi thương phẩm, giúp tiết kiệm được thời gian và chi phí nghiên cứu. Ưu điểm của phương pháp này đã được ứng dụng để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho một số loài cá có giá trị kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Vì vậy, việc áp dụng nó để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá kèo (Pseudapocryptes elongatus, Cuvier 1816) để xây dựng công thức thức ăn cho cá là một trong những vấn đề cần thiết góp phần hoàn thiện quy trình nuôi đối tượng này trong tương lai. Cá kèo là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế được nuôi trong những năm gần đây ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Cá kèo được nuôi chủ yếu ở các tỉnh ven biển như Bạc Liêu, Cà Mau, 1 Sóc Trăng và Trà Vinh, góp phần đa dạng đối tượng nuôi và hạn chế rủi ro trong nuôi thủy sản, như tình hình nuôi tôm hiện nay gặp nhiều khó khăn cả về dịch bệnh và thị trường tiêu thụ. Theo báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Bạc Liêu (2014), diện tích nuôi cá kèo ở tỉnh Bạc Liêu trong những năm qua có xu hướng tăng lên, cụ thể năm 2009 khoảng 242 ha, đến năm 2013 diện tích nuôi là 463 ha. Hầu hết cá kèo được nuôi luân canh trong ao nuôi tôm hoặc chuyên canh theo hướng thâm canh với năng suất đạt rất cao, dao động 10-15 tấn/ha/vụ. Cá kèo là đối tượng có giá trị kinh tế nên nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã thực hiện trên đối tượng này.
Tuy nhiên, đến nay thì chưa có công trình nào công bố về nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh cho cá kèo. Xuất phát từ tình hình thực tế trên “Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và xây dựng công thức thức ăn nuôi cá kèo Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816)” được thực hiện.2 Mục tiêu của đề tài Xác định nhu cầu dinh dưỡng (năng lượng, protein và lipid) của cá kèo (Pseudapocryptes elongatus, Cuvier 1816) làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn cho các giai đoạn nuôi cá kèo thương phẩm.3 Các nội dung chính của đề tài - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn, sinh trưởng và thành phần hóa học cá kèo nuôi thương phẩm - Xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá kèo (nhu cầu protein, năng lượng và lipid) - Đánh giá khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến làm thức ăn cho cá - Xây dựng công thức thức ăn nuôi cá kèo thương phẩm 1.4 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng (protein, năng lượng, lipid, tỷ lệ CHO: L), hiệu quả sử dụng thức ăn và khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến cung cấp protein và carbohydrate được sử dụng trong chế biến thức ăn cho cá kèo. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài làm cơ sở để nhà sản xuất lựa chọn các nguồn nguyên liệu phù hợp và phát triển công thức thức ăn. Người nuôi lựa chọn thức ăn phù hợp với các mức năng lượng và xác định tỷ lệ cho ăn hợp lý trong từng giai đoạn nuôi cá kèo thương phẩm.5 Điểm mới của đề tài Kết quả nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp mới về lý thuyết và ứng dụng trong sản xuất.
- Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu protein và năng lượng cho bốn giai đoạn nuôi cá kèo thương phẩm. - Xác định nhu cầu lipid và tỷ lệ CHO: L trong thức ăn cá kèo. - Xác định hiệu quả sử dụng thức ăn, protein, năng lượng tiêu hoá; tỷ lệ protein tiêu hoá/ năng lượng tiêu hoá; hệ số thức ăn; tỷ lệ cho ăn với bốn kích cỡ cá khác nhau. - Đánh giá khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu sử dụng phổ biến cung cấp protein và carbohydrate trong chế biến thức ăn của cá làm cơ sở để lựa chọn nguyên liệu phù hợp trong việc xây dựng công thức thức ăn.
- Đề tài đã xây dựng hoàn chỉnh các công thức thức ăn của cá kèo ở bốn giai đoạn nuôi nuôi thương phẩm dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của cá. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá kèo 2.1 Phân loại Cá kèo Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816) có vị trí phân loại như sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Họ: Gobiidae Giống: Pseudapocryptes Loài: Pseudapocryptes elongatus (http:// www.1: Cá kèo Pseudapocrytes elongatus (Cuvier, 1816) 2.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống Cá kèo Pseudapocrytes elongatus (Cuvier, 1816) là loài có cơ quan hô hấp phụ, sống chủ yếu ở các bãi bùn vùng cửa sông và có thể sống ở vùng nước ngọt. Cá kèo có khả năng chịu đựng được điều kiện môi trường khắc nghiệt do có tập tính sống vùi trong hang và có cơ quan hô hấp phụ, nhiệt độ thích hợp cho cá kèo sinh trưởng và phát triển từ 23–28oC (http:// www.org), độ mặn tối ưu cho cá kèo phát triển là 10%o (Trần Trường Giang, 2009). Cá kèo giống phân bố ở khu vực có rừng ngập mặn cao hơn so với những nơi không có rừng, mật độ cá kèo giống tăng từ các vị trí ngoài khơi đi vào cửa sông và giảm dần trong nội địa.
Cá kèo giống xuất hiện hầu như quanh năm nhưng mật độ cao nhất từ tháng 6 đến tháng 9 (Trương Hoàng Minh và ctv.3 Đặc điểm dinh dưỡng Theo Trần Đắc Định và ctv. (2002), cá kèo là loài có tập tính ăn thiên về thực vật, thành phần thức ăn trong ống tiêu hoá của cá kèo gồm tảo khuê, tảo lam và mùn bã hữu cơ là chủ yếu. Trong đó tảo khuê luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong chuỗi thức ăn (83,1%), kế đến là các bùn bã hữu cơ trong nền đáy (14,9%), tảo lam (1,9%). Ngoài ra một số ít động vật phù du cũng được tìm thấy trong chuỗi thức ăn của cá kèo, bao gồm Copepoda (0,06%), Cladocera (0,03%) (Trần Đắc Định và ctv.
Theo Yang et al. (2003) thì cá kèo (Boleophthalmus pectinirostric) ăn thực vật và thức ăn chính là các loài tảo khuê ở bề mặt đáy của thủy vực. Kết quả trên nghiên cứu khác cũng cho thấy, cá kèo là loài ăn thực vật và thức ăn chính là tảo sống đáy với 93% trong khẩu phần ăn của cá (Bucholtz et al.4 Đặc điểm tăng trưởng Sự tăng trưởng của cá kèo được xác định thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa chiều dài toàn thân và khối lượng cá với phương trình hồi quy là W=0,2468L1,5567 (R2 = 0,9008), chiều dài tối đa cá kèo đạt được là L = 25,88 cm và tuổi thọ trung bình của cá cũng được xác định là 4,2 năm (Trần Đắc Định và ctv. Sau 4-5 tháng nuôi trong ao thâm canh với mật độ 95,7con/m2 có thể thu được cá đạt kích cỡ thương phẩm 40–50 con/kg (Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh Phương, 2011).5 Đặc điểm sinh sản Hiện nay, sản xuất giống nhân tạo cá kèo chưa thành công nên nguồn giống phục vụ cho nghề nuôi cá kèo phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên.
Theo Trần Đắc Định và ctv. (2002) thì kích thước tuyến sinh dục của cá kèo rất nhỏ và chỉ quan sát được đến giai đoạn III. Tuyến sinh dục của cá đạt đến giai đoạn III bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 02 năm sau, tuy nhiên các giai đoạn thành thục tiếp theo vẫn chưa quan sát được. Qua theo dõi từ tháng 5 đến tháng 7 cho thấy lại xuất hiện một chu kỳ thành thục mới chỉ phát hiện được đến giai đoạn II (52,38%).2 Nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản 2.1 Nhu cầu protein Trong nuôi thủy sản, các loài cá, tôm đạt tăng trưởng tốt nhất là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, trong đó nghiên cứu về nhu cầu protein là một trong những đóng góp quan trọng để thiết lập công thức thức ăn thích hợp giúp cá tăng trưởng tối đa.
Nhu cầu protein của động vật thủy sản lớn hơn động vật trên cạn, nhu cầu protein của cá dao động trong khoảng 25–55%, trung bình 30%, giáp xác từ 30– 60% (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009). 5 Nhu cầu protein ở các loài cá có tính ăn khác nhau sẽ khác nhau, nhu cầu protein của loài cá ăn thịt thường cao hơn loài cá ăn tạp. Kết quả nghiên cứu của Martinez-Palacioset al. (2007) cho thấy nhu cầu protein tối ưu cá Menidia estor là 40,9%.
Cá mú (Epinephelus coioides) có nhu cầu protein là 48% (Luo et al. Nhu cầu protein của cá hồi (Salmo trutta) là 53% (Arzel et al.