Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi gia súc nhai lại, đặc biệt là trâu bò, giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, cung cấp nguồn thực phẩm, phân bón và sức cày kéo. Tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang – một địa bàn miền núi có gần 85% dân số làm nông nghiệp với địa hình đồi núi xen kẽ thung lũng phức tạp – đàn trâu bò đã có sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, góp phần cải thiện sinh kế của các hộ nông hộ. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng mật độ vật nuôi, các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng đường máu tiếp tục lưu hành và gây tổn thất kinh tế. Trong đó, bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) do ký sinh trùng đơn bào Trypanosoma evansi gây ra – dân gian gọi là bệnh ngã nước – là một trong những bệnh ký sinh trùng gây tổn thất nghiêm trọng.
Bệnh thể cấp tính khiến gia súc sốt cao 41 – 41,7°C, có triệu chứng rối loạn thần kinh (ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn) và tử vong sau 7 – 15 ngày. Ở thể mãn tính kéo dài 1 – 2 tháng, con vật suy nhược, thiếu máu, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu rồi chuyển sang vàng nhạt, tiêu chảy lẫn máu và xuất hiện các ổ thủy thũng keo ở vùng thấp (hầu, ức, nách, háng), dẫn đến kiệt sức. Xuất phát từ yêu cầu kiểm soát dịch bệnh bảo vệ đàn vật nuôi miền núi, khóa luận tốt nghiệp ngành Chăn nuôi Thú y của tác giả Lã Trọng Điệp tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2014) được triển khai nhằm xác định đặc điểm dịch tễ và đánh giá hiệu lực của các biện pháp điều trị.
Khóa luận xác định ba nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định được các loài Trypanosoma gây bệnh và các đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở đàn trâu tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn trâu nuôi tại nông hộ và các trang trại gia đình; ký sinh trùng Trypanosoma evansi phân lập từ trâu bệnh; chuột bạch thí nghiệm khỏe mạnh (trọng lượng 18 – 20 g/con) dùng để nhân giống ký sinh trùng và thử nghiệm dược lý.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa thu thập mẫu máu tại 3 xã thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang gồm Tân Trào, Bình Yên và Kháng Nhật. Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được thực hiện tại Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập mẫu và triển khai thực nghiệm từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/05/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt phân loại học, đề tài dựa trên hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) của Levine và cộng sự (1980): loài Trypanosoma evansi thuộc giống Trypanosoma, họ Trypanosomatidae, phân bộ Trypanosomatorida, bộ Kinetoplastorida, lớp Zoomastigophorasida, phân ngành Mastigophora, ngành Sarcomastigophora. Ký sinh trùng có kích thước hiển vi 18 – 34 µm chiều dài (trung bình 25 µm), rộng 1,5 – 2 µm, hình suốt chỉ mảnh với roi tự do ở đầu trước nối màng rung chạy dọc thân. Lớp vỏ ngoài cùng cấu tạo bởi các phân tử glycoprotein bề mặt biến đổi (Variant Surface Glycoprotein - VSG) với hàng trăm đến hàng nghìn biến thể kháng nguyên (Variable Antigen Type - VAT), bên cạnh các glycoprotein bề mặt không biến đổi (Invariant Surface Glycoprotein - ISG như ISG 65, ISG 75, ISG 100). Hiện tượng biến đổi liên tục của VSG cho phép ký sinh trùng trốn thoát đáp ứng miễn dịch của vật chủ, hình thành các đợt sốt hồi quy dạng sóng chu kỳ 10 – 12 ngày. Bệnh lây truyền cơ học qua vòi hút máu của các loài ruồi hút máu (họ phụ Stomoxydinae: Stomoxys calcitrans, Liperosis exigua) và mòng hút máu (họ Tabanidae: Tabanus rubidus, Tabanus striatus).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được thiết kế kết hợp giữa điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang và thực nghiệm dược lý so sánh:
-
Phương pháp chọn mẫu dịch tễ: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng theo lứa tuổi. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức dịch tễ học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1991):
$$n = \frac{(Z_{1-\alpha/2})^2 \times p(1-p)}{d^2}$$
với hệ số tin cậy 95% ($Z = 1,96$), độ chính xác mong muốn $d < 0,05$. Tổng số mẫu máu tĩnh mạch cổ thu thập được là 167 mẫu trên đàn trâu tại 3 xã thuộc địa bàn nghiên cứu.
