Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tên gọi Bệnh LMLM được gọi bằng một số tên như: Foot and mouth disease (FMD, Anh), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam). Căn bệnh Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) do một virus có kích thước nhỏ thuộc họ Piconarviridae gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm.
Bệnh có biểu hiện gia súc bị sốt cao, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da, vùng da mỏng, kẽ móng, trên núm vú của gia súc cái thuộc loài guốc chẵn (cả gia súc và động vật hoang dã đều mắc) (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [16]. Bệnh gây ra do bởi 7 type virus: A, O, C, ASIA1, SAT 1, SAT 2, SAT 3 với hơn 65 phân type. Ở khu vực Đông Nam Á thường thấy 3 type là: O, A, ASIA1. (Nguyễn Thị Kim Lan, 2015) [22] Bệnh LMLM có tính chất của đại dịch, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xảy ra trên diện rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước khác nhau.
Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp. Theo số liệu của OIE bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và giảm 25% năng suất lông ở cừu. Virus LMLM có thể gây ra các ổ dịch rộng lớn, tỉ lệ mắc bệnh cao gần như 100% và bệnh có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [21]; (Đào Trọng Đạt, 2000) [17]. Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE xếp vị trí số một của bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm ở động vật) và bắt buộc các thành viên phải khai báo.
Các nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu động vật mắc bệnh đó và sản phẩm của chúng sang các nước khác (trích dẫn từ Sổ tay dịch bệnh động vật, 2002) [30]. Lịch sử bệnh Bệnh LMLM ở bò lần đầu tiên được Fracastorius mô tả vào năm 1514 tại Italy, nhưng sau đó gần 400 năm (vào năm 1897) các tác giả Loeffler và Frosch mới n 4 chứng minh được tác nhân gây bệnh LMLM. Sau đó, vào các năm 1920, 3 serotype điển hình (O, A và C) của vi rút LMLM được các tác giả Vallee và Carre phát hiện tại Pháp và Waldmann phát hiện tại Đức. Sau đó, vào những năm 1940-1950, các serotype khác gồm SAT1-3 và Asia1 được Pirbright, Vương Quốc Anh công nhận (Bộ NN và PTNT, 2016) [3].
Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu chủ yếu mô tả triệu chứng (Trần Thanh Phong, 1996) [25]. Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được virus gây bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [27]. Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với virus. Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và type A).
Năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra virus type C. Sau đó Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện (Merial Ltd. Pibright, Anh quốc, 2003) [24]. Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1978 [27] từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên Thế giới.
Ở Châu Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm 1953. Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950-1951 rồi sang Ecuador năm 1956. Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi. Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954.
Theo ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952). Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông. Từ năm 1926 đến năm 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành. Trong 3 năm (1937 - 1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo Vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi AL2(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc.
Có thể coi đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu. Năm 1947, Frenkel đã cho ra đời loại vắc xin cải tiến, nuôi cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi là vắc xin Frenkel. Loại vắc xin này nhanh chóng được sử dụng tại Hà Lan, Pháp và n 5 Đức. Sau đó nhiều phương pháp nghiên cứu nuôi cấy virus đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế vắc xin (Đào Trọng Đạt, 2000) [17].
Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh được nhanh chóng. Vắc xin được sản xuất với chất lượng cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế hoặc thanh toán bệnh thành công. Hiện có 59 nước trên thế giới được OIE công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM (OIE, 2005) [66]. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới Bệnh LMLM đã xuất hiện ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh và Châu Âu.
Điển hình là trong những năm 1981-1985, dịch xuất hiện ở 80 nước, gây nên tổn thất lớn cho nền kinh tế của những nước này (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]. Năm 1985, dịch LMLM do virus thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp (Donaldson,A. Cùng thời gian này, ở Châu Á dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do virus type Asia 1. Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984 - 1985).
Virus type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này. Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do virus thuộc 3 type SAT1, SAT2 và SAT3 gây ra (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [16]. Những năm 1990, ở Châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và Hy Lạp. Năm 1996 có 2 ổ dịch ở Thổ nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp.
Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh. Ở Châu Phi, vào thập niên 90, virus LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, UgADNa, Tanzania, Malawi và Kenia. Năm 1999 ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia. Virus LMLM type SAT 2 lưu hành ở UgADNa, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia (Kitching et al, 2002) [59].
Ở Châu Á, dịch LMLM do virus type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan. Tại Malaysia không công bố dịch từ năm 1998 nhưng trong thực tế 2 type virus O và Asia 1 vẫn lưu hành (không gửi bệnh phẩm đến WRL). Hai ổ dịch địa phương tại Đài loan và Philippines (đảo Luzon) đều do virus type O gây ra. Tại Trung Quốc dịch xảy ra ở Vân Nam nhưng không có thông tin về type virus (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1].
n 6 Tại châu Âu năm 2001 dịch đầu tiên xảy ra ở Anh, sau đó lan ra Pháp, Hà Lan, Ai Len qua con đường vận chuyển gia súc (Bộ NN và PTNT, 2016) [3]. Tính đến cuối tháng 4/2001 Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ. Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Tính đến tháng 7/2001 có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [27].
Từ năm 2000 - 2004 có 23 nước ở châu Á và châu Phi gửi mẫu đến WRL. Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2 có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype (Alexandersen, S. Năm 2004 Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Các virus phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác.
Virus nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME - SA (chủng Pan- Asia). Virus type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 (OIE manual, 2000) [65]. Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM. Cũng trong năm này FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type O vẫn chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (OIE, 2005) [66].
Trong năm 2009, 59 nước đã báo cáo có dịch LMLM ở cả Châu Âu và Châu Á (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1]. Trong năm 2010, có tổng cộng 716 ổ dịch LMLM xảy ra trên 21 quốc gia thuộc châu Phi và châu Á. Trong số 716 ổ dịch này, chủ yếu là nhiễm virus LMLM serotype O (93%), mỗi loại serotype A, Asia và SAT2 chỉ chiếm 2% và thấp nhất là serotype SAT1 với 1% (OIE, 2005) [66]. Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định virus LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và subtype virus LMLM trên thế giới như sau (hình 1.
- Châu Âu: Những ổ dịch do virus type O và A có subtype A Iran/96 ở Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. - Châu Phi: Những ổ dịch do type O gây ra vùng Đông Bắc của lục địa (Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi, n 7 SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía Nam châu Phi (Samuel et al, 2001) [73].