Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống, thịt lợn chiếm 70% tổng các loại thịt. Chăn nuôi lợn đã mang lại lợi ích đáng kể cho ngƣời chăn nuôi, tuy nhiên dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và việc điều trị cũng khó khăn hơn trong đó có bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản sau khi sinh. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái gây tổn thƣơng đƣờng sinh dục sau khi sinh, ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dƣỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản ở lợn nái.
Nhằm hạn chế bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lƣu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội và phác đồ điều trị”. Mục đích của đề tài - Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái. - Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh. Mục tiêu của đề tài - Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh.
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá đƣợc sự ảnh hƣởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn mẹ. e 2 - Hiểu đƣợc tình hình chăn nuôi và cách phòng trị bệnh để áp dụng vào thực tiễn sản xuất.
Ý nghĩa thực tiễn - Học hỏi kinh nghiệm, kiến thức chăn nuôi một cách hợp lý để bổ sung thêm kiến thức cho mình. - Vận dụng kiến thức đã học vào công tác sản xuất và phòng trị bệnh cho chăn nuôi tại địa phƣơng. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cấu tạo giải phẫu, sinh lý cơ quan sinh dục cái Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong. Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát đƣợc. Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình.
Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy đƣợc nhƣng bằng phƣơng pháp gián tiếp ngƣời ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng. Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau. * Âm môn (vulva): Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dƣới hậu môn. Bên ngoài có hai môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi.
* Âm vật (clitoris): Âm vật của con cái đƣợc cấu tạo giống nhƣ dƣơng vật của con đực đƣợc thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dƣới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh. * Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh, phía trƣớc là âm đạo.
Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hƣớng quay về âm vật. e 4 * Âm đạo (vagina): Âm đạo là một ống tròn, trƣớc là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh. Âm đạo đƣợc cấu tạo bởi ba lớp: Lớp liên kết bên ngoài.
Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung. Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thƣợng bì gấp nếp dọc. Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung. Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], âm đạo của lợn dài 10 - 12cm.
* Tử cung (uterus): Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung. Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lƣợc với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai. Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm. Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung.
Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc. Sừng tử cung: sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo nhƣ ruột non dài 0,5 - 1m. Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung. * Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng.
Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngƣợc nhau. Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng. Trứng đƣợc vận e 5 chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh và phân chia của phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày.
Trên đƣờng di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng. Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm, đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng. * Buồng trứng: Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5cm, khối lƣợng khoảng 3 - 5g (Đặng Quang Nam và cs, (2002) [13]). Cấu tạo: phía ngoài đƣợc bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền.
Miền vỏ và miền tủy đều đƣợc cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp đệm (Stromaovaris). Ở miền tủy có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã có khoảng 60. Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau.
Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tƣơng đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trƣởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng. Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu có hình dẹt sau có hình trụ. Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trƣởng đã hình thành. Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng.
Theo Nguyễn Hữu Nam (2005) [14], thể vàng tiết ra progesteron, khối lƣợng thể vàng và hàm lƣợng progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tƣơng e 6 đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không đƣợc thụ tinh. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái * Sự thành thục về tính: Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thƣờng sớm hơn, nên ngƣời ta thƣờng bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ. Sự thành thục về tính đƣợc nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh.
Đầu tiên hai mép âm môn sƣng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính. Tƣơng ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hƣng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì. Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch. Tuổi đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4 - 5 tháng tuổi nhƣng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu là 11 - 12 tháng tuổi.
* Chu kỳ tính: Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục đƣợc biểu hiện ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu. Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tƣợng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng e 7 trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dƣới sự điều khiển của thần kinh trung ƣơng, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng. Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc đƣợc thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không đƣợc thụ tinh, sau đó nó teo đi dƣới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không đƣợc cung cấp chất dinh dƣỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lƣợng progesteron giảm, lúc này FSH và LH đƣợc giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo. Một chu kỳ động dục đƣợc tính từ lần thải trứng trƣớc đến lần thải trứng sau.