CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Nhịp điệu và thanh điệu trong thơ 1. Khái niệm nhịp điệu Nhịp điệu (Rhythm) là một thuật ngữ được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, trong đó có một số lĩnh vực đặc trưng như âm nhạc, và văn học nghệ thuật. Hiện nay, chưa có một quan điểm hay định nghĩa nhất quán mang tính phổ quát về nhịp điệu nói chung trong thơ văn.
Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, các học giả quan niệm theo các khía cạnh khác nhau. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Hoàng Phê: “Nhịp điệp chính là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm cao và thấp theo các trật tự hay cách thức nhất định [28, tr. Như vậy, chúng ta có thể nhận diện được nhịp điệu thông qua những âm thanh, những chuyển động hàng ngày của cuộc sống có tính tuần hoàn, khi ta nghe tiếng kêu của kim đồng hồ quay, nghe tiếng bước chân đều đặn của đoàn quân theo tiếng nhạc, hay khi ta nghe chính nhịp đập đều đặn của trái tim. Tác giả Vũ Thị Sao Chi cho rằng, có hai vấn đề chính khi nói về nhịp điệu: “ Thứ nhất, nhịp điệu là phương thức diễn ra trong các hiện tượng của xã hội và tự nhiên theo hình thức lặp tuần hoàn, trong những chu kỳ nhất định hay một khoảng cách nhất định; Thứ hai, căn cứ vào vào cách thức tạo lập và tính chất nội dung có thể phân chia nhịp điệu thành hai loại: nhịp điệu tự nhiên và nhịp điệu nhân tạo.
Nhịp điệu tự nhiên là sự tuần hoàn đơn giản theo phản xạ tự nhiên của một số kích thích nhất định, không có ý nghĩa. Còn nhịp điệu nhân tạo được phân biệt với mức độ cao hơn. Đó là thứ nhịp điệu có ý nghĩa do con người tạo ra xuất phát từ nhu cầu nhận thức, thông tin, thẩm mỹ, muốn mô phỏng, tái tạo lại cái tự nhiên khách quan trong cách cảm nhận chủ quan” [5, tr. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, nhịp điệu là hình thức phân bố trong thời gian những chuyển động nào đó.
Nhịp điệu thể hiện tính chất đều 8 đặn của chuyển động, sự cân đối của những độ dài về thời gian hay sự luân phiên dưới dạng chuyển động âm thanh. Nhịp điệu được tạo bởi âm thanh và những khoảng lặng. Những âm thanh và sự im lặng này hợp thành đơn vị âm thanh, lặp đi lặp lại phát sinh thành nhịp điệu. Vai trò của nhịp điệu và cơ sở của cách ngắt nhịp trong thơ - Vai trò của nhịp điệu trong thơ Trong thơ, nhịp điệu có vai trò đặc biệt quan trọng, Tác giả Đinh Văn Đức nhấn mạnh: “Nhịp điệu chính là nguồn gốc của các giai điệu, tiết tấu và âm hưởng trong câu thơ, đoạn thơ.
Nó là cơ sở để phân biệt giữa văn xuôi và thơ. Một bài thơ dù làm theo kiểu nào đi nữa người ta cũng không thể bỏ qua nhịp điệu, và thơ có thể thiếu vần, nhưng thiếu nhịp điệu thì thơ không còn là thơ nữa” [17, tr. Trong công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Tác giả Hữu Đạt nhắc đến quan điểm của Maiacôpxki: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về lực hay từ điện - đó là những dạng năng lượng” [11, tr. Có thể nói, Thơ là một cấu trúc đặc biệt được đặc trưng bởi sự phụ thuộc của toàn thể các yếu tố vào nguyên tắc nhịp điệu.
Do đó, nhịp điệu là xương sống của thơ. Giữa thơ và nhịp điệu có quan hệ qua lại. Nếu như thơ đã có được một tứ thơ hay thì chỉ cần có nhịp điệu là đủ, vần luật không cần cho lắm. Tự thân cái tứ thơ hết sức nên thơ trên cơ sở nhịp điệu có thể hoán cải tất cả để đem đến cho bài thơ cái vẻ hoàn chỉnh nên thơ.
Như vậy, nhịp điệu trong thơ giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt cho thơ. Mặt khác, cùng với vần điệu và thanh điệu, nhịp điệu góp phần tạo nên giai điệu, tính nhạc cho thơ. Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau ta sẽ có các tiết tấu, cung bậc khác nhau.
Với thơ cũ, nhịp điệu câu thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các đôn vị âm luật theo sự cấu tạo của ngôn ngữ. Do vậy, thơ cũ thường ngắt nhịp 4/3. Cách ngắt nhịp này một phần do tâm lý 9 sáng tác theo khuôn mẫu, một phần để tuân thủ các quy tắc vận luật của thơ Đường. Còn các nhà thơ hiện đại như Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu.
không chỉ kế thừa cách ngắt nhịp truyền thống của thơ cổ điển mà còn có nhiều sáng tạo, cách tân các cách ngắt nhịp nhằm thực hiện dụng ý nghệ thuật và tăng thêm tính nhạc cho thơ. - Cơ sở của cách ngắt nhịp trong thơ Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, có một số cách ngắt nhịp như sau: - Ngắt nhịp dựa vào các dấu hiệu nhận dạng ngay trên bề mặt hình thức của câu thơ với các dấu câu: dấu chấm (. - Ngắt nhịp dựa vào ngữ nghĩa của một cú đoạn hoặc một ngữ đoạn trong câu thơ. Ngữ đoạn là sự kết hợp giữa từ với từ hoặc tổ hợp từ tạo thành các ngữ danh từ, động từ, tính từ, còn cú đoạn là kết cấu chủ - vị hoặc đề- thuyết.