-
Phương pháp xét nghiệm phát hiện ký sinh trùng:
- Phương pháp soi tươi (Direct smear): Lấy 1 giọt máu trộn với 1 giọt dung dịch chống đông EDTA 1% hoặc Natri citrat 3,8% trên phiến kính, đậy lamen, quan sát chuyển động xoay và di chuyển của T. evansi dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại $10 \times 20$ và $10 \times 40$.
- Phương pháp nhuộm Giemsa giọt mỏng: Cố định tiêu bản máu khô bằng cồn Methanol trong 2 phút, nhuộm bằng dung dịch Giemsa (tỷ lệ 1 giọt dung dịch mẹ trong 1 ml dung dịch đệm PBS pH = 7,2 hoặc nước cất tỷ lệ 1:9) trong 25 phút, soi ở độ phóng đại $10 \times 90$ hoặc $10 \times 100$ có dầu bạch dương để nhận diện hình thái ký sinh trùng (nguyên sinh chất bắt màu xanh lơ hoặc tím, nhân và thể cơ động bắt màu sẫm).
- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm: Tiêm phúc mạc cho chuột bạch 0,2 ml máu trâu tươi không dùng chất chống đông, theo dõi hàng ngày và trích máu đuôi soi tươi để khẳng định kết quả nhiễm và nhân giống ký sinh trùng.
-
Phương pháp thử nghiệm dược lý trên chuột bạch: Bố trí thí nghiệm trên 160 chuột bạch được gây nhiễm T. evansi (mật độ 80 – 100 ký sinh trùng/vi trường sau 3 ngày tiêm truyền), phân thành các lô thí nghiệm và lô đối chứng để kiểm tra tính mẫn cảm với 4 chế phẩm thuốc thú y: Trypamidium samorin (Merial - Pháp), Trypanosoma (Hanvet), Berenil (Intervet) và Phar-Trypazen (Pharmavet). Mỗi loại thuốc được khảo nghiệm ở 3 mức liều (thấp hơn, bằng và cao hơn liều khuyến cáo của nhà sản xuất). Theo dõi tỷ lệ sống, tỷ lệ sạch ký sinh trùng và tỷ lệ tái phát tại các mốc thời gian 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 10 ngày, 15 ngày, 20 ngày và 30 ngày. Số liệu được tổng hợp và phân tích bằng các công cụ thống kê sinh học trên phần mềm Excel 2003.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu trình bày tính cấp thiết của công tác thú y tại huyện miền núi Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tác giả chỉ rõ mối nguy hại kinh tế của bệnh tiên mao trùng đối với sức cày kéo và khả năng sinh sản của đàn trâu. Chương này xác định rõ mục tiêu kép gồm nghiên cứu dịch tễ học mô tả và thực nghiệm dược lý, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu thú y miền núi và ý nghĩa thực tiễn trong công tác khuyến nông, xây dựng biện pháp phòng trị bệnh ngã nước tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa cơ sở lý luận về bệnh tiên mao trùng thông qua 5 cụm nội dung:
- Phân loại học, hình thái đơn bào và cơ chế biến đổi kháng nguyên bề mặt VSG né tránh miễn dịch vật chủ.
- Dịch tễ học bệnh trên phạm vi thế giới và các vùng sinh thái tại Việt Nam, vòng đời và vai trò truyền lây cơ học của các loài mòng (Tabanus) và ruồi hút máu (Stomoxys).
- Cơ chế sinh bệnh học và bệnh lý: Tác động của độc tố Trypanotoxin gây hoại tử tế bào gan, suy tủy xương ức chế sản sinh hồng cầu (số lượng hồng cầu giảm xuống 3 triệu/mm³), phù thũng tích dịch xoang tim, xoang bụng và biến đổi bệnh tích đại thể khi mổ khám.
- Các phương pháp chẩn đoán lâm sàng và phi lâm sàng: So sánh kỹ thuật trực tiếp (soi tươi, giemsa, ly tâm ống Haematocrit theo kỹ thuật Woo, tiêm truyền động vật) với các kỹ thuật huyết thanh học gián tiếp (SAT, LATEX, CATT, IFAT, ELISA) và sinh học phân tử (PCR).
- Lịch sử các nhóm hóa dược điều trị và phòng bệnh qua các thời kỳ: Naganin, Novarsenobenzol, Trypamidium, Berenyl, Trypazen và Cymelarsan.
Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này quy định chuẩn hóa các tiêu chuẩn nghiên cứu:
- Vật liệu sinh học và hóa chất: Chuột bạch khỏe mạnh (18 – 20 g), máu tĩnh mạch cổ trâu, dung dịch EDTA 1%, formol 10%, methanol, thuốc nhuộm Giemsa; các thuốc đặc trị gồm Trypamidium samorin (125 mg Isometamidium Chloride Hypochloride), Trypanosoma (125 mg Chlorhydrat chlorur isometamidium), Berenil (Diminazene aceturate kết hợp Antipyrine), Phar-Trypazen (Diminazene diaceturate); thuốc trợ tim (Cafein Natri Benzoat 20%) và trợ lực (Vitamin C 5%, B1 2,5%).
- Quy chuẩn dịch tễ: Phân chia 4 nhóm tuổi trâu khảo sát ($\le 2$ tuổi; $>2 - 5$ tuổi; $>5 - 8$ tuổi; $>8$ tuổi) và theo dõi biến động tỷ lệ nhiễm trong các tháng 1, 2, 3, 4 và 5 năm 2014.
- Thiết kế thử nghiệm độ mẫn cảm thuốc: Mô hình thực nghiệm 160 chuột/4 loại thuốc với 3 dải liều điều trị, kèm quy trình theo dõi sạch ký sinh trùng máu qua kính hiển vi.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương trình bày toàn bộ số liệu khảo sát và thực nghiệm:
- Tỷ lệ nhiễm T. evansi trên 167 con trâu tại 3 xã (Tân Trào, Bình Yên, Kháng Nhật) kèm phân tích tương quan dịch tễ theo tuổi, giới tính và mùa vụ đầu năm 2014.
- Kết quả thực nghiệm kiểm tra độ mẫn cảm của T. evansi trên chuột bạch với thuốc Trypamidium samorin và thuốc Trypanosoma ở các liều 0,8 mg/kg; 1,0 mg/kg và 1,2 mg/kg thể trọng (TT), ghi nhận thời gian sạch ký sinh trùng và tỷ lệ tái phát sau 15 đến 30 ngày.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã thu thập và kiểm tra 167 mẫu máu trâu tại 3 xã thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang bằng phương pháp soi tươi và tiêm truyền chuột bạch, ghi nhận tỷ lệ nhiễm chung là 11,38% (19/167 con).
| Chỉ tiêu phân loại |
Phân nhóm khảo sát |
Số trâu kiểm tra (con) |
Số mẫu dương tính (con) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
| Theo địa bàn xã |
Tân Trào |
23 |
4 |
17,39 |
|
Bình Yên |
75 |
8 |
10,67 |
|
Kháng Nhật |
69 |
7 |
10,14 |
| Theo lứa tuổi |
$\le 2$ năm tuổi |
38 |
3 |
7,89 |
|
$> 2 - 5$ năm tuổi |
43 |
5 |
11,63 |
|
$> 5 - 8$ năm tuổi |
56 |
6 |
10,71 |
|
$> 8$ năm tuổi |
30 |
5 |
16,67 |
| Theo tính biệt |
Đực |
93 |
10 |
10,75 |
|
Cái |
74 |
9 |
12,16 |
| Theo tháng (2014) |
Tháng 1 |
23 |
2 |
8,70 |
|
Tháng 2 |
35 |
3 |
8,57 |
|
Tháng 3 |
41 |
5 |
12,20 |
|
Tháng 4 |
40 |
5 |
12,50 |
|
Tháng 5 |
28 |
4 |
14,29 |
| Tổng số chung |
|
167 |
19 |
11,38 |
Dẫn liệu dịch tễ phản ánh các đặc tính:
- Về địa bàn: Xã Tân Trào có tỷ lệ nhiễm cao nhất (17,39%), trong khi Bình Yên (10,67%) và Kháng Nhật (10,14%) thấp hơn do vị trí địa lý, tập quán chăn thả tự do tại các vùng đồi rậm rạp làm tăng tần suất tiếp xúc với côn trùng hút máu.
- Về lứa tuổi: Trâu $> 8$ năm tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (16,67%), thấp nhất ở trâu $\le 2$ tuổi (7,89%). Nguyên nhân do trâu già sức đề kháng suy giảm và phải lao tác cày kéo nặng, trong khi nghé non dưới 2 tuổi được nuôi dưỡng tốt hơn và hưởng kháng thể thụ động từ sữa mẹ.
- Về tính biệt: Trâu cái nhiễm cao hơn trâu đực (12,16% so với 10,75%) do phải kiêm nhiệm cả chức năng sinh sản và lao tác, chế độ bồi dưỡng chưa đáp ứng làm giảm sức đề kháng.
- Về thời gian: Tỷ lệ nhiễm tăng dần từ tháng 1 (8,70%) đến tháng 5 (14,29%), do thời tiết chuyển sang hè nóng ẩm mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho ruồi mòng sinh sôi truyền bệnh.
Kết quả thử nghiệm độ mẫn cảm của ký sinh trùng với hóa dược trên chuột bạch được ghi nhận như sau:
| Thuốc thử nghiệm |
Liều dùng (mg/kg TT) |
Kết quả sau 72 giờ |
Kết quả sau 15 ngày |
Tái phát sau 20 – 30 ngày |
Đánh giá hiệu lực |
| Trypamidium samorin |
0 (Đối chứng) |
0/10 sạch TMT, 10/10 chết |
10/10 chết |
- |
Không hiệu lực |
|
0,8 (Thấp) |
3/10 sạch TMT, 7/10 chết |
3/10 sạch TMT, 7/10 chết |
2/3 chuột tái phát |
Hiệu lực thấp |
|
1,0 (Khuyến cáo) |
10/10 sạch TMT, 0/10 chết |
10/10 sạch TMT, 0/10 chết |
0/10 chuột tái phát |
Hiệu lực rất cao |
|
1,2 (Cao) |
10/10 sạch TMT, 0/10 chết |
10/10 sạch TMT, 0/10 chết |
0/10 chuột tái phát |
Hiệu lực rất cao |
| Trypanosoma |
0 (Đối chứng) |
0/10 sạch TMT, 10/10 chết |
10/10 chết |
- |
Không hiệu lực |
|
0,8 (Thấp) |
0/10 sạch TMT, 9/10 chết |
0/10 sạch TMT, 10/10 chết |
- |
Không hiệu lực |
|
1,0 (Khuyến cáo) |
3/10 sạch TMT, 6/10 chết |
1/10 sạch TMT, 9/10 chết |
0/1 chuột tái phát |
Hiệu lực rất thấp |
|
1,2 (Cao) |
5/10 sạch TMT, 5/10 chết |
3/10 sạch TMT, 7/10 chết |
2/3 chuột tái phát |
Hiệu lực thấp, tái phát |
Từ kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất giải pháp kiểm soát:
- Sử dụng Trypamidium samorin ở liều khuyến cáo 1,0 mg/kg TT để điều trị tiêm bắp sâu, kết hợp thuốc trợ tim Cafein Natri Benzoat 20% và thuốc trợ sức Vitamin C, B1.
- Định kỳ vệ sinh chuồng trại, phát quang bụi rậm quanh bãi chăn, lắp lưới chắn côn trùng tại chuồng nuôi để triệt tiêu véc-tơ truyền bệnh là ruồi hút máu và mòng.
- Bổ sung dinh dưỡng, dự trữ thức ăn thô xanh trong mùa đông lạnh và bố trí chế độ làm việc hợp lý cho trâu cái mang thai và trâu già.
Đóng góp của khóa luận là đã cung cấp các số liệu dịch tễ học thực địa đầu tiên về tỷ lệ nhiễm T. evansi trên đàn trâu tại huyện Sơn Dương năm 2014, đồng thời chứng minh trên thực nghiệm tình trạng suy giảm hiệu lực điều trị của chế phẩm Trypanosoma (Hanvet) so với chế phẩm ngoại nhập Trypamidium samorin (Merial).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi của một đồ án tốt nghiệp đại học:
- Khung thời gian theo dõi dịch tễ chỉ gói gọn trong 5 tháng đầu năm (tháng 1 đến tháng 5/2014), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ 12 tháng, đặc biệt là giai đoạn cao điểm mùa mưa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 – thời điểm mật độ ruồi mòng đạt đỉnh theo quy luật sinh thái.
- Phạm vi khảo sát thực địa dừng lại ở 3 xã (Tân Trào, Bình Yên, Kháng Nhật) với 167 mẫu máu, chưa phản ánh toàn diện hiện trạng nhiễm bệnh của toàn bộ các xã trên địa bàn huyện Sơn Dương.
- Kỹ thuật chẩn đoán mới chỉ áp dụng phương pháp soi tươi, nhuộm Giemsa và tiêm truyền chuột bạch; chưa có điều kiện ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR hoặc huyết thanh học như ELISA, CATT để phát hiện các cá thể mang mầm bệnh ở thể ẩn tính hoặc mật độ ký sinh trùng máu thấp.
- Số liệu thử nghiệm điều trị mới chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm trên chuột bạch đối với hai chế phẩm Trypamidium samorin và Trypanosoma; kết quả triển khai thực tế trên diện hẹp và diện rộng ở trâu chưa được trình bày đầy đủ chi tiết trong bản báo cáo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ quanh năm trên quy mô toàn huyện và ứng dụng kỹ thuật PCR nhằm xác định chính xác tỷ lệ nhiễm thể ẩn tính.
- Tiếp tục thử nghiệm lâm sàng phác đồ phối hợp Trypamidium samorin kết hợp thuốc trợ sức trên đàn trâu mắc bệnh tự nhiên tại các nông hộ để hoàn thiện quy trình điều trị tại thực địa.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lã Trọng Điệp là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú y và Bác sĩ Thú y trong việc tìm hiểu quy trình chẩn đoán ký sinh trùng đường máu, đặc biệt là kỹ thuật tiêm truyền chuột bạch để khẳng định và bảo tồn chủng đơn bào Trypanosoma evansi.
- Cán bộ thú y tuyến huyện, trạm khuyến nông và mạng lưới thú y cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về độ nhạy cảm và hiệu lực thực tế của các loại hóa dược thương phẩm lưu hành trên thị trường, giúp định hướng chọn lọc thuốc điều trị đặc hiệu thay vì sử dụng các loại thuốc đã có dấu hiệu nhờn thuốc hoặc hiệu lực kém.
- Các nghiên cứu sinh, học viên cao học làm đề tài về ký sinh trùng học thú y: Tham khảo phương pháp thiết kế mẫu dịch tễ học theo tiêu chuẩn WHO và mô hình thử nghiệm mẫn cảm thuốc trên động vật thí nghiệm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng chung ở đàn trâu huyện Sơn Dương được tác giả ghi nhận là bao nhiêu và phân bố giữa các xã như thế nào?
Khóa luận ghi nhận tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng chung là 11,38% (19/167 mẫu trâu kiểm tra dương tính). Tỷ lệ nhiễm phân bố không đều giữa 3 xã khảo sát: xã Tân Trào có tỷ lệ cao nhất với 17,39% (4/23 con), tiếp theo là xã Bình Yên đạt 10,67% (8/75 con) và xã Kháng Nhật có tỷ lệ thấp nhất là 10,14% (7/69 con).
2. Lứa tuổi và tính biệt của trâu có mối liên hệ như thế nào đối với tỷ lệ nhiễm Trypanosoma evansi?
Tỷ lệ nhiễm có xu hướng tăng dần theo độ tuổi: trâu trên 8 tuổi nhiễm cao nhất với 16,67% (5/30 con), tiếp đến là nhóm $> 2 - 5$ tuổi (11,63%), nhóm $> 5 - 8$ tuổi (10,71%), và thấp nhất ở nhóm $\le 2$ tuổi với 7,89% (3/38 con). Về tính biệt, trâu cái có tỷ lệ nhiễm 12,16% (9/74 con), cao hơn so với trâu đực là 10,75% (10/93 con).
3. Tại sao tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng lại tăng cao nhất vào tháng 5 trong các tháng khảo sát?
Tỷ lệ nhiễm tăng dần qua các tháng: tháng 1 (8,70%), tháng 2 (8,57%), tháng 3 (12,20%), tháng 4 (12,50%) và đạt đỉnh ở tháng 5 (14,29%). Nguyên nhân là do tháng 5 chuyển mùa sang hè, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều, tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho quần thể côn trùng môi giới (ruồi hút máu và mòng) phát triển mạnh mẽ và đốt hút máu truyền bệnh.
4. Kết quả thử nghiệm hiệu lực của thuốc Trypamidium samorin và thuốc Trypanosoma trên chuột bạch khác nhau như thế nào?
Thuốc Trypamidium samorin thể hiện hiệu lực điều trị rất cao: ở liều khuyến cáo (1,0 mg/kg TT) và liều cao (1,2 mg/kg TT), 100% chuột (10/10) sạch ký sinh trùng sau 72 giờ, không có chuột nào chết sau 15 ngày và không ghi nhận tái phát sau 20 – 30 ngày. Ngược lại, thuốc Trypanosoma có hiệu lực rất thấp: ở liều khuyến cáo (1,0 mg/kg TT), sau 15 ngày có tới 9/10 chuột chết và chỉ 1/10 chuột sạch ký sinh trùng; ở liều cao (1,2 mg/kg TT), có 7/10 chuột chết và 2/3 số chuột còn lại tái phát bệnh sau 20 – 30 ngày.
5. Khóa luận sử dụng các phương pháp nào để phát hiện và khẳng định ký sinh trùng T. evansi trong máu trâu?
Tác giả sử dụng phương pháp soi tươi giọt máu với dung dịch EDTA 1% để quan sát chuyển động của ký sinh trùng sống ở độ phóng đại $10 \times 20$ và $10 \times 40$, phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu mỏng để quan sát hình thái ở độ phóng đại $10 \times 90$ hoặc $10 \times 100$, và phương pháp tiêm truyền phúc mạc 0,2 ml máu tươi cho chuột bạch thí nghiệm để nhân giống và kiểm tra ký sinh trùng hàng ngày qua máu đuôi chuột.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lã Trọng Điệp đã xác định được thực trạng nhiễm bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra trên đàn trâu tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm chung là 11,38%, trong đó tỷ lệ nhiễm tăng cao ở nhóm trâu già trên 8 tuổi, trâu cái và vào thời điểm thời tiết chuyển hè (tháng 5). Nghiên cứu thực nghiệm dược lý trên chuột bạch đã chứng minh chế phẩm Trypamidium samorin đạt hiệu lực sạch ký sinh trùng 100% ở liều khuyến cáo 1,0 mg/kg TT, trong khi chế phẩm Trypanosoma cho hiệu lực diệt ký sinh trùng thấp và tỷ lệ chết cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học để ngành thú y địa phương khuyến cáo người chăn nuôi lựa chọn đúng loại hóa dược đặc trị và chủ động thực hiện các biện pháp vệ sinh chuồng trại nhằm kiểm soát bệnh tiên mao trùng.