Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn thơ bang giao là bộ phận quan trọng trong di sản văn học trung đại Việt Nam. Theo thống kê bước đầu trong công trình Thơ đi sứ, có khoảng 60 tác giả với hàng trăm thi tập và gần một vạn bài thơ từ thời Trần đến thời Nguyễn. Lý Văn Phức (1785-1849), tự Lân Chi, hiệu Khắc Trai, Tô Xuyên, người làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, Thăng Long (nay thuộc Ba Đình, Hà Nội), là nhà văn, nhà thơ và nhà ngoại giao của triều Nguyễn, từng trải qua 11 chuyến công cán và đi sứ nước ngoài trong 10 năm.

Năm Tân Mão (1831), niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, Lý Văn Phức nhận lệnh triều đình hộ tống Giám sinh nhà Thanh là Trần Khải cùng gia quyến bị bão dạt vào Bình Định về Phúc Kiến (đất Mân) trên thuyền Thụy Long. Chuyến đi này đã hình thành nên nhóm tác phẩm Mân hành. Mặc dù Lý Văn Phức có khối lượng trước tác lớn ở cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm, song các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mảng sáng tác chữ Nôm (như Nhị thập tứ hiếu diễn ca, Ngọc Kiều Lê, Tây Sương truyện) hoặc tập ký chữ Hán Tây hành kiến văn kỷ lược. Nhóm văn bản Mân hành gồm 7 bản chép tay hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chưa được khảo cứu toàn diện về mặt văn bản học, chưa xác định được thiện bản để phiên dịch trọn vẹn và chưa được khai thác sâu về giá trị sử liệu, văn hóa và văn học. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhóm văn bản này là yêu cầu thực tế của ngành Hán Nôm và nghiên cứu văn học trung đại.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu khoa học cụ thể:

  1. Nghiên cứu chuyến công cán đến đất Mân năm 1831 của Lý Văn Phức và bối cảnh ra đời của nhóm văn bản Mân hành.
  2. Tiến hành giám định văn bản học, đối chiếu dị văn trên 7 bản sao hiện còn, xác định niên đại và lựa chọn bản tin cậy (thiện bản) của tác phẩm Mân hành thi thoại tập (MHTTT).
  3. Phân tích giá trị tư liệu lịch sử và văn hóa của tác phẩm MHTTT đối với việc nghiên cứu quan hệ bang giao Việt - Trung, thể chế chính trị, địa lý và đời sống xã hội Trung Hoa đầu thế kỷ XIX.
  4. Đánh giá giá trị văn chương của tác phẩm MHTTT trên hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
  5. Phiên dịch trọn vẹn tác phẩm MHTTT từ bản thiện bản sang tiếng Việt nhằm phục vụ nghiên cứu và giới thiệu tác phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: 7 văn bản chép tay của nhóm tác phẩm Mân hành lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
    1. VHv.2258: Mân hành thi thoại tập (102 trang).
    2. A.1990: Mân hành thi thoại tập (72 trang).
    3. A.2953: Mân hành thi thoại tập (104 trang).
    4. A.1291: Mân hành tập vịnh (110 trang).
    5. A.1250: Mân hành thi tập (106 trang).
    6. VHv.110: Chu Nguyên tập vịnh thảo (148 trang, có phần Mân hành tập vịnh thảo).
    7. VHv.1146: Chu Nguyên tập vịnh thảo (210 trang, có phần Mân hành tập vịnh thảo).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thân thế, sự nghiệp và chuyến công cán năm 1831 của Lý Văn Phức.
    • Khảo cứu văn bản học đối với 7 dị bản của nhóm Mân hành.
    • Giá trị tư liệu lịch sử, văn hóa và giá trị thi ca của tác phẩm MHTTT (trọng tâm là bản VHv.2258), có so sánh, đối chiếu với các nguồn sử liệu như Đại Nam thực lục, Đạo Quang thực lục và các tư liệu đương thời.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tình hình nghiên cứu về tác giả Lý Văn Phức và nhóm văn bản Mân hành được điểm lại qua các nhóm tài liệu chính:

  1. Các công trình thư mục, biên mục:

    • Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (1984) giới thiệu tiểu sử và 12 tác phẩm của Lý Văn Phức, trong đó có Mân hành thi thảo.
    • Dương Thái Minh (1972) trong Thư mục sách Hán Nôm - Mục lục tác giả thống kê 20 tác phẩm của Lý Văn Phức.
    • Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (1993) thống kê 20 tác phẩm nằm trong khoảng 50 ký hiệu sách, trong đó có 5 ký hiệu sách về Mân hành.
    • Ngô Đức Thọ chủ biên Thư mục sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia giới thiệu các tác phẩm Xuyết thập tạp ký, Chu Nguyên tạp vịnh, Nhị thập tứ hiếu diễn âm.
    • Triệu Cát Quang và Trịnh Khắc Mạnh đồng chủ biên bộ Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (2010) công bố 4 tập sáng tác của Lý Văn Phức (A.303, A.2636, VHv.1732, A.110).
    • Trịnh Khắc Mạnh trong Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (2012) thống kê 17 tác phẩm thơ văn và 3 tác phẩm tham gia biên soạn của Lý Văn Phức.
  2. Các sách chuyên khảo và luận án:

    • Dương Quảng Hàm trong Lý Văn Phức: Tiểu sử - văn chương (1945) phân tích bối cảnh thời đại Lê mạt Nguyễn sơ và hành trạng của Lý Văn Phức.
    • Hoa Bằng trong Lý Văn Phức (1785-1849) (1953) khảo sát 9 chương, chủ yếu tập trung vào các sáng tác chữ Nôm, đặc biệt là Nhị thập tứ hiếu diễn âm.
    • Vũ Ngọc Phan trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam dành hơn 30 trang phân tích tác giả Lý Văn Phức, nhấn mạnh mảng truyện thơ Nôm (Ngọc Kiều Lê, Tây Sương truyện).
    • Nguyễn Thị Ngân trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu về Lý Văn Phức và tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược (2009) thống kê Lý Văn Phức có 44 tác phẩm (17 chữ Hán, 14 chữ Nôm, 6 văn hóa - lịch sử, 7 soạn chung) và phiên dịch toàn văn tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược.
    • Trần Ích Nguyên (Đài Loan) với các chuyên luận Quá trình đi sứ Bắc của Lý Văn Phức và mối quan hệ với văn học Trung Quốc (2008), Thuật bàn về tư liệu sách chữ Hán ở Việt Nam (2011/2013), và Thư tịch Trung Quốc và thơ văn đi sứ Trung Hoa thời Nguyễn (2018) nghiên cứu các chuyến đi sứ, tư tưởng Hoa - Di (Hoa Di chi biện) và văn hóa ẩm thực châu Á đầu thế kỷ XIX qua trước tác của Lý Văn Phức.
    • Lưu Ngọc Quân (Trung Quốc) trong Giới thuyết về tư liệu đi sứ phương Bắc của Việt Nam xác định Lý Văn Phức để lại 8 tập thơ văn Bắc sứ.
    • Hạ Lộ (Trung Quốc, 2013) nghiên cứu 4 chuyến đi Quảng Đông, Áo Môn của Lý Văn Phức và hoạt động của Quần anh hội ở chùa Hải Châu.
    • Dương Đại Vệ (Trung Quốc, 2014) thực hiện luận văn Thạc sĩ về quan hệ Thanh - Việt qua 6 chuyến đi Trung Hoa của Lý Văn Phức.
  3. Các bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo:

    • Nguyễn Đổng Chi (1982), Hoàng Văn Lâu (1984), Nguyễn Đăng Na (1988), Dương Thị The (1992), Nguyễn Thị Ngân (2004, 2007), Phạm Văn Ánh (2017), Trần Hải Yến (2017).
    • Về nhóm văn bản Mân hành: Nguyễn Thị Oanh và Trịnh Khắc Mạnh (2009) dịch bài Kiến Lưu Cầu quốc sứ giả tịnh dẫn; Trịnh Khắc Mạnh (2012) khảo cứu sơ bộ 5 văn bản Mân hành; Phạm Văn Ánh (2017) khảo sát văn bản A.1250 và VHv.2258; Trần Quang Đức (2013) trích dẫn Di biện luận trong chuyên khảo Ngàn năm áo mũ.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây mới dừng lại ở việc giới thiệu đơn lẻ từng bài thơ, bài văn hoặc khảo sát sơ bộ một vài văn bản mà chưa bao quát toàn bộ 7 dị bản hiện có. Luận án giải quyết triệt để vấn đề văn bản học: miêu tả hình thức, đối chiếu 115 đơn vị tác phẩm, phân tích dị văn, xác định thiện bản (VHv.2258), dịch trọn vẹn văn bản và phân tích toàn diện giá trị sử liệu, văn hóa, văn học của tập tác phẩm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và thuật ngữ

Luận án xác lập và sử dụng hệ thống thuật ngữ chuyên ngành Hán Nôm và văn học trung đại:

  • Đi sứ: Hoạt động ngoại giao chính thống, định kỳ của đoàn sứ bộ theo quy chế bang giao (tuế cống, tạ ơn, thỉnh phong...).
  • Đi công cán: Hoạt động thực thi nhiệm vụ cụ thể do triều đình giao phó ngoài quy chế phiên cống định kỳ (như chuyến đưa người Thanh về nước năm 1831 của Lý Văn Phức, Cao Hữu Dực, Trần Văn Trung với tư cách "phái viên", trong văn bản gọi là "hành giới").
  • Thơ văn đi sứ (văn học sứ trình / Yên hành lục): Thơ văn sáng tác trên đường làm nhiệm vụ ngoại giao ở nước ngoài.
  • Văn bản, Tác phẩm, Bản sao, Dị bản: Áp dụng theo các định nghĩa chuẩn tắc của thư tịch học Hán Nôm.
  • Bản nền: Văn bản được chọn làm tiêu chuẩn để so sánh, đối chiếu dị văn giữa các dị bản.
  • Bản tin cậy (thiện bản): Văn bản có chất lượng tốt nhất về tính toàn vẹn, độ chính xác và niên đại, được lựa chọn để khảo cứu nội dung và phiên dịch.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thao tác xử lý dữ liệu thư tịch:

  • Phương pháp văn bản học Hán Nôm: Là phương pháp chủ đạo, dùng để miêu tả hình thức sách, giám định tự dạng, chữ húy, khảo sát bài tựa/bạt, truy tìm quá trình truyền bản và xác định thiện bản.
  • Phương pháp định lượng (thống kê thư tịch): Thống kê số lượng trang, số lượng bài thơ/văn trong từng bản, phân loại 115 đề mục, lập bảng biểu đối chiếu dị văn giữa 7 văn bản.
  • Phương pháp sử liệu học: Khai thác, đối chiếu các sự kiện, nhân vật, địa danh, niên đại ghi chép trong tác phẩm với chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục) và triều Thanh (Đạo Quang thực lục).
  • Phương pháp văn học sử và ngữ văn Hán Nôm: Phân tích thể loại (thơ thất ngôn bát cú, ca hành, ký sự, biện luận, phú), thi pháp, bút pháp "kỷ sự" và "chuyên đối" của văn học bang giao.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử, địa lý học lịch sử, quan chế học, xã hội học văn hóa và trang phục học trung đại.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu chính gồm 7 bản chép tay nhóm Mân hành tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kết hợp các tư liệu so sánh: Lý thị gia phả (A.1057), các tác phẩm khác của Lý Văn Phức (Tây hành kiến văn kỷ lược, Việt hành ngâm, Chu Nguyên tạp vịnh) và các bộ sử liệu đương thời.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu về tác gia Lý Văn Phức và nhóm văn bản Mân hành từ năm 1945 đến năm 2018 tại Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Tác giả chỉ ra sự mất cân đối giữa việc nghiên cứu mảng văn Nôm và văn Hán của Lý Văn Phức; đồng thời chỉ rõ những khoảng trống về mặt văn bản học đối với 7 ký hiệu sách của tác phẩm Mân hành. Từ đó, chương này xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi tư liệu, hệ thống thuật ngữ công cụ và các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong toàn bộ luận án.

Chương 2: Khảo cứu nhóm văn bản Mân hành

Chương 2 tập trung khảo sát trực tiếp 7 văn bản chép tay lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chia thành 2 nhóm cấu trúc:

  • Nhóm 1 (Ghi tiêu đề "Mân hành"): Gồm 5 văn bản (VHv.2258, A.1990, A.2953, A.1291, A.1250).
  • Nhóm 2 (Không ghi tiêu đề "Mân hành" ở bìa ngoài nhưng nội dung chứa tác phẩm): Gồm 2 văn bản (VHv.110, VHv.1146), cả hai bản này đều chép gộp 3 tác phẩm: Chu Nguyên tập vịnh thảo, Mân hành tập vịnh thảo và Đông hành thi thuyết.
Ký hiệu văn bản Tên tác phẩm ghi trong sách Số trang (tờ) Khổ sách (cm) Loại chữ viết Tác phẩm đi kèm trong cùng tập
VHv.2258 Mân hành thi thoại tập 102 trang (51 tờ) 28 x 18 Hành thư Bài tấu của Hà Tông Quyền (1833) và mục lục Hội điển toát yếu
A.1990 Mân hành thi thoại tập 72 trang (36 tờ) 25 x 16 Hành thảo Tây hành thi lược (Canh Dần 1830)
A.2953 Mân hành thi thoại tập 104 trang (52 tờ) 25 x 16 Khải thư Không chép kèm tác phẩm khác; có lời bình của Lâm Khanh, Tư Thai
A.1291 Mân hành tập vịnh 110 trang (55 tờ) 30 x 22 Khải thư Bài văn tiễn của Tiến sĩ Ngô Hy Phan
A.1250 Mân hành thi tập 106 trang (53 tờ) 28 x 18 Khải thư Đông hành thi thuyết thảo, Chu Nguyên tập vịnh thảo
VHv.110 Mân hành tập vịnh thảo (bên trong) 148 trang (74 tờ) 25 x 17 Khải thư Chu Nguyên tập vịnh thảo, Đông hành thi thuyết
VHv.1146 Mân hành tập vịnh thảo (bên trong) 210 trang (105 tờ) 25 x 14 Khải thư Chu Nguyên tập vịnh thảo, Đông hành thi thuyết

Qua khảo sát, tác giả xác định tổng số tác phẩm trong nhóm Mân hành là 115 bài (bao gồm thơ, phú, văn xuôi, tạp ký và các bài xướng họa, phụ lục). Tác giả chọn bản VHv.2258 làm bản nền và xác định đây chính là thiện bản vì các căn cứ khoa học:

  1. Là văn bản duy nhất ghi rõ niên đại ở trang 1b: "Minh Mệnh thập nhị niên đông nguyệt chi cát" (Ngày tốt tháng mùa đông năm Minh Mệnh thứ 12 - 1831).
  2. Chữ viết chân phương, trình bày rõ ràng, phân định mạch lạc giữa tiêu đề, lời dẫn, chính văn và chú thích.
  3. Chép đầy đủ 94 bài thơ văn của chính Lý Văn Phức (bản A.1990 cũng có 94 bài nhưng chữ hành thảo khó đọc, nhiều chỗ dập xóa và phải bổ di bài Đề Lai Tham quân tiểu ảnh ở cuối).
  4. Lưu giữ đầy đủ hệ thống ghi chép tạp ký ở cuối sách về chức quan địa phương, địa danh, câu đối và bảng chữ mẫu.

Chương 3: Giá trị tư liệu lịch sử, văn hóa của tác phẩm Mân hành thi thoại tập

Chương 3 khai thác giá trị tư liệu của tập thơ văn dưới góc độ sử liệu học và văn hóa học:

  • Tư liệu lịch sử về chuyến công cán năm 1831:
    • Mục đích và thành phần đoàn: Thực hiện nhiệm vụ cứu trợ nhân đạo, hộ tống Giám sinh Trần Khải bị nạn gió bão về quê hương Phúc Kiến, kết hợp khảo sát tình hình biên viễn và mậu dịch. Phái đoàn gồm có Lý Văn Phức cùng hai viên chức đi cùng là Cao Hữu Dực và Trần Văn Trung.
    • Lịch trình di chuyển: Xuất phát từ cửa biển Trà Sơn (Bình Định), qua vùng biển Quảng Đông, đỗ thuyền tránh gió tại Nam Áo, cập bến Hạ Môn (ngày 7 tháng 7), khởi hành đường bộ lên tỉnh thành Phúc Châu (ngày 11 tháng 8), qua các trạm dịch Giang Khẩu, huyện Tiên Du, phủ Hưng Hóa, cầu Vạn An, đến Phúc Châu và sau đó trở về lại Hạ Môn, nhổ neo về nước vào cuối tháng Chạp năm Tân Mão.
    • Diễn biến ngoại giao và xử lý tình huống: Ghi lại chi tiết thái độ ứng xử của Trần Khải; việc quan chức sở tại từ chối nguyện vọng lên tỉnh thành yết kiến Tổng đốc Mân Triết; sự việc công quán lưu trú treo biển có chữ "Di" (chữ chỉ người mọi rợ) dẫn đến phản ứng quyết liệt của Lý Văn Phức qua bài Di biện; và việc quan lại nhà Thanh yêu cầu sao lục tên nhà vua Việt Nam vào bản tấu.
  • Tư liệu về địa lý, chính trị và đời sống văn hóa Trung Hoa đầu thế kỷ XIX:
    • Địa danh và địa chí: Miêu tả cụ thể các vùng đất thuộc tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông (núi Giáp Tý, núi Hàn Tử, đảo Bạch Cáp, Nam Áo, Đồng Sơn, Hạ Môn, Bích Sơn Nham, cầu Vạn An, cầu Dược Long, núi Thường Tư, chùa Đại Sĩ, thư viện Tử Dương, điện Đại Thành).
    • Bộ máy quan chế triều Thanh: Ghi nhận hệ thống chức danh quan lại cấp tỉnh và địa phương nhà Thanh (Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính sứ, Án sát sứ, Đốc lương đạo, Tri phủ, Tri huyện, Tham quân, Thiên tổng, Thông sự).
    • Đời sống văn hóa xã hội: Phản ánh tục "kính tiếc chữ viết" (lập miếu/sở thu gom và đốt giấy có chữ viết để tỏ lòng tôn kính học vấn - Kính tích tự chỉ sở); phong tục trang phục truyền thống; hoạt động khoa cử (gặp sĩ tử đi thi hương từ trường tỉnh trở về); sinh hoạt tôn giáo, Phật giáo; và đặc biệt là cuộc tiếp xúc bang giao với sứ giả nước Lưu Cầu (Ryukyu, nay thuộc Nhật Bản) tại quán dịch đất Mân.

Chương 4: Giá trị văn chương của tác phẩm Mân hành thi thoại tập

Chương 4 phân tích các phương diện giá trị văn học của tác phẩm:

  • Giá trị nội dung tư tưởng:
    • Cảm hứng học thuật và kiến văn: Thể hiện qua nhan đề, bài tựa và các ghi chép khảo chứng về văn hóa, địa lý, di tích lịch sử nơi tác giả đi qua.
    • Ý thức trách nhiệm và lòng trung quân: Ý thức hoàn thành mệnh lệnh của vua Minh Mệnh, giữ gìn thể chế quốc gia trong mọi ứng xử bang giao nơi đất khách.
    • Ý thức tự tôn dân tộc: Thể hiện tập trung trong thiên biện luận Di biện (hoặc Di biện luận). Khi quan chức nhà Thanh bố trí đoàn Việt Nam ở công quán đề chữ "Di", Lý Văn Phức đã cự tuyệt không vào ở và viết bài biện luận đanh thép, khẳng định Việt Nam là đất nước có văn hiến, lễ nhạc, y phục, quy chế văn minh theo chuẩn mực thánh hiền Nho giáo, không thể coi là "Di". Lập luận sắc bén này đã buộc quan chức địa phương phải tháo bỏ biển chữ "Di".
    • Tình cảm quê hương và hướng về cội nguồn: Lý Văn Phức có tổ tiên 6 đời vốn ở xã Tây Hương, huyện Long Khê, phủ Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến trước khi di cư sang Thăng Long. Khi đến đất Mân, ông có ý định tìm về thăm quê tổ nhưng do công vụ ràng buộc và thời gian eo hẹp nên không thực hiện được, bèn gửi gắm tâm tư qua bài thơ Nghĩ phỏng tổ tịch vị quả (Muốn về thăm tổ tịch chẳng thành).
  • Giá trị hình thức nghệ thuật:
    • Tính "kỷ sự" của thể loại thơ văn nhật trình: Tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ và văn xuôi (thi thoại, ký, dẫn, chú thích), ghi chép tuần tự theo thời gian và lộ trình thực tế, tạo nên tính chân thực và sinh động của thể loại ký sự hành trình.
    • Tính "chuyên đối" của tập thơ văn bang giao: Chiếm tỷ lệ lớn trong thi tập là các sáng tác họa vần, thù tạc, đáp tặng giữa Lý Văn Phức (cùng hai phái viên Trần Văn Trung, Cao Hữu Dực) với các văn nhân, quan chức Trung Hoa như Lai Tham quân (Lai Tử Canh), Vương tử Hương Tuyết, Dưỡng Chu, Hoàng Tâm Trai (Tri huyện Mân huyện), Tôn Thịnh Thiều (Đồng tri phủ Hưng Hóa), Tiền Nghiên Khê, Hứa Thiếu Ngạc. Bút pháp đối đáp tài hoa, niêm luật chặt chẽ, ngôn từ trang nhã thể hiện bản lĩnh văn chương của sứ thần Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp về mặt khoa học

  1. Khảo sát toàn diện hệ thống văn bản của tác phẩm Mân hành qua 7 bản chép tay hiện có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; xác định số lượng chính xác gồm 115 đề mục/bài thơ văn xuất hiện trong toàn bộ các dị bản.
  2. Giám định văn bản học, phân tích hệ thống dị văn, chữ húy và thông tin niên đại để khẳng định văn bản mang ký hiệu VHv.2258 (Mân hành thi thoại tập) là bản tin cậy nhất (thiện bản).
  3. Làm rõ toàn bộ diễn biến lịch trình, mục đích, thành phần và các sự kiện ngoại giao của chuyến công cán năm Tân Mão (1831) do Lý Văn Phức dẫn đầu.
  4. Đánh giá toàn diện giá trị sử liệu, văn hóa và văn học của tác phẩm MHTTT, khẳng định vị trí của tác phẩm trong mảng văn học đi sứ triều Nguyễn và tiến trình văn học trung đại Việt Nam.
  5. Cung cấp bản dịch tiếng Việt hoàn chỉnh tác phẩm Mân hành thi thoại tập từ bản thiện bản VHv.2258 kèm chú thích khảo chứng công phu ở phần Phụ lục.

Đề xuất và giá trị ứng dụng

  • Luận án cung cấp tư liệu và kết quả nghiên cứu để biên soạn bài giảng cho học phần Hán văn Việt Nam từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trong chương trình đào tạo đại học và sau đại học ngành Hán Nôm, Văn học và Lịch sử.
  • Kết quả khảo cứu và bản dịch văn bản là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các công trình nghiên cứu về lịch sử ngoại giao Việt - Trung thời Nguyễn và văn hóa khu vực Đông Á.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án chỉ khảo cứu các văn bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm do các kho sách Hán Nôm khác tại Hà Nội (như Thư viện Quốc gia, Viện Văn học, Viện Sử học) qua khảo sát chưa tìm thấy dị bản của tác phẩm này.
  • Trọng tâm khảo sát chuyên sâu về nội dung và nghệ thuật được thực hiện trên bản thiện bản VHv.2258, các dị bản khác chủ yếu được khai thác ở góc độ đối chiếu thư tịch và dị văn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục tìm kiếm và mở rộng khảo sát các văn bản liên quan đến Lý Văn Phức tại các thư viện và kho lưu trữ ngoài nước (như tại Trung Quốc, Đài Loan, Pháp).
  • Đẩy mạnh nghiên cứu đối sánh tác phẩm MHTTT với các tập thơ văn đi sứ khác của Lý Văn Phức (Tây hành kiến văn kỷ lược, Việt hành ngâm, Chu Nguyên tạp vịnh, Đông hành thi thuyết) để dựng nên bức tranh toàn cảnh về sự nghiệp văn chương đi sứ của tác gia.
  • Khai thác sâu hơn các nguồn tài liệu của triều Thanh (Đạo Quang thực lục, địa phương chí tỉnh Phúc Kiến) để đối chiếu đa chiều về chuyến đi năm 1831.

Giá trị tham khảo

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Hán Nôm, Văn học Việt Nam trung đại, Lịch sử Việt Nam thời Nguyễn, Lịch sử quan hệ quốc tế và Đông phương học.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, biên soạn giáo trình chuyên đề về văn bản học Hán Nôm và văn học đi sứ.
  • Nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa: Khai thác tư liệu về thể chế bang giao, quan chế triều Thanh, hải trình cứu nạn và phong tục tập quán Trung Hoa đầu thế kỷ XIX.

Các phần có giá trị tham khảo cao

  • Chương 2 và Phụ lục 1: Bảng thống kê chi tiết 115 bài thơ văn và khảo sát dị văn bài trùng giữa 7 văn bản chép tay, cung cấp phương pháp mẫu mực về giám định và xử lý văn bản học Hán Nôm.
  • Chương 3 (mục Diễn biến ngoại giao và văn hóa): Cung cấp các cứ liệu lịch sử xác thực về chuyến đi năm 1831, tư liệu tiếp xúc với sứ giả Lưu Cầu và phong tục kính chữ.
  • Phụ lục 2: Bản phiên âm, dịch nghĩa và chú thích toàn văn tác phẩm Mân hành thi thoại tập từ bản VHv.2258 cùng bản chụp photocopy nguyên bản chữ Hán.

Câu hỏi thường gặp

1. Bối cảnh và mục đích chính của chuyến đi sang đất Mân năm 1831 của Lý Văn Phức là gì?

Năm Tân Mão (1831), vua Minh Mệnh cử một phái đoàn gồm Lý Văn Phức, Cao Hữu Dực và Trần Văn Trung đi trên thuyền Thụy Long sang đất Mân (Phúc Kiến, Trung Quốc). Mục đích chính của chuyến đi là thực hiện nghĩa cử nhân đạo: hộ tống Giám sinh nhà Thanh Trần Khải cùng gia quyến gặp bão dạt vào vùng biển Bình Định trở về quê hương; đồng thời kết hợp khảo sát tình hình vùng biển duyên hải và thúc đẩy quan hệ giao thương.

2. Dựa trên những tiêu chí nào luận án khẳng định văn bản VHv.2258 là thiện bản?

Luận án lựa chọn VHv.2258 làm thiện bản dựa trên 4 căn cứ văn bản học:

  • Là văn bản duy nhất ghi rõ thông tin niên đại sáng tác/sao chép (Minh Mệnh thập nhị niên đông nguyệt chi cát - 1831).
  • Chữ viết hành thư rõ ràng, chuẩn xác, trình bày mạch lạc giữa tiêu đề, lời dẫn, chính văn và phần chú thích.
  • Chép đầy đủ trọn vẹn 94 tác phẩm của chính Lý Văn Phức mà không bị lỗi chép sót phải bổ di như bản A.1990.
  • Lưu giữ nguyên vẹn các phần tạp ký có giá trị sử liệu ở cuối sách.

3. Sự kiện Lý Văn Phức viết bài "Di biện" diễn ra trong hoàn cảnh nào và mang ý nghĩa gì?

Khi phái đoàn Việt Nam đến tỉnh thành Phúc Kiến, quan chức sở tại đã bố trí cho đoàn lưu trú tại một công quán có đề biển chữ "Di" (chữ Hán mang hàm ý chỉ các dân tộc man di, mọi rợ bên ngoài). Lý Văn Phức kiên quyết không chịu bước vào công quán và lập tức viết thiên luận Di biện (hoặc Di biện luận) với lý lẽ chặt chẽ, dẫn chứng lịch sử và văn hóa để khẳng định Việt Nam là quốc gia văn hiến, tuân thủ đạo lý thánh hiền Nho gia, có y phục lễ nhạc quy củ, tuyệt đối không phải là "Di". Bài biện luận buộc chính quyền nhà Thanh phải gỡ bỏ tấm biển, thể hiện ý thức tự tôn dân tộc và tư cách ngoại giao của phái đoàn Việt Nam.

4. Tác phẩm Mân hành thi thoại tập cung cấp những tư liệu lịch sử - văn hóa đặc thù nào về Trung Hoa đầu thế kỷ XIX?

Tác phẩm cung cấp nhiều cứ liệu thực tế về hệ thống giao thông trạm dịch, địa danh vùng Mân Việt; cơ cấu quan chế cấp tỉnh và huyện triều Thanh; hoạt động thi cử của sĩ tử; đời sống tôn giáo; phong tục xã hội như tục "kính tiếc giấy chữ" (Kính tích tự chỉ); và đặc biệt là ghi chép chân thực về cuộc gặp gỡ, xướng họa văn chương với đoàn sứ giả nước Lưu Cầu (Okinawa ngày nay) tại Trung Hoa.


Kết luận

Luận án Nghiên cứu nhóm văn bản Mân hành của Lý Văn Phức (1785-1849) của tác giả Phan Thị Thu Hiền là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về mặt văn bản học đối với di sản văn thơ đi sứ của một tác gia Hán Nôm tiêu biểu đầu thế kỷ XIX. Bằng việc giám định 7 dị bản chép tay và xác lập bản VHv.2258 là thiện bản, luận án đã dịch thuật trọn vẹn và giải mã thành công các giá trị lịch sử, văn hóa, bang giao và văn học của tác phẩm Mân hành thi thoại tập. Công trình đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu trước tác Lý Văn Phức, bổ sung nguồn tư liệu tin cậy cho ngành Hán Nôm học, văn học trung đại và lịch sử ngoại giao Việt Nam thời Nguyễn.