Một nhịp tương đương với một cú đoạn hay ngữ đoạn. - Ngắt nhịp dựa vào các vế của câu so sánh. Bởi vì nhịp thơ được phân tách tương đương với một vế của câu so sánh. - Ngắt nhịp theo vế đứng trước hoặc đứng sau từ có vai trò liên kết.
- Với câu thơ có phần đảo ngữ chính là điểm nhấn nghệ thuật được đánh dấu bằng một nhịp, được sắp xếp vào nhịp đầu tiên. Các yếu tố còn lại trong câu thơ sẽ được ngắt theo những cách khác nhau tuỳ thuộc vào dụng ý nghệ thuật của tác giả. Khái niệm thanh điệu Luồng không khí từ phổi đi lên làm cho dây thanh rung động. Sự rung động của dây thanh tạo ra hiệu quả hai mặt: một mặt tạo ra các âm hữu thanh (nguyên âm và phụ âm hữu thanh), mặt khác tạo ra sự chuyển biến về cao độ của âm tiết.
Thanh điệu là thuật ngữ chỉ sự thay đổi về cao độ trong phạm vi một âm tiết. Như vậy, thanh điệu là khái niệm dùng để chỉ cao độ của một âm tiết. Cao độ này có được là do sự rung bật của dây thanh. Tùy thuộc vào sự rung 10 động đó nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, biến chuyển ra sao,… mà ta có các thanh điệu khác nhau.
Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính. Nó được biểu hiện trong toàn âm tiết, hay đúng hơn là toàn bộ phần thanh tính của âm tiết (bao gồm cả âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối). Về mặt chữ viết thanh điệu được ghi bằng các dấu: “˴” (huyền), “~” (ngã), “?” (hỏi), “/” (sắc), “. Có những âm tiết như “ta”, “tôi”, khi viết ra không có dấu, nhưng thực tế, khi phát âm vẫn có một thanh điệu.
Thanh này gọi là thanh không dấu (thanh ngang). Như vậy theo truyền thống, tiếng Việt có sáu thanh điệu. Trừ thanh không dấu còn năm thanh khác, mỗi thanh mang tên của dấu ghi thanh ấy. Sự tồn tại của sáu thanh sẽ được xác minh khi xét đến các thế đối lập âm vị học vốn được xác lập trong tiếng Việt.
Thanh điệu là đơn vị không có tính âm đoạn, nhưng có đường nét, độ cao, tồn tại trong âm tiết. Do đó, các thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ yếu là độ cao và đường nét vận động. Dựa vào hai đặc trưng đó có thể phân loại thanh điệu theo hai cách: - Dựa vào độ cao của điểm kết thúc: + Các thanh có âm vực cao: thanh ngang, ngã, sắc. + Các thanh có âm vực thấp: thanh huyền, hỏi, nặng.
Sự đối lập về âm vực này là cơ sở để cấu tạo từ láy âm. - Dựa vào âm điệu hay theo đường nét vận động: + Các thanh có đường nét bằng phẳng, gọi là thanh bằng (B): thanh ngang, huyền. + Các thanh có đường nét không bằng phẳng, gãy khúc, gọi là thanh trắc (T): thanh ngã, hỏi, sắc, nặng. Sự đối lập về âm điệu là tiền đề để xây dựng luật bằng - trắc trong thơ.
Hai mặt đối lập đó tạo nên giá trị biểu trưng của thanh điệu tiếng Việt. Những phẩm chất âm thanh trên làm cho âm tiết tiếng Việt lúc bổng lúc trầm, lúc rút ngắn lúc kéo dài dàn trải, lúc mềm mại nhẹ nhàng lúc mạnh mẽ, dứt khoát, 11 tạo hiệu quả về âm thanh khi sử dụng. Trong sáng tác văn chương, thanh điệu làm nên tính nhạc, nhất là đối với thơ. Tính nhạc và âm hưởng tạo ra từ việc phối thanh mang lại hiệu quả về nhận thức và cảm xúc lớn.
Luật phối thanh của các thể thơ có luật như lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường luật chủ yếu theo luật bằng - trắc (không chú ý nhiều đến luật cao - thấp). Giới hạn bởi thi luật song luật bằng - trắc trong thơ lục bát vẫn co giãn, không nghiêm ngặt như các thể thơ Đường luật, đặc biệt là thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đây được xem là một trong những thể thơ có niêm luật chặt chẽ, nghiêm ngặt nhất trong nền văn học thế giới. Luật phối thanh thơ thất ngôn bát cú rất phức tạp, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và trong cả bài (tiếng thứ 1, 3, 5, 7 không cần theo luật, tiếng thứ 2, 4, 6 bắt buộc phải theo luật).
Sự xen kẽ, điệp, đối bằng trắc làm cho điệu thơ cân xứng, hài hoà, nhịp nhàng và giàu tính nhạc. Đối với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ở mức độ nhất định nào đó, luật bằng trắc cùng quy định chặt chẽ về hiệp vần, đối đã dẫn đến hạn chế về cá tính sáng tạo và sự tự do thể hiện cảm xúc, rung động của người nghệ sĩ. Đặc điểm của thanh điệu trong thơ Trong các thể thơ truyền thống, thanh điệu phân bố có quy luật: - Âm tiết gieo vần của dòng thơ trên với âm tiết gieo vần của dòng thơ dưới phải cùng một âm vực. - Nếu trong một dòng thơ có hai âm tiết gieo vần, một âm tiết gieo vần với dòng thơ trên và một âm tiết gieo vần với dòng thơ dưới thì hai âm tiết ấy không nhất thiết phải cùng âm điệu.
Nếu cùng một âm điệu thì phải trái nhau về âm vực